Cây Giá Gỗ

Được sinh ra từ hai thanh gỗ xù xì xấu xí, nên khi nhắc đến tôi, ai cũng phải khiếp sợ kinh hãi. Bởi tôi thường đi với những kẻ tội lỗi, phường trộm cướp, quân phản loạn. Tôi thường làm cái cớ cho người ta sỉ nhục, lên án. Hơn nữa, tôi thường mang án tử và đau thương cho người ta.

Sáng hôm ấy, tôi được những tên lính vạm vỡ mang ra lau lau, chùi chùi mấy cái, rồi dội vào tôi những thùng nước lạnh, khiến thân tôi ướt đẫm và nặng nề hơn. Họ không trau chuốt, không mài nhẵn những mắt sẹo trên thân tôi, nhưng buộc vào tôi những sợi dây thừng lớn. Tôi nghĩ rằng: chắc người sắp đi với mình là tên tội phạm ghê gớm lắm đây, chắc người đó phải gây thiệt hại cho dân chúng dữ lắm?

Nhưng khác hẳn với những gì tôi tưởng tượng, Người hiện ra trước mắt tôi với tất cả dáng vẻ lạ kì, thân hình gầy gò, đầu đội vòng gai, khuôn mặt thì lem luốc máu đào, bởi những gai nhọn mà ra, một bên mặt Ngài bị thâm tím, trông mà đáng sợ. Ai đến với tôi thường tỏ thái độ sợ sệt, khuôn mặt u ám đau buồn. Nhưng khi tiến đến gần tôi, Ngài lại tỏ lộ khuôn mặt đầy tràn tình thương, thái độ trìu mến. Trong thinh lặng, Ngài như muốn nói: “Hãy theo Thầy trong đau khổ để cùng ở với Thầy trong vinh quang”. Khi nghe những điều ấy, tôi cảm thấy mát tai và hãnh diện. Nhưng khi ấy, tôi vẫn còn hoang mang, sợ hãi và nghi ngờ. Vì lạ kì quá, Người không giống bao người khác. Người là một người vô tội, thánh thiện mà sao lại đến với tôi? Lại phải vác tôi? Bao câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu tôi? Cho đến khi Ngài nhẹ nhàng quàng tay nâng tôi lên vai. Dường như sức nặng của tôi đã làm Ngài đau đớn và khó chịu. Tôi thấy chiếc áo của Ngài đã bị rách nát, chắc có lẽ vì đòn roi, bị người ta xâu xé. Vì thế, thỉnh thoảng da thịt Ngài dính vào thân tôi. Có lẽ vì tôi sần sùi và dơ bẩn nên làm cho Ngài đau xót lắm. Tôi nhìn Ngài mà rưng rưng nước mắt. Tôi muốn buông Người ra để cho Ngài thảnh thơi, muốn đẩy Ngài ra để cho Ngài bớt đau khổ. Nhưng Ngài lại gắng sức quàng tay qua thân tôi mà siết chặt lấy. Đôi chân trần của Ngài mỏi mệt lê từng bước trên từng phiến đá lổm chổm sắc nhọn. Run run bàn chân những vết thương chân rướm đầy máu. Thỉnh thoảng Ngài khuỵu xuống vì sức nặng của thân tôi, khiến chân tôi va vào đá nhọn, phát ra âm thanh “cọc cọc cọc”. Những lần như thế, lưng Ngài lại chịu những đòn roi, gậy sắt quật vào bởi những tên lính vạm vỡ hung tợn.

Trời càng gần về trưa, nắng càng gắt. Đám đông càng lớn tiếng chửi rủa, sỉ nhục Ngài. Thỉnh thoảng, đâu đó có những tiếng khóc than của đám người phụ nữ đạo đức. Tôi thấy mồ hôi và máu cứ chảy ra ròng ròng trên khuôn mặt Ngài, trông thật thảm thương. Đến nỗi một người phụ nữ đã can đảm len lỏi qua đám đông và vượt qua hàng rào quân lính để quỳ trước mặt Ngài, lấy khăn mà lau vào khuôn mặt rướm đầy máu của Ngài. Khi nghe tiếng gào khóc của đám phụ nữ, Ngài đứng khựng lại và buông lời an ủi họ rằng: “hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm chi. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23,28). Tôi tự hỏi, tại sao Ngài lại cảm thương và an ủi họ như vậy? Trong khi chẳng một ai thèm đến ủi an Ngài. Đi được một đoạn đường thì toàn thân Người khuỵu xuống, khiến xác thân trĩu nặng của tôi đè xuống trên Ngài. Càng ngày thân tôi càng nặng nề, mà Ngài thì càng yếu đau. Quân lính thì ra sức đánh đập Ngài. Dường như, Ngài không còn sức để vác tôi nữa, đến nỗi họ phải nhờ một anh nông dân đang đứng ở bên đường vác thân xác nặng nề của tôi. Tôi nhìn Ngài, Ngài cũng nhìn tôi. Ước gì tôi xa Ngài để Ngài bớt khổ đau. Ước gì tôi đừng sinh ra để Ngài khỏi phải mang lấy thân xác xấu xa này. Nhưng tôi càng muốn bỏ Ngài, thì Ngài lại càng siết chặt lấy tôi. Ngài lấy chút hơi thở sức lực còn lại mà vác tôi lên vai lần nữa.

Khi gần lên đến đỉnh đồi Canvê, những bước chân rệu rạo mệt nhọc của Ngài, cùng với những đòn roi liên tục giáng lên Ngài, khiến tôi dâng trào nước mắt. Đến đỉnh đồi, một vài tên lính đặt tôi xuống đất, rồi đến lột áo Ngài ra. Họ lấy dây thừng buộc chặt Ngài vào thân tôi, rồi những nhát búa chát chúa giáng xuống đinh nhọn xuyên thấu chân tay Ngài. Mỗi nhát búa là mỗi tiếng kêu đau đớn thấu trời của Ngài.

Giờ đây, Ngài với tôi dính chặt vào nhau. Ngài với tôi tuy hai mà một. Tôi với Ngài tuy một mà hai. Một tình yêu nhưng hai bàn tay. Bàn tay của Thiên Chúa và bàn tay của tha nhân. Sau đầu giờ chiều, quân lính đã dựng tôi lên. Vì thế, Ngài đã được giương cao trên ngọn đồi Canvê. Nhìn xuống, tôi thấy đám đông nhao lên. Kẻ hoan hô, người chửi rủa. Một số người khác khóc lóc than thở. Dưới chân tôi có một người phụ nữ và một chàng thanh niên, chắc là Mẹ Ngài và môn đệ của Ngài. Khuôn mặt của Mẹ Ngài đầy u sầu và đau khổ. Bà không khóc than nức nở, nhưng nước mắt chảy ngược vào tim, khiến lòng bà như muốn vỡ ra vì thương đau. Rồi Ngài ngước mắt lên trời mà thưa rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34). Tôi thầm nghĩ trước những đau khổ nhục nhã mà Ngài phải chịu như thế, không những Ngài không trách than kẻ kết án mình, mà còn xin Chúa Cha tha tội cho họ nữa. Ôi tình Chúa!

Rồi Người gục đầu xuống hướng về người Mẹ yêu dấu của mình mà trăng trối rằng: “Thưa bà, này là Con bà!” (Ga 19,26). Và nói với môn đệ: “Này là Mẹ con!” (Ga 19,27). Ba mươi năm ròng rã chịu bao khổ cực, chạy chỗ này trốn chỗ kia, lại phải sinh Ngài trong chuồng bò, rồi chịu bao tiếng xầm xì của họ hàng, láng giềng. Rồi ba năm theo bước chân Ngài, từ đền thờ cho đến các làng mạc, từ dinh Philatô cho đến đồi Canvê, bước chân Mẹ như không rời bóng dáng Ngài. Nay phải đớn đau chứng kiến đứa con trai yêu dấu duy nhất của Mẹ chịu chết khổ nhục trên thân tôi. Ôi tình Mẹ!

Trước khi tắt thở, Ngài thều thào rằng: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn trong tay Cha” (Lc 23,46). Ngài ngậm ngùi gục đầu xuống, hướng về người Mẹ dấu yêu. Như giã từ, đội ơn những ngày tháng trên dương gian Mẹ đã dưỡng nuôi và dạy dỗ Ngài. Nhìn Mẹ, tôi thấy trái tim Mẹ như vỡ ra vì đau khổ, như bị lưỡi gươm đâm vào tim Mẹ. Tôi tự hỏi thầm mình, sao Ngài lại chọn tôi để phải kết thúc cuộc đời bằng cái chết đau đớn nhục nhã này? Sao Ngài mang đau khổ sầu thương cho Mẹ Ngài như vậy?

Lúc Ngài trút hơi thở cuối cùng, cũng là lúc lòng tôi cảm thấy tuyệt vọng, bàng hoàng sợ hãi. Bởi bao tiếng sét vang dội giáng lên thân tôi; những luồng gió mạnh như muốn thổi tung cả đất trời; những tảng đá lớn vỡ ra như muốn thét lên những tiếng kêu oan ức.

Tôi lại tự hỏi, rồi cuộc đời tôi sẽ ra sao? Tương lai tôi sẽ đi về đâu? Hay ta về lại chốn xưa theo lối sống cũ, trở về với những tên bặm trợn, những kẻ tội lỗi, hay sống chung với phường bất lương? Như thế, người đời nhìn tôi sẽ khiếp sợ và khinh bỉ. Rồi một mai tôi sẽ bị vùi vào ngọn lửa gian trần sau khi trở nên vô dụng với họ.

Trong khi mải suy nghĩ, tôi thiếp ngủ đi lúc nào không biết. Lúc đó có một vài người lục đục dưới chân tôi. Tôi giật mình chỗi dậy thì thấy họ tháo từng đinh nhọn nơi bàn tay và chân Ngài, rồi lấy cuộn vải trắng hạ xác thân Ngài xuống, rồi trao cho Mẹ Ngài. Đôi bàn tay gầy yếu của Mẹ đón lấy xác Ngài đầy máu. Tôi ú ớ quơ đôi tay sần sùi hướng về Ngài, rồi thét lên rằng: “lạy Ngài, xin đừng bỏ rơi tôi, xin đừng xa tôi.” Nhưng những người ấy không nghe tiếng thét gào của tôi, họ cứ lẳng lặng mà mang xác Ngài vào một mộ đá gần nơi tôi đứng giữa khung cảnh chiều tàn, mây đen u ám, tôi cảm thấy cô đơn và buồn đau vô cùng. Tôi khóc lóc và than thở với Ngài rằng: “Tại sao lại bỏ tôi?” Nhưng Ngài vẫn lặng im trong mồ, không một lời đáp lại. Nhìn xung quanh, tôi thấy những người bạn của tôi cũng lẳng lặng mà bỏ tôi. Giữa núi đồi chập chùng hoang vu và đêm tối mập mù như thế, tôi cảm thấy choáng váng, bàng hoàng và tuyệt vọng vô cùng.

Đến khi ánh bình minh của ngày mới chiếu thẳng vào khuôn mặt đầy u ám của tôi. Một bàn tay uy quyền siết chặt lấy thân tôi. Tôi giật mình chộp lấy tay Ngài ấy. Tôi thấy bàn tay quen quen, khuôn mặt Ngài đầy hân hoan, đầy vinh quang. Trong thinh lặng, Ngài như muốn nói: “Từ nay ngươi sẽ là bảo chứng tình yêu, là thông điệp của sự sống và cứu độ, là nấc thang nối kết giữa trời và đất, là sợi dây kết nối giữa Thiên Chúa và con người, là niềm tin giữa người với người”. Tôi hãnh diện vui sướng khi được đón nhận hồng ân ấy. Tôi cảm thấy vinh dự khi được thông phần đau khổ với Ngài”. Tôi hân hoan “khi được ở với Ngài và được Ngài sai đi” (x. Mc 3,13-15).

Giờ đây, khắp mọi nơi khi nhìn vào tôi, người đời sẽ tưởng nhớ đến Ngài, sẽ đặt niềm tin vào Ngài. Tôi hiện diện khắp nơi, đem niềm vui và ân sủng đến cho mọi người. Không những thế, tôi còn được các vị Thừa Sai Đức Tin mang trên mình mỗi ngày như là sự hiến dâng trọn vẹn cho Ngài, như là chứng tá của tình yêu. Mang tôi trên mình, người thừa sai như mang một sứ mạng, đem niềm tin đến cho muôn dân, đem hy vọng đến cho tha nhân. Tôi vui sướng hân hoan khi được đồng hành với các vị TSĐT trên con đường rao giảng Tin Mừng. Tôi là cây giá gỗ.

Antôn Trần Ngọc Tin, MF