Cà Phê Triết Học 05

Soren Kierkegaard (1813-1855) là một người đặt nền móng cho triết học hiện sinh, tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong dòng chảy tư tưởng triết học Châu Âu những thập niên cuối thế kỷ 19. Nội dung chủ yếu của bước ngoặc mà Kierkegaard thực hiện là lấy tồn tại cá nhân cô độc, phi lý tính, thay thế tồn tại của vật chất khách quan và ý thức lý tính, lấy đó làm xuất phát điểm của toàn bộ triết học. Ông đã thấy sự phù phiếm của đám đông, sự nực cười trong cuộc chạy đua rầm rập của con người lao phóng mà không biết để về đâu, tại sao và như thế nào...Như vậy có khác nào một cuộc tồn tại vô nghĩa, đáng thương, buồn nôn và bệnh hoạn? Hãy tìm lại chính mình, vứt bỏ đám đông để tìm nẻo về chính mình, sống chình mình như mình muốn, như cái tinh tuyền mà tạo hóa đặt sẵn: sự khao khát hạnh phúc vĩnh cữu, niềm khắc khoải tím kiếm ý nghĩa cuộc đời.

Kierkegaard quan tâm đến con người trong tình huống hiện sinh. Ông phân biệt giữa hai tình trạng hiện tại của một người, nghĩa là bây giờ họ đang là gì, và họ phải là gì, hay cốt yếu là gì. Biết bao nhiêu người trên thế giới này hiểu được họ đang là ai, nhận thức được trách nhiệm làm người của họ hệ tại điều gì và quan trọng nhất, họ là một “nhân -thần” hay chỉ là “nhân - vật” vụn về đang diễn tuồng một cách tệ hại trên sân khấu đời còn quá nhiều phấn son lòe loẹt dưới ánh hào quang dễ tắt ngấm? Càng đọc Kierkegaard lại thấy nổi bật sự trăn trở rất con người, mối khắc khoải hiện sinh cao thượng đang tìm về bản nguyên của mình. Trước mắt Soren Kieerkegaard, sự lo âu của con người về tính hữu hạn của họ như là nguyên nhân làm họ trở nên xa lạ hay tha hóa với hiện hữu có tính bản chất của họ. Thời đại nào cũng vậy, con người dù quyền lực tuyệt đối vẫn cảm nhận sự bất an và tính hữu hạn của nó trong không gian và thời gian, sự hạn hữu đáng thương của một vòng quay nghiệt ngã của cái gọi là “sinh thời”.

Kierkegaard cho rằng con người hiện sinh là diễn viên chứ không phải là khán giả, nghĩa là chính con người ấy luôn đứng trước các khả năng đa dạng hoặc là – hay là và định hướng đi tích cực cho đời sống với tất cả sự chọn lựa của mình. Thế giới càng đa chiều, càng phẳng, nóng, chật trong sắt thép, khói bụi, ồn ào và ảo cảnh của truyền thông đa phương tiện, con người càng hoảng loạn, cô đơn, yếu đuối và quá khích: Một diễn viên mới đóng tuồng nhảy nhót, lúng túng dưới ánh đèn xoay trở và tiếng la hét đầy phấn khích của những khán giả kích động. Chỉ khi nào con người lui về hậu trường, sống tĩnh niệm, suy nghĩ về vai tuồng của mình, buông đi ánh mắt cầu vọng sự cảm thương và cổ vũ của đám đông, khi đó, vai diễn của mình sẽ trọn vẹn và chân thành. Có một đạo diễn tài ba dẫn dắt diễn viên bộc lộ hết bản chất nhân vật và thần thái của mình làm thăng hoa sân khấu đời.

Trong phân tích con người hiện sinh, Kierkegaard hiểu con người theo quan điểm của Kitô giáo. Thiên Chúa chính là điểm tựa hiện sinh cho một tồn tại có ý nghĩa, là sự vĩnh cữu bất biến trong con người đặt mối quan hệ của mình với Thiên Chúa, Đấng vô hạn. Ông tin rằng thân phận của con người hiện sinh đánh mất chính mình, buông trôi theo số đông, cuồng vọng trong chuẩn mực vật chất là hậu quả của việc họ xa rời Thiên Chúa, và càng xa rời Thiên Chúa thì họ càng dấn sâu vào sự tha hoá, thất vọng và ngày càng tệ hại hơn. Tâm hồn phân mảnh vào thế giới, tán nhuyễn vào đam mê và bị  những luồng gió dư luận cuốn trôi vạn chiều...

Tuy vậy, sự tha hoá này cũng tạo ra nơi con người một động lực để phục hồi bản ngã bản chất của mình. Quá trình chuyển động của bản ngã là đi từ một bình diện tồn tại này sang một bình diện tồn tại khác bằng hành động của ý chí và và chọn lựa, để có thể đạt được sự tồn thực sự của bản ngã.

Một cá nhân có thể tin rằng họ tồn tại vì họ hành động theo cảm xúc của mình và động lực chính là muốn hưởng thụ. Khi đó người ta nói mình được tự do, được là chính mình, có thật vậy không? Theo Kierkegaard, cá nhân không thể tạo ra bản ngã đích thực của mình, không thể dẫn đến tồn tại đích thực. Khi họ tưởng mình tự do là lúc họ phải đối diện với sự chọn lựa: hoặc là - hay là, hoặc là tiếp tục ở bình diện này với các cám dỗ nguy hiểm hay là đi đến giai đoạn tiếp theo để thăng tiến và mở nẻo dẫn về lại chính xuất phát điểm của lương tri, xuất phát điểm của Tạo hóa.

Khi quyết định không dừng lại ở mức độ cung phụng giác quan, con người nhận ra và chấp nhận các quy tắc hạnh kiểm mà lý trí đưa ra. Hơn nữa, con người hành hương ấy phải chấp nhận những giới hạn và trách nhiệm đạo đức ràng buộc cho đời sống họ. Con người càng đứng lại trong đam mê vật chất, họ lại càng có cảm giác tội lỗi, lúc đó họ lại đặt mình trước chọn lựa hoặc là – hay là. Họ có thể ở lại bình diện xã hội sung túc vật chất đủ đầy, giác quan hoan lạc hoặc là bước sang giai đoạn mới là ý thức giới hạn của họ và nhận ra chính sự xa lìa Thiên Chúa là Đấng mà họ thuộc về và sứ mạnh của họ phải đến từ Ngài. Khi can đảm đi qua giai đoạn mới này, con người thấy cần phải có một sự dấn thân, một cú nhảy đức tin, một sự tín thác và tìm thấy mình hiện hữu trong Đấng Hiện Hữu.

Người ta gọi đây là cú nhảy đức tin đưa con người vào sự hiện diện của Thiên Chúa, không phải vị Thiên Chúa của lý trí triết học, nhưng là chủ thể. Quan hệ giữa Thiên Chúa và một cá nhân là một kinh nghiệm độc nhất vô nhị và chủ quan. Qua đó Kierkegaard muốn nhấn mạnh rằng cách duy nhất để vượt quan khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người không phải bằng lý trí nhưng bằng đức tin.

Chong đèn đọc tới đọc lui con người của Kierkegaard, lại nhìn thấy chính mình trong đó. Tôi có phải là con người hiện sinh bị “ném vào thế giới này”, nhưng được thúc đẩy đi tìm ý nghĩa của cuộc đời. May mắn thay, tôi có được hành lý Đức tin làm giải pháp cho tình huống hiện sinh. Đây có thể gọi là ân sủng và là nhu cầu giúp tôi vượt qua được giới hạn của tình huống hiện sinh là sự nhàm chán, là sự vong thân cho đến cái chết thực sự, thực tế ám ảnh của sự không hiện hữu, sự không tồn tại trong một “thiên đường vật chất - hoan lạc giác quan”.

À, tôi tin rằng, hiện sinh phải là hiện sinh đích thực nên con người phải vượt ảo tưởng về sức cứu độ của vật chất, vượt bỏ đám đông với những định kiến cân đo theo kiểu thành bại danh - lợi - thú để đi tới giai đoạn tìm nẻo về chính mình. Tôi tin rằng con người hiện sinh là một cá nhân hiện diện trước mặt Thiên Chúa và là một con người giữ vững đức tin của mình. Con người ấy đang ôm lấy thập giá Đấng Cứu Thế, nẻo về của đau khổ hiện sinh và từ hiện sinh đến phục sinh!

Nguyễn Văn Thượng