Cà Phê Triết Học 06

Tôi đã đọc Hans Urs Vons Balthasar, một khuôn mặt cô đơn, cô đơn mạnh mẽ, sâu sắc và rất thuần khiết. Có lẽ, ông là một nhà thần học Thụy Sỹ hiếm hoi một mình đứng hẳn ra bên ngoài những cuộc đua đòi chạy theo thời trang. Chọn cách bước ra bên ngoài cuộc đua chen giành lấy một tầm ảnh hưởng nhất định, nhưng cũng không làm mình vắng mặt trong dòng tư tưởng thế kỷ XX. Những suy tư thần học của ông mang tầm vóc đáng kính phục trong thế kỷ. Bằng những suy tư uyên bác, ông đã mở ra những con đường mới, thoát ra khỏi những định chế sẵn có, lao vút lên, và dấn thân đào sâu huyền nhiệm Đức Ki-tô, suối nguồn của tất cả mọi nền thần học Kitô giáo.

Hans Urs Von Balthasar tự đi tìm lấy một phương pháp suy tư riêng, và nỗ lực suy tư để làm sống động những tín điều, đối tượng của những nghiên cứu trường lớp, để khơi nguồn, đồ án quy hoạch lòng đạo hạnh mà không may đã trở nên nhạt nhẽo vô vị cứng ngắc trong những tâm tình sùng bái. Người ta “giữ đạo”, “hành đạo” nhưng không “sống đạo”. Vì lẽ những tín điều ấy được phú thác trong tay trường học, hàng giáo sỹ và thần học gia. Người ta không nghĩ ngợi nhiều rằng giữa tín lý và đời sống đạo đức là mối liên hệ biện chứng. Thư Thánh Giacôbê viết: “Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: "Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin. Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn làm phải. Cả ma quỷ cũng tin như thế, và chúng run sợ." Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không?Ông Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta, đã chẳng được nên công chính nhờ hành động, khi ông hiến dâng con mình là I-xa-ác trên bàn thờ đó sao? Bạn thấy đó: đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành động mà đức tin nên hoàn hảo. Như thế ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép: Ông Áp-ra-ham tin Thiên Chúa, và vì thế Thiên Chúa kể ông là người công chính và ông được gọi là bạn của Thiên Chúa. Anh em thấy đó, nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi. Ra-kháp, cô gái điếm cũng vậy: há chẳng phải nhờ hành động mà đã được nên công chính, vì đã đón tiếp các sứ giả và đưa họ đi lối khác sao?Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết”  (x. Gc 2, 17-26).

Trong thời đại hiện nay, hai trụ cột chống đỡ cho mái vòm của toà nhà thần học “quá phổ biến là đã bị tách rời ra khỏi nhau đến nỗi không còn chống đỡ được cho cái nóc tròn trên chóp đỉnh được nữa”. Vì thế, ông đứng ra đấu tranh cho việc hiệp thông giữa suy tư thần học về  tín lý và cách thức thể hiện đời sống thánh thiện,cả hai không được tác rời theo định kiến “duy hàn lâm” hay “thủ thường đạo đức bình dân” quán tính trong cái mơ hồ của hạn từ “truyền thống”. Hans Ur Von Balthasar muốn hợp nhất, thống nhất và đồng nhất trong một hiện hữu có suy tư về việc thực hành đạo đức, và thực hành cách đạo đức những gì đã suy tư.

Tuy nhiên, ở đây không có vấn đề muốn lấy kinh nghiệm cá nhân trở thành như là mẫu mực. Vị thánh không phải là một “con người đơn độc trước con người đơn độc”, mà là hình ảnh cụ thể của Giáo hội, trầm mình trong việc chiêm nghiệm huyền nhiệm Đức Kitô. Hans Urs Von Balthasar xây dựng một nền thần học sẵn sàng đối thoại. Cũng như Triết học hiện sinh gắn với thực tiễn cuộc sống con người, trăn trở suy tư và trở lại hoàn thiện từng bước cuộc đời theo một nẻo hiện sinh không tách rời và bay bổng nhưng quyết liệt theo một hướng nhất định: tìm lại chính mình trong cuộc tồn tại, tồn tại thực sự và vượt trên thời gian. Thần học chỉ có nghĩa khi thần học có quan hệ với con người, thấu hiểu hoàn cảnh con người, đặt toàn bộ cuộc hiện sinh dưới ánh sáng Thánh Kinh, Tín điều và học thuyết Kitô giáo để đẩy nó lên, đưa nó về với bản nguyên, cùng đích là chính Thiên Chúa, chứ không phải vật chất.

Khác với những thứ thần học trần tục hoá tự giam hãm mình trong vấn nạn của con người thời nay, cố gắng “xã hội hóa” và “chính trị hóa” thần học, ông cố gắng để đăt vấn đề về Mạc khải. Đặt Đức Ki-tô là trung tâm của sự chọn lựa. Đứng trước những phân mảnh của vật chất, làn sương mờ của đủ thứ học thuyết xã hội và tâm linh, phải chọn lựa Thiên Chúa hoặc con người vật chất. Ông sẵn sàng tiếp xúc với nền văn hoá hiện đại, nền văn hóa trong bối cảnh cụ thể và giả thiết là ta đã hiểu tường tận căn nguyên. Khi chìm sâu trong một nền văn hóa, hoàn toàn an tâm và không suy tưởng gì về tác động của chúng, người ta sẽ không bạn tâm tìm cách vạch trần chân tướng nó ra chứ không bao giờ coi nó như là mẫu mực để nuông chìu theo nó cách tuyệt đối và quán tính. Balthasar đã trù liệu tính toán nhằm biện minh cho điều mà ông đưa ra trước, không phải khởi từ con người, mà là dưới ánh sáng Mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Ki-tô Giêsu, đấy là câu trả lời cho trái tim khắc khoải của con người. Vì vậy, nếu quả cần thiết phải sử dụng hình thức tư tưởng của các dân tộc, dĩ nhiên là với một đầu óc biện biệt phê phán, dầu vậy, cũng cần phải có những khoảng cách ly cần thiết và phải biết dẫn dắt anh em nhân loại đưa họ từ “vòng ngoài” tiến vào trung tâm là Đức Ki-tô bằng nẻo chính là niềm tin luyện lọc qua suy tư, nhịp sống và sự kiên nhẫn tín cẩn Thiên Chúa.

 

Nguyễn Văn Thượng