Cây Đức Tin

 “Cây đức tin rồi ra nảy mậm,

Bén rễ sâu vào tận trí lòng;

Vui mừng hé nụ cậy trông,

Nở hoa mến Chúa đơm bông yêu người.”

(Thánh Thi, GKPV)

Tôi là cây đức tin. Chính Đức Giêsu đã gọi tôi như thế khi Ngài trao tôi cho các môn đệ của Ngài, nơi biển hồ Tibêria một ngày chông chênh sóng gió, trước khi Ngài về Trời. Tôi nói một ngày chông chênh sóng gió không phải để diễn tả mặt hồ Tibêria lúc ấy, nhưng là nói đến lòng trí người môn đệ Chúa Giêsu đang cầm tôi trong tay kia. Tôi nhận rất rõ từng đợt sóng cuốn gió ầm ầm trong lòng anh ta. Tay anh run run và hờ hững khiến tôi bất an rằng sẽ bị buông bỏ bất kì lúc nào. Để đến một buổi trời tôi phải sống trong cảm giác ấy.

Bạn cứ đặt mình trong hoàn cảnh của tôi thì bạn sẽ biết tôi lo sợ khổ sở đến mức nào, nhưng tôi không oán trách chủ tôi. Khi bạn thấu hiểu được tình trạng của người khác bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh của họ, biến mình thành một phần của họ hay hoàn toàn là họ thì lúc ấy, bạn cũng sẽ cảm thông như tôi thôi. Tôi chắc chắn là như vậy.

Nhưng rồi cuối cùng, ông chủ cũng không đành vứt bỏ tôi. Ông đem tôi về ngôi làng của ông. Nói đúng hơn là được “vác” về nhà ông, bởi ông đặt tôi ở trên vai, đúng theo cách thức Chúa Giêsu đã chỉ cho ông, nơi biển hồ Tibêria một ngày chông chênh sóng gió, trước khi Ngài về Trời.

Tôi là người đã gặp, đã tin, đã đi theo Chúa Giêsu. Tôi không thuộc nhóm mười hai Tông đồ hay nhóm bảy mươi hai môn đệ, nên bạn không biết tôi đâu. Tôi là một trong nhiều người đã có mặt ở biển hồ Tibêria ngày Chúa Giêsu về Nước của Ngài. Và đương nhiên, tôi cũng được trao phó một mầm non mới nhú, chưa thành hình hài có tên là “CÂY ĐỨC TIN”. Chúa Giêsu đã dặn dò chúng tôi phải mang nó trên vai, đến cùng trời cuối đất. Mang đến cuối đời.

Nhưng vì không dám đi một mình đến cùng trời cuối đất, nên tôi đã quyết định về lại làng quê cũ.

Bạn có thể mỉa mai tôi hèn nhát, và hãy làm như vậy, như nhiều người làng tôi vẫn làm thế. Ấy là sau khi họ nghe câu chuyện của tôi, chuyện tôi gặp Chúa Giêsu, những gì tôi đã nghe, đã thấy, đã chứng kiến nơi Chúa Giêsu Kitô, tất cả và xác tín. Họ kéo đến nghe tôi thuật lại những gì Chúa Giêsu đã nói, đã làm, đã trải qua. Họ cười, họ trầm trồ, họ ngạc nhiên, họ mếu máo… Họ đem những câu chuyện tôi thuật lại với họ làm chuyện vãn, để cười vui. Họ không tin những điều tôi làm chứng. Họ đã không thấy tận mắt, đã không trực tiếp nghe Chúa Giêsu giảng dạy và làm phép lạ. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29).

Đức Giê-su bảo: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6,4). Đây là cái giá phải chịu cho sự hèn nhát không dám dấn thân đến chốn xa lạ? Ôi, giá như tôi có đủ can đảm để đi đến một nơi nào đó khác… Tại sao người ta không tin những gì tôi làm chứng, do tôi không đáng tin hay những lời chứng của tôi không đủ mạnh? Biết bao hoang mang, nghi hoặc vây lấy tâm trí tôi, bóp nghẹt tim tôi.

Một ngày nọ, tôi lả đi vì kiệt sức, vì hao mòn. Trong mông lung vô thức, tôi nghe thấy tiếng Chúa vang bên tai mình: “Đừng bắt chước họ, vì họ nói mà không làm…”; “Hãy về bán hết của cải anh có mà chia cho người nghèo…”; “Làm chứng cho sự thật…”; “Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ”… Tôi chợt bừng tỉnh. Hóa ra bấy lâu nay tôi đã để mình ồn ã và bấn loạn, đã hành xử như một kẻ kém tin. Chúa vẫn luôn ở ngay bên, cùng đồng hành và chỉ dạy tôi, nhưng tôi đã không đủ tin, lặng và lắng để nhận ra.

Bấy giờ tôi trở dậy, bắt đầu bằng việc cầu nguyện cho những việc tôi sắp làm cùng dân làng tôi. Sau khi cầu nguyện xong, “Cây Đức Tin” trên vai tôi bỗng trở mình vươn ra thành hình một cây thập tự nhỏ cỡ một ngón tay, không lá. Lúc ấy, lời Chúa Giêsu chợt vọng về: “Hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo tôi.”; mọi thứ đã rõ ràng và người vác thập giá cũng đầy tràn nhiệt tâm.

Từ đó đến nay đã đầy ba năm có lẻ. Ba năm là khoảng thời gian ngắn so với một kiếp người, nhưng đủ để làm hao mòn, kiệt quệ thân xác mỏng dòn của con người. Ba năm cháy lửa yêu thương, tỏa rạng ánh sáng công minh chính trực, lan tỏa hơi ấm tình người cùng khổ để đổi lại sự xa lánh, đánh đuổi của người đời; không nhà không cửa, với một thập giá nặng nề vướng víu trên vai, tôi thành người điên đối với dân làng.

“Cây Đức Tin” tôi mang trên vai giờ đã trở thành một cây thập giá đủ hình hài kích cỡ, nhờ mồ hôi, máu và nước mắt trong lòng tôi suốt ba năm qua. Lúc đầu nó cồng kềnh nặng nề khiến tôi chẳng thể làm được gì; rồi về sau nó trổ ra những sợi lông tơ mảnh trên chóp đỉnh tựa một hạt bồ công anh vậy, nhưng sức nặng của nó vẫn không giảm bớt là bao. Đã bao lần tôi buông bỏ nhưng không bỏ được, nó cứ dính lấy tôi như một phần thân thể, nên tôi lại không nỡ. Tôi sẽ mang nó đến giây phút cuối cùng của cuộc đời mình. Bởi tôi đã hứa như thế nơi biển hồ Tibêria một ngày chông chênh sóng gió, trước khi Chúa Giêsu về Trời. Dù là lời hứa thầm, tôi phải giữ lời.

Những sợi lông tơ trên chóp đỉnh của “Cây Đức Tin” lại tỏ ra hữu dụng vào những ngày đầu mùa gió năm nay, thậm chí nó còn như nâng bổng tôi lên trong những cơn gió mạnh. Giờ này thân thể tôi đã không còn nghe theo sự điều khiển của tôi nữa rồi. Gió về càng làm tôi lả đi vì mệt, vì đói và lạnh…

Tôi là “Cây Đức Tin”. Hóa ra tôi còn có tên gọi khác nữa; ông chủ còn gọi tôi là Cây Thập Giá; tôi không giống như các loài cây khác hút chất dinh dưỡng và quan hợp để sống, tôi phát triển nhờ mồ hôi, máu và nước mắt của người Kitô hữu mà không cần quang hợp, nên tôi không lá không hoa. Tôi chỉ có lông tơ giống hạt bồ công anh đợi gió.

Rồi gió cũng về, về vào cái ngày ông chủ tôi mất, mang tôi cùng linh hồn ông chủ về Trời. Khi con người chết đi thì thân xác không còn vương vấn linh hồn nữa; linh hồn vốn nhẹ như không nên gió cuốn đi mặc sức, về tới trời hay về nơi mông mênh nào là hệ tại đức tin mỗi người.

Giuse Lương Thân Vinh, MF