Cà Phê Triết Học 07

Danh xưng Anti-Climacus không tìm thấy trong sách bách khoa từ điển về các danh nhân. Sören Kierkegaard, nhà triết học và văn sĩ người Đan Mạch (1813-1855), lại trình bày danh xưng đó như sau: Johannes Anti-Climacus, ngược lại với Climacus, là người đã nói rằng ông ta không phải là Kitô hữu, Anti-Climacus là sự cực đoan đối kháng. Ông ta là một Kitô hữu trong một đẳng cấp khác thường – một cách đơn giản là: chính tôi chỉ thực hiện được điều đó có bấy nhiêu, tức một cách hoàn toàn đơn giản là làm một Kitô hữu. Thực ra, Anti-Climacus là bút hiệu của chính Kierkegaard và dưới bút hiệu đó ông đã cho xuất bản năm 1849 tác phẩm “Die Krankheit zum Tode” (Bệnh nguy tử) kèm theo phụ đề “Eine christlich-psychologische Entwicklung zur Erbauung und Erweckung von Anti-Climacus, herraugegeben von Sören Kierkegaard” (Một sự phát triển tâm lý học Kitô giáo mang tính cách xây dựng và thức tỉnh của Anti-Climacus, do Sören Kierkegaard xuất bản). Cũng như Kierkegaard, trong các chặng đường đời, tôi chỉ là một loại người có thể trở thành cần thiết trong một cơn khủng hoảng, một loại người cần tới sự hiện hữu để cảm thấy mình được thoải mái dễ chịu.

Có lẽ, hoàn cảnh ngày càng phức tạp, biến động và vô tâm của xã hội, con người bị đặt trước nỗi sợ hãi, lo âu, xấu hổ, ghê tởm. Tình trạng chồng chất tội lỗi, bệnh tật, cô đơn, khủng hoảng trong môi trường xã hội và tự nhiên khiến cho con người cảm nhận cuộc hiện sinh vừa như gánh nặng vừa như nghĩa vụ. Chính trong nỗi sợ hãi, tạo cơ hội cho con người đối diện với chính mình. 

Nhưng ai muốn dứt bỏ chính mình một cách tuyệt vọng? Để làm một dẫn chứng, Kierkegaard lấy trường hợp nhà thi sĩ làm ví dụ, dĩ nhiên kể cả nhà thi sĩ có tín ngưỡng, bởi vì tội lỗi trà trộn trong chính bản chất thi sĩ của nhà thi sĩ. Kierkegaard cho rằng: Nhìn theo nhãn quan Kitô giáo (Kitô giáo được nhắc đến ở đây hoàn toàn theo quan niệm chủ quan của Kierkegaard) thì cho dù có chứa đựng sự thẩm mỹ, cuộc sống nhà thi sĩ vẫn là tội lỗi, tội lỗi là do người ta tưởng tượng thay vì sống thực tế, là do người ta hành xử tốt lành và chân thật theo thị hiếu tưởng tượng, thay vì thực sự đúng với con người thật của mình là vươn tới sự thật cụ thể một cách hiện sinh. Một nhà thi sĩ như thế rất có thể là một người có lòng tín ngưỡng sâu xa, yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, tuy nhiên ông còn mang nặng một nỗi khắc khoải hết sức thầm kín mà ông không muốn từ bỏ, đó là muốn làm một người khác.

Châm ngôn “tiến lên để sống” thức tỉnh cá nhân dự phóng cho tương lai, với ý thức đầy đủ về hoàn cảnh giới hạn về nhiều mặt của chính mình cùng với trách nhiệm phải gánh vác trước tha nhân và cộng đồng. S. Kierkegaard đã tóm gọn tinh thần của triết thuyết của mình.

Nếu một ai đó bị rơi vào tuyệt vọng, thì bấy giờ: Hãy tạo ra sự khả hữu, hãy tạo ra sự có thể. Chỉ đối với những người theo thuyết định mệnh thì mới cho rằng tất cả mọi sự đều đã bị tiêu tan hết, bởi vì họ tin vào sự tất yếu; và tiếp đến, chỉ đối với những người tư tưởng nhỏ nhoi thiển cận và với đầu óc trống rỗng của họ thì mới cho rằng chỉ có sự tương tự hay sự “có vẻ thực” thay vì “sự khả hữu”. Cả đến ma quỷ cũng được nêu thành vấn đề, vì ma quỷ là nguồn gốc phát sinh tội lỗi và sự tuyệt vọng: Trong mức độ tuyệt vọng tối đa mà nó đã đạt tới, khi nó chỉ muốn là chính mình, chỉ muốn khẳng định mình một cách tuyệt đối thì ma quỷ là sự “cứng đầu cố chấp tuyệt đối”.

Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái từng được gọi là "thái độ hiện sinh" (the existential attitude), hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý. Khác với “chủ nghĩa hư vô”, thái độ “hiện sinh” không bao giờ là bi quan, yếm thế, dù không muốn tự gọi là “lạc quan”. Tự do, trong triết hiện sinh, là tự do tích cực, chủ động, là tự do “để làm gì”, chứ không chỉ là tự do thoát “khỏi cái gì”. Khi không hài lòng với thực trạng, thì, theo nghĩa “hiện sinh”, ta phải hành động để thay đổi nó đi.

Một lời nói, một lời cầu kinh và cũng là một sứ điệp về một hy vọng quá sức mong chờ. Khắc khoải và hy vọng là toàn bộ kiếp làm người. Mất niềm hy vọng, dẫu trung thực đến đâu, con người vẫn đối diện với tình cảnh đôi đường bế tắc: một là chấp nhận số kiếp bạc nhược - bò sát, hay đi đến phản kháng trong tuyệt vọng để tìm một thứ an bình trong lảng quên, một niềm vui giả tạo.

“Con người trước hết là một dự phóng (project) tự tồn tại chủ quan, chứ không như một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp lơ” (Jean-Paul Sartre). Khi ta nhận diện cuộc sống, khám phá con người thật của mình. Đời sống là một cuộc thám hiểm, thăm dò thế giới “hiện sinh” nơi chính mình. Ám ảnh về sự hiện tồn của bản thể cũng là căn nguyên cho những chiều sâu của dự phóng cá nhân.

J.P. Sartre nói: “Thật phi lí chúng ta sinh ra, thật phi lí chúng ta chết đi”. Cội nguồn của tinh thần hiện sinh nằm ở những trăn trở về sự hiện hữu của con người, của những thực thể bơ vơ, thiếu vắng điểm tựa. Cho dù khó có thể hình dung một dự phóng cho toàn bộ lịch sử và xã hội, tín niệm của thuyết hiện sinh vẫn là tự mình hãy “tạo nên” ý nghĩa cho nó. Ý nghĩa và giá trị chỉ hình thành qua hành động, dù trong nghịch cảnh, nếu không muốn kéo lê đời mình trong sự nhàm chán:

“Từ ngày tôi thấm mệt vì mãi tìm

 Tôi đã học cách tìm (đường của tôi)

 Từ ngày có một ngọn gió thổi ngược thuyền tôi,

 Tôi căng thuyền phiêu lưu tùy mặc mọi cơn gió”. 

(F. NIETZSCHE - Le Gai Savoir - Prologue en vers)

 

Nguyễn Văn Thượng