Cà Phê Triết Học 03

"Sóng vịn gió đùa cơn biến dịch,
Bờ tồn lưu trông bến mịt mùng khơi.
Parménide khát khao tìm hữu thể,
Héraclite cười hữu hữu vô vô.

Nietzsche nổi giận kêu đòi cuộc đảo lộn,
Trận cuồng phong dối trá lộ nguyên hình.
Nào danh tiếng nào vinh quang lợi lộc,
Nào lũ nhỏ nhen khoác áo quan thầy."...

(Nguyễn Đắc Kiên, Đảo Giá Trị)

Trong cuộc hiện sinh, con người bị nhào nặn, tô vẽ, chà xát và va đập theo nguyên lý xã hội. Chỉ khi nào đạo đức thắng cuộc, sự chết mới không đắng cay, và xã hội không hẳn là bể khổ. Nhưng, hiện sinh vô thần cho rằng cuộc đời con người là phi lý, bế tắc; sống con người là một chuỗi đau khổ và cuối cùng là cái chết. Con người không có khả năng để giải thích những tồn tại của thế giới xung quanh. Sự vật cứ trơ trơ ra. Còn con người là sinh vật có ý thức, hắn thấy những khoảng trống, những phi lý, nhưng không thể giải thích, không thể biện minh được; con người là sinh vật duy nhất chứa đựng hư vô trong bản thân và đó là bi kịch thê thảm nhất của con người. Con người dùng hành động để đạt những sở nguyện của mình. Tuy nhiên càng có nhiều càng chán ngán, càng thấy mình có nhiều càng tham vọng, càng thấy tham vọng hão huyền, không thể nào thực hiện được, nhưng con người cũng không thể nào không có tham vọng đó: thành thử bản tính con người là chạy theo những dự phóng và những dự phóng cứ càng ngày càng biến xa.

Albert Camus (1913-1960) cho rằng cuộc đời là vô nghĩa và phi lý vì chẳng đi đến đâu. Cuộc sống con người đầy mâu thuẫn và mâu thuẫn ngay cả trong chính bản thân mình. Cuộc sống vô nghĩa như thế, thì chỉ có tự tử là điều hợp lý và đúng đắn nhất. Nhưng trong thực tế Camus lại không giải quyết theo cách đó mà chủ trương phải sống, phải chiến đấu, phải ra sức mang lại một chút ý nghĩa, một chút ánh sáng cho cái thế giới vô nghĩa này. Thái độ của ông trước cái chết tuy anh hùng nhưng vẫn là tuyệt vọng.

Không phải bất cứ con người nào, bất cứ ai cũng có thể vươn tới cấp tự do hiện sinh, thoát ra khỏi ràng buộc dằn vặt khổ ải kiếp nhân sinh. Từ cấp sự vật đến cấp hiện sinh nhân vị, đạt tới tự do thuần thực, con người luôn cần đến sự "thoát xác" nhiều lần, có thể gọi đó là sự vượt bỏ. Khi chưa thể vươn tới mức tự do hiện sinh, con người vẫn sống nhưng "vô hồn" cây cỏ, muông sinh, sống vô ý thức, vô trách nhiệm, sống nô lệ cho dư luận… và do vậy, tồn tại chỉ như những "đơn vị con người "chứ chưa phải là những "đơn vị tự do", và luôn bị giới hạn trong những ràng buộc của cuộc sống. Để trở thành nhân vị tự do và đạt được tự do, càng phải ý thức sâu xa về trách nhiệm với chính mình và phải nắm lấy ý nghĩa nhân sinh của cuộc đời mình và phải tự quyết về cuộc đời mình. 

Heidegger và J.P Sartre cho rằng: con người hiện sinh phải sống trong ý thức về sự chết, chính ý thức này làm cho cuộc sống mang tính chân thực và thêm khẩn trương. Thái độ này thật sáng suốt nhưng cũng vẫn là vô vọng. J. P Sartre là nhà triết học, nhà viết kịch, nhà tiểu thuyết, nhà chính trị, nhà báo Pháp, người được coi là bậc thầy tư tưởng của thế kỷ XX, người có ảnh hưởng nhất trong giới trí thức Pháp những năm 1940-1970 với lý thuyết nổi tiếng về Chủ nghĩa hiện sinh. Sinh ra ở Paris 21-6-1905, ông vào học ở trường Đại học sư phạm năm 1924, học thạc sĩ triết học năm 1929 và có những bạn đồng môn như Paul Nizan, Raymond Aron, Georges Canguilhem, Maurice Merleau-Ponty. Trong thời gian ở Berlin (1933-1934), ông làm quen với tư tưởng triết học Hiện tượng luận của Edmund Husserl, người sẽ để lại những ảnh hưởng lớn đến tư tưởng hiện sinh của ông về sau này. Tiểu thuyết đầu tay Buồn nôn (1938) mang dáng dấp của một tiểu thuyết triết học có nhân vật Antoine Roquentin với những cơn buồn nôn muốn phủ nhận tất cả đã trở thành hình ảnh đặc trưng cho cả một thế hệ chịu ảnh hưởng của Sartre.

Ngày nay người ta trở lại với triết học của Sartre bởi ngay chính ở rạng đông thế kỷ XXI, những vấn đề về con người lại được đề ra một cách cấp thiết hơn và quan niệm nhân sinh của Sartre hơn lúc nào hết lại vẫn gần chúng ta hơn cả. Tính chất tự do tuyệt đối của con người, tức con người bị bắt buộc phải tự do đi từ triết học Kant: Tự do là do mình tự quyết định theo lương tri (conscience) của mình. Tức là tôi tự buộc mình phải hành động theo lẽ phải. Kant cho rằng Sự tự trị của ý chí là nguyên tắc duy nhất của con người.

Điều đó có mặt tích cực: không một ai, một sự vật hiện tượng nào mang giá trị tuyệt đối có thể chi phối mọi khía cạnh cuộc đời người. Nhận thức hiện sinh khai thị cho con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình. Nhãn quan này không phải là nhãn quan Thần Linh, cũng không phải nhãn quan kẻ thống trị tư tưởng, của lãnh tụ. Nói cách khác, có tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật mới được giải phóng, mới thực sự tự do từ bên trong lẫn bên ngoài. Tự do ở đây không phải là cái tự do được ban phát từ thế giới tự do, lộn xộn, tùy tiện. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự do dám là mình, dám sống và hy sinh tận lực cho xác tín chân chính của mình.

Để đạt tới tự do hiện sinh, tự do cao thượng, cũng cần đến nhiều bước tiến, mặc dù những bước tiến này không được gọi là những bước nhảy thực thụ, luôn thúc đẩy con người hiện sinh tiến lên. Hoàn cảnh hiện sinh chẳng những giúp ta chống tha hóa bản ngã nhưng còn là bối cảnh cấp thời để ta nhận ra luôn phải vượt lên chính mình và trong đà đi lên không ngừng này, tới một lúc nào đó, ta sẽ cảm thấy “bị chặn lại” bởi những tình trạng giới hạn và khi đó, ta buộc phải thực hiện những bước nhảy kế tiếp cho đến tận cùng của "niềm tin hiện sinh".

Nguyễn Văn Thượng