Chúa Nhật 01/03/2020 – Chúa Nhật I Mùa Chay Năm A

Lời Chúa: Mt 4, 1-11

Khi ấy, Chúa Giêsu được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Khi Người đã nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người cảm thấy đói.

Và tên cám dỗ đến gần, nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh". Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: 'Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra'".

Bấy giờ ma quỷ đưa Người lên Thành thánh, và đặt Người trên góc tường Ðền thờ, rồi nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với ông, và chư vị đó sẽ nâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá". Chúa Giêsu đáp: "Cũng có lời chép rằng: "Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi".

Quỷ lại đưa Người lên núi rất cao, và chỉ cho Người xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang của những nước đó, rồi nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi".

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hãy lui đi, hỡi Satan! Vì có lời đã chép: "Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài".

Bấy giờ ma quỷ bỏ Người. Và các thiên thần tiến lại, hầu hạ Người.

 

SUY NIỆM 

1. Chiến thắng tử thần - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)

Ngày 24/05/1979, Ông Mc. Namara, chủ tịch Ngân hàng Thế giới 11 năm, đã cảnh giác thế giới mỗi năm phung phí vào việc sản suất võ khí giết người 30 tỷ đô la với 500.000 bác học và kỹ sư.

Ngày 26/08/1986, đài Hànội loan tin Mỹ dự trù 1.000 tỷ đô la vào nghiên cứu chiến tranh tinh cầu. Mỹ dã ba lần thử bắn hỏa tiễn phá vệ tinh đang bay. Đó là cách hủy diệt loài người.

Lúc nào thế giới cũng chọn sự chết hơn sự sống. Adam Eva dù được sống sung sướng trong vườn thượng uyển đầy của ngon vật lạ dưới bóng cây sự sống, cây sự thiện của Thiên Chúa, ông bà vẫn chạy theo tử thần (Bài 1).

Phần Đức Giêsu, Người đã chạy theo Thánh thần, theo thần Sự sống. Dù phải sống trong hoang địa khô cằn kham khổ, Ngài vẫn chọn lối sống hiến dâng toàn thân cho Cha trên trời. Ngài không màng chi lương thực lạc thú danh vọng và của cải vật chất. Ngài thực sự chỉ chuyên lo sống mật thiết trọn vẹn trong tình cha con với Thiên Chúa. Trong những giờ phút linh thiêng nhất đó, quỷ dữ đã mò tới tấn công mãnh liệt để phá vỡ mối tình thắm thiết giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa, như nó đã phá vỡ cuộc sống thân thiết giữa Adam và Thiên Chúa. Nó không muốn Người được làm Con Thiên Chúa nên nó nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa nên bánh,... thì hãy gieo mình xuống... Nó tôn Ngài làm Con Thiên Chúa để phỉnh lừa Ngài theo nó. Nếu trổ tài làm theo quỷ, tất nhiên là thuộc về quỷ, đâu còn thuộc về Thiên Chúa nữa. Ôi, lậy Chúa, quỷ dữ cực kỳ xảo quyệt!

Đức Giêsu sống trên dương thế như một vị cứu tinh đứng giữa sự sống và sự chết, giữa trời và hỏa ngục, như Adam Eva đứng giữa cây sự sống và sự chết, giữa Thiên Chúa và quỷ dữ. Adam Eva đã bị quỷ dữ đánh lừa. Trái lại, Đức Giêsu đã luôn luôn chọn Thiên Chúa không để quỷ dữ đánh bại, Người phải đánh bại quỷ dữ để giải phóng loài người thoát ách tử thần quỷ dữ.

Tử thần thứ nhất là cơn đói khát của thân xác, lúc nào cũng đòi lạc thú, nấp bóng dưới dạng no say, si mê tứ khoái: mê rượu, mê dâm, mê bạc, mê ma túy. Càng mê càng khổ, đến tan xác mới hết mê. Đức Giêsu đã chiến thắng quỷ dữ đó bằng sống lời Chúa: “Người ta sống không nguyên bởi bánh nhưng bởi mọi lời Thiên Chúa phán ra”.

Tử thần thứ hai là kiêu ngạo thử thách Thiên Chúa phải làm cho mình những điều lạ lùng càn dở: “Cứ gieo mình xuống Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ nâng đỡ bạn khỏi vấp chân vào đá”, làm theo quỷ nịnh hót chắc chắn tan xác, nên Đức Giêsu đã nói: “Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa”. Người đã đánh bại quỷ dữ bằng đường lối sống hoàn toàn hạ mình xuống, phó thác trọn vẹn vâng theo thánh ý Chúa, dù phải chịu đau khổ và chết trên thập giá.

Tử thần thứ ba là tiền của, biết bao nhiêu kẻ đã phục mình xuống luồn cúi chạy chọt vì tham ô, móc ngoặc, phạm những tội tầy trời. Salômôn hàng năm thâu vào kho 666 tạ vàng, cứ ba năm ông cho đoàn tầu đi chở vàng bạc châu báu ngọc ngà về. Sống trên núi vàng tiền của, ông phục mình xuống thờ lạy tà thần trụy lạc, làm ô danh Thiên Chúa đã ban cho ông được khôn ngoan nhất thiên hạ. Mạc đăng Dung, một kẻ vũ phu, ham giầu, ham danh, đã chiếm ngôi vua Lê chiêu Tôn, tưởng được hưởng mọi vinh hoa phú quý. Ai ngờ phải tự trói mình đi đến tận ải Nam Quan quỳ lậy nộp mình cho quân Minh xin tha chết. Một vết nhơ nhất trong lịch sử Việt Nam. Quỷ đã dùng bả vinh hoa đó nhử bao nhiêu người xuống hố diệt vong.

Trước những mưu mô hiểm độc của quỷ dữ, Đức Giêsu đã quyết liệt đuổi quỷ cút đi lập tức: “Quỷ satan kia, xéo đi! vì ngươi phải thờ lậy Thiên Chúa là Chúa ngươi, và thờ lậy một mình Người mà thôi”.

Lậy Chúa Giêsu, Chúa đã thẳng tay xua đuổi quỷ xéo đi, nhưng “chúng vẫn còn rình mò chúng con như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cấu xé” (1Pr. 5). Xin Chúa mau đến giải thoát chúng con khỏi nanh vuốt tử thần quỷ dữ, cho chúng con an tâm vững chí sống theo lời Chúa và tiến bước trên đường phụng sự Chúa đến hơi thở cuối cùng. Amen.

 

2. Cám dỗ

Con người ngay từ buổi đầu được dựng nên, đã bị cám dỗ và con người đã sa ngã trong cơn cám dỗ ấy. Lịch sử của dân Do Thái, từ sa mạc cho đến miền đất hứa là một chuỗi những bất trung không ngừng. Là người tín hữu, chúng ta không xa lạ gì với những thử thách và cám dỗ, bởi vì chính Chúa Giêsu cũng đã trải qua cái kinh nghiệm sống động ấy. Với những cám dỗ gặp phải, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy mức độ dấn thân làm người của Người, đồng thời tăng thêm sức mạnh để chúng ta lướt thắng những gian nguy thử thách giữa lòng cuộc đời.

Con đường cứu độ của Chúa không phải là một con đường trải thảm, không phải là một con đường với những hoa thơm cỏ lạ, nhưng là một con đường đấu tranh đầy cam gọ, đầy lựa chọn. Những cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã gặp phải là của cải, danh vọng và quyền lực. Đó cũng là những cám dỗ muôn thuở của con người, cũng như của bản thân chúng ta.

Tuy nhiên điều đã trở thành niềm tin, và cũng là bài học cho chúng ta, đó là Chúa Giêsu đã chiến thắng những cám dỗ nói trên. Người đã có những chọn lựa của Người đứng trước những cảnh huống đòi phải chọn lựa. Thực vậy, trước cơn cám dỗ về của ăn, Người đã trả lời: Người ta sống không nguyên bởi bánh mà còn bởi những lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Trước cám dỗ về quyền lực, Người đã khẳng định: Hỡi Satan, ngươi phải thờ lạy và phụng sự một mình Thiên Chúa. Và Người cũng đã có câu trả lời dứt khoát khi Satan cám dỗ Ngài về sự ỷ lại có tính cách thách thức Thiên Chúa.

Tin Mừng còn cho thấy Người đã chọn lựa không phải bằng những lời tuyên bố suông, mà là bằng chính mạng sống của Người. Người đã phải trả giá cho điều Người lựa chọn bằng chính cái chết nhục nhã trên thập giá. Sự chọn lựa của Chúa Giêsu cũng phải là sự lựa chọn của mỗi người chúng ta. Không chấp nhận miếng ăn ngon, nhà cao cửa rộng, tiền bạc đầy túi, địa vị cao sang bằng cách gian tham, bóc lột và chà đạp kẻ khác. Phải biết chia sẻ và giúp đỡ người khác với tâm tình tôn trọng phẩm giá và quyền lợi của họ. Phải biết sử dụng địa vị và quyền hành của mình hầu góp phần xây dựng cho xã hội này, cho giáo xứ mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Có vượt qua cám dỗ như thế, thì rồi chúng ta mới được chia sẻ phần vinh quang phục sinh với Ngài.

 

3. Người ta sống

Người ta sống không nguyên bởi bánh.

Chúa Giêsu người đã nói câu đó, không phải là một kẻ mơ mộng hoặc chỉ sống bằng những lý tưởng cao đẹp, hoặc đã có dư ăn dư mặc để có thể dễ dàng lên mặt dạy đời về sự tầm thường của vật chất. Ngài hiểu rõ giá trị của đồng tiền bát gạo vì đã khó nhọc làm ăn nuôi sống gia đình. Ngài biết rằng có thực mới vực được đạo, bằng chứng là có lần Ngài đã phải nuôi ăn cho một đám đông đói khát sau những ngày tìm đến với mình để được nghe giảng dạy. Ngài cũng biết rằng bần cùng sinh đạo tặc, bởi vì Ngài đã thường xuyên lui tới với những đám người khốn khổ nhất của xã hội, biết rõ hoàn cảnh đời sống của họ. Thế nhưng Ngài vẫn nhất định không để cho nhu cầu thiết yếu và căn bản ngự trị trên các nhu cầu khác của con người. Ngài nhất định không coi của cải vật chất là tất cả đến nỗi phải làm bất cứ cách nào cho có được.

Người ta sống không nguyên bởi cơm bánh.

Có một thời cách đây không lâu, chúng ta ngơ ngác không hiểu tại sao thanh niên Âu Mỹ lại chán chường, nổi loạn, phá phách hay làm những chuyện điên rồ, có vẻ vô nghĩa, khi mà họ đã có thừa mứa mọi tiện nghi hưởng thụ. Sở dĩ như thế vì lớp thanh niên này có mọi thứ, nhưng lại thiếu lý tưởng, thiếu lẽ sống, thiếu cái gì cao cả để mà vươn lên. Thời ấy, chúng ta nghe, nhưng vẫn cảm thấy đó là những điều hơi xa lạ và viễn vông. Bây giờ, khi nhìn thấy một lớp trẻ sống thực dụng, không lý tưởng, bất chấp đạo nghĩa, đặc biệt là những hạng con ông cháu cha trong xã hội, thì chúng ta mới thực sự thấm thía. Cha ông chúng ta vốn thường dạy: Tốt danh hơn lành áo. Chết vinh hơn sống nhục. Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi. Còn giới trẻ hôm nay thì đã phản ứng ngược lại.

Thầy giáo kể lại câu chuyện về cha Maximilien Kolbê, người đã tình nguyện chết thay cho một bạn tù, là người cha còn trẻ trong gia đình, bị Đức quốc xã giam cùng trại với cha. Vị linh mục nói: Tôi già rồi nếu có sống thì cũng không có lợi ích và cần thiết bằng người cha gia đình này. Nghe xong, một cậu học trò đã phê bình một câu sắc như nhát chém: Sao mà ngu thế.

Ngoài cơm bánh, chúng ta còn đói khát rất nhiều thứ khác, chẳng hạn như đói khát sự thật, đói khát tình thương, đói khát tự do, đói khát phẩm giá, đói khát lòng kính trọng, đói khát kiến thức, đói khát lẽ sống và lý tưởng.

Chúng ta cần phải giúp cho bản thân cũng như cho người khác, để chúng ta cùng nhau vươn lên, vươn lên mãi, cho đến khi gặp được nguồn chân thiện mỹ mới thôi.

 

4. Khiêm tốn sám hối và sửa mình - Huệ Minh

Trang Tin Mừng này được liên kết với trang Tin Mừng về phép Rửa. Tại sông Giođan, Thần Khí Thiên Chúa đã được ban cho Đức Giêsu, nay cũng Thần Khí ấy lại dẫn Người vào hoang địa. Chiều hướng của bản văn là: Bởi vì Đức Giêsu đến hoàn tất nỗi chờ mong của dân Người, nhất thiết Người phải đảm nhận mọi chiều kích của lịch sử dân Người: ở tại Ai Cập (2,13-15), đi qua sông Giođan (3,13-17), cám dỗ trong hoang địa (4,1-11). Qua các cám dỗ, Đức Giêsu cho thấy Người chấp nhận trọn vẹn thánh ý Chúa Cha; Người loại trừ mọi thứ cung cách Mêsia mà Thiên Chúa không muốn (mà chính Gioan Tẩy Giả đã hình dung), để chấp nhận làm một Mêsia chịu đóng đinh.

Sau khi Đức Giêsu ăn chay 40 đêm ngày. Ma quỷ đề nghị Người biến đá thành bánh mà ăn. Thật là một đề nghị hợp lý. Đói thì phải ăn. Muốn ăn thì phải có bánh. Nhưng có bánh bằng cách nào mới là vấn đề. Không phải cứ có nhu cầu là phải thoả mãn ngay. Và nhất là không được dùng những cách không hợp đạo lý để thoả mãn những nhu cầu của mình. Cơm bánh tượng trưng cho những nhu cầu thiết yếu của con người. Nhu cầu của con người thì có nhiều và có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Vì thế cơn cám dỗ thoả mãn nhu cầu ngày càng lớn.

Trang Tin Mừng trình thuật về ăn chay và cám dỗ tập trung vào các biến cố của cuộc Xuất Hành. Dân Israel cũng là “con yêu dấu của Thiên Chúa”, nhưng tất cả hành trình trong hoang địa cho thấy họ đã là mộtđứa con nổi loạn và thất trung. Quả thật, ngôn ngữ của câu đầu đã khiến ta nhớ đến Đnl 8,2 và như ám chỉ đến hoàn cảnh của Israel tại hoang địa: “... Thiên Chúa đã dẫn..., như vậy Người thử thách…”.

Bản văn Đệ Nhị Luật nói rằng Thiên Chúa “thử thách” dân để “biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không”. Còn ở đây, trong bản văn Mt, “thử thách” là để phá hỏng và kẻ “thử thách” là quỷ, chứ không phải là Thiên Chúa. Tại hoang địa, Đức Giêsu vừa tóm kết kinh nghiệm của Môsê và Êlia, vừa tóm kết lịch sử của dân Israel trong hoang địa.

Người ăn chay suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm (2): Con số 40 chỉ mộtthời gian khá dài và có sắc thái là mộtsự hoàn tất với kết quả tích cực là giải phóng và xây dựng con người. So với Lc, Mt thêm “bốn mươi đêm” để ám chỉ thời gian Đức Giêsu ở trong hoang địa tương đương với thời gian Môsê ăn chay trên núi cao để rồi sau đó được Đức Chúa ban cho các điều khoản của Giao ước (Xh 34,28; x. Xh 25,18).

Nhưng cũng có thể Mt muốn ám chỉ đến Êlia nữa (x. 1 V 19,8: ăn chay trong hành trình tiến về núi Khôrép). Hai dung mạo vĩ đại này, đại diện cho Lề Luật và các Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Hiển Dung của Đức Giêsu (cuộc Hiển Dung này chính là cuộc thần hiển. Sau đó sẽ có việc thiết lập Giao Ước mới nhờ cuộc Khổ Nạn–Phục Sinh của Đức Giêsu). Có lẽ Mt muốn nói rằng việc Đức Giêsu ăn chay đã tóm kết cách nào đó kinh nghiệm của Môsê và Êlia, cũng như các cám dỗ sẽ tóm kết lịch sử của Israel tại hoang địa.

Các cám dỗ nhắm tấn công Đức Giêsu trong tư cách Mêsia và Người Con vâng phục và trung thành của Thiên Chúa. Quỷ xúi Đức Giêsu lạm dụng lời quyền năng của Người, rồi xúi Người ỷ lại vào quan hệ giữa Người với Thiên Chúa, và cuối cùng, xúi Người bỏ đi lòng trung nghĩa với Thiên Chúa. Chiến thắng của Người rất quan trọng. Nó xóa đi những bóng tối đã tích tụ lại trong lịch sử dân Thiên Chúa và nó cũng gợi ra chiều hướng dấn thân phục vụ ơn cứu độ. Thay vì chọn làm một Mêsia-Phù thủy hay một Mêsia-Thủ lãnh, Đức Giêsu chọn làm Mêsia-Tôi tớ khiêm nhường. Khi đó, Người vẫn là Người Con vâng phục, và cũng là Israel chân chính và hoàn hảo.

Với cơn cám dỗ thứ nhất, ma quỷ muốn xô đẩy con người làm nô lệ cho dục vọng. Xúi giục con người chỉ tìm thoả mãn những bản năng thấp hèn. Giới hạn con người vào sự sống xác thịt. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ khi Người cho biết con người không chỉ có đời sống thể lý mà còn có đời sống tâm linh. Người nâng cao phẩm giá con người khi quyết tâm chống lại cơn cám dỗ thoả mãn những nhu cầu thân xác để chăm lo cho sự sống tâm linh.

Với cơn cám dỗ thứ hai, ma quỷ muốn biến con người thành nô lệ cho tham vọng, nô lệ cho ma quỷ. Vì ham hố chức quyền, vì mưu cầu danh vọng mà đánh mất tự do của mình, cam tâm làm nô lệ cho ma quỷ. Vì tham vọng mà đánh mất chính mình. Đức Giêsu vạch trần âm mưu đen tối của ma quỷ khi cương quyết chối từ danh vọng quyền thế. Người còn chỉ cho ta con đường duy nhất phải theo đó là thờ phượng Thiên Chúa. Chỉ có thờ phượng Thiên Chúa mới đem đến cho con người tự do đích thực, tự do trong tâm hồn, không bị nô lệ một tham vọng nào.

Với cơn cám dỗ thứ ba, ma quỷ đẩy con người vào nô lệ cho cuồng vọng. Điên cuồng đến chống lại Thiên Chúa. Dùng Thiên Chúa để phục vụ cho những ước vọng ngông cuồng của mình. Không đến với Chúa trong tâm tình của người con thảo đối với Cha hiền. Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu của ma quỷ. Người chỉ cho ta con đường của người con hiếu thảo. Người con hiếu thảo tin cậy phó thác và luôn làm theo ý Cha, chứ không bao giờ dám thách thức Cha. Người con hiếu thảo vâng lệnh Cha sai bảo chứ không bao giờ dám sai bảo Cha.

Cám dỗ của ma quỷ hiểm độc vì nó tiến từng bước: Từ hạ thấp phẩm giá con người khi khiến con người làm nô lệ cho dục vọng đến cướp mất tự do của con người khi xúi giục con người nô lệ cho ma quỷ.

Và sau cùng đi đến chỗ tận cùng là chối bỏ Thiên Chúa, không coi Thiên Chúa là cha. Cám dỗ càng hiểm độc vì ma quỷ đã khéo léo học những âm mưu thâm hiểm trong lớp vỏ nhung lụa, êm ái, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

Chúa Giêsu nói “không” với quỷ, nhưng cũng phải nói “không” với chính mình, bởi vì con đường Người theo kềm hãm các khát vọng và những đòi hỏi của bản tính tự nhiên. Các phản ứng của Người trước đau khổ, những tủi nhục, những thất bại, thì cũng giống như mọi người. Người không thể phạm tội, nhưng Người có thể chọn con đường chung của mọi người, là sự thỏa thuê. Vinh quang không phải là một tội, mà còn là mộtquyền Người có thể dùng. Sự rút lui của quỷ chứng tỏ đây không những là mộtchiến thắng của chủ trương Mêsia khiêm nhường và phục vụ như tôi tớ, mà còn là mộtchiến thắng riêng của Đức Giêsu. Người đã không nhường bước cho mộtnẻo đường tiện nghi thoải mái, đã không muốn hưởng trước một thành công; nhưng Người đã tôn trọng con đường đã được chọn cho Người dù phải hy sinh, thiệt thòi. Rời khỏi hoang địa, không những Người được thánh hiến mà còn đủ tư cách Mêsia.

Mùa Chay giúp chúng ta nhìn nhận thân phận mình, với biết bao yếu đuối và lỗi lầm, rất cần được Chúa tha thứ và đỡ nâng. Ông Môsê đã chỉ dẫn cho người Do Thái, khi đến dâng của lễ, hãy thưa với Chúa về nguồn gốc du mục của mình và nhớ lại những điều tốt lành Ngài đã làm với tổ phụ họ, nhờ đó, họ dâng của lễ với lòng tri ân chân thành và đáng được Chúa chấp nhận. Nhìn nhận thân phận mình sẽ giúp chúng ta khiêm tốn và sám hối sửa mình, và nhờ đó, chúng ta được đón nhận lòng Chúa xót thương.

 

5. Cám dỗ trong đời thường

Sống kiếp con người nơi trần thế này, ai trong chúng ta cũng thường gặp những thách đố và cám dỗ trong cuộc sống. Có nhiều người ý thức và nhẹ nhàng vượt qua, nhưng cũng có rất nhiều người đã rơi vào những cạm bẫy của ma quỷ và trở thành kẻ nô lệ của chúng một cách đáng thương. Vấn đề đặt ra cho chúng ta bây giờ là làm sao có thể vượt qua những cám dỗ đó. Đâu là sức mạnh và trợ lực an toàn cho chúng ta?

Chúng ta đang bước vào Chúa nhật thứ I Mùa Chay, mùa dành riêng cho việc kêu gọi con người hãy ăn năn sám hối và trở về với Thiên Chúa để nhận lãnh lòng thương xót và ơn tha thứ của Ngài.

Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta một mẫu gương tuyệt vời về sự chiến đấu trước những cơn cám dỗ đụng chạm trực tiếp đến những nhu cầu thiết yếu và phổ biến nhất của con người. Mẫu gương đó chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Trước khi khởi đầu sứ mạng rao giảng Tin mừng, Ngài đã được dẫn vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Có lẽ có rất nhiều ý nghĩa xung quanh vấn đề này, nhưng có lẽ chúng ta thấy được nhất là ý nghĩa nêu gương của Chúa Giêsu qua những cơn cám dỗ mà Ngài đã chịu. Ma quỷ rất gian xảo và tinh vi trong mọi cố gắng nhằm quyến dụ con người đi vào con đường chết, trở thành những kẻ chống đối Thiên Chúa hay thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô, Người Con vẹn toàn của Thiên Chúa đã chiến thắng Ma Quỷ và vạch trần những âm mưu xảo trá của chúng vì chúng vốn là cha của những kẻ gian trá.

Cơm áo bạc tiền luôn là nổ băn khoăn và lo lắng của biết bao nhiêu con người. Cuộc sống bận rộn suốt ngày đêm cũng chỉ xoay quanh vấn đề này. Người còn nghèo khó thì muốn cố gắng làm sao để có đủ cơm ăn áo mặc. Người khá giả một chút thì muốn giàu có hơn. Còn người đã giàu có rồi thì tìm cách làm sao để giữ vững cơ nghiệp của mình, tìm cách hưởng thụ và làm sao để cho danh tiếng của mình vang xa, cho thiên hạ nể nang mình... Có thể nói, không ai tìm thấy thoả mãn với những nhu cầu vật trong cuộc sống này. Chính vì lý do này mà con người dễ dàng rơi vào những cơn thèm khát mang tính danh, lợi, thú do ma quỷ giăng mắc khắp nơi. Khắp nơi đều nghe thấy con người kêu khổ: nghèo cũng khổ, giàu cũng khổ, cũng khóc như ai. Như vậy hạnh phúc đích thực không có nơi trần gian này, mà chỉ tồn tại nơi Thiên Chúa mà thôi.

Có một anh nông dân rất nghèo, làm việc vất vả suốt ngày quanh năm nhưng cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc. Rồi anh nghe người ta đòn rằng, ở trên núi có một thiền sư pháp thuật cao lắm, ông có thể làm cho người nghèo trở nên giàu có dễ như trở bàn tay. Thế là anh nông dân này bèn hỏi han đường sá để tìm đến với vị thiền sư đó. Cuối cùng thì anh cũng gặp được vị thiền sư tài giỏi ấy. Anh liền bày tỏ với vị thiền sư nổi khổ tâm của anh và ước nguyện được giúp cho thoát khỏi cảnh nghèo túng. Vị thiền sư nói: "tưởng chuyện gì khó chứ chuyện ấy thì quá dễ. Nhưng mà không được, vì nó nguy hiểm lắm". Anh nông dân ấy nói: Chỉ có cái nghèo mới nguy hiểm và tôi chỉ sợ cái nghèo thôi. Ngoài ra tôi không sợ gì nữa cả.

Cuối cùng thì vị thiền sư cũng bằng lòng làm theo yêu cầu của anh ta và căn dặên: "Đây ta truyền cho ngươi câu thần chú này. Mỗi lần ngươi đọc câu thần chú này thì lập tức có một con quỷ hiện ra và nó sẽ làm tất cả những gì ngươi sai khiến nó. Nhưng hãy nhớ. Khi nó hiện ra rồi thì ngươi phải có cái gì đó cho nó làm, nếu không nó sẽ vặn cổ ngươi đó". Thế là anh nông dân nghèo đó hí hửng ra về mang theo câu thần chú mà anh cố gắng nhớ trong đầu. Về đến nhà, anh liền niệm câu thần chú ấy, và lập tức có một con quỷ hiện ra để sẵn sàng chờ lệnh của anh. Anh liền bảo nó xây cho anh một toà lâu đài lộng lẫy vào hạng bậc nhất thế giới. Tưởng đâu mấy tháng mới xong, không ngờ chỉ có 3 phút là xong. Anh liền bảo nó đi tìm cho anh một cô mỹ nữ về làm vợ, vì trước đây chẳng có ai thèm lấy anh. Tưởng mấy ngày mới xong, nào ngờ cũng chỉ có 2 phút là xong. Anh liền bảo nó dọn cho anh một bữa ăn ngang hàng với các bậc vua chúa trần gian. Tưởng mấy tiếng đồng hồ mới xong, ai ngờ chỉ có 1 phút là xong. Lúc này anh ta mới sợ hãi và cuống cuồng lên vì biết lấy gì mà sai nó làm nữa đây. Con quỷ liền thúc giục anh ra lệnh cho nó làm, nếu không nó sẽ vặn cổ anh ngay đấy. Anh nông dân sợ hãi quá liền sai nó đưa anh ta đi gặp vị thiền sư ngay. Khi gặp được vị thiền sư thì anh khóc lóc thảm thiết và nói lên nổi sợ hãi của anh. Vị thiền sư mới nói với anh: "Ta đã nói với anh rồi, nó nguy hiểm lắm mà anh không chịu nghe ta. Thôi ta chỉ cho ngươi cách này là ngươi hãy về nhà và sai nó ngồi vuốt đuôi chó cho thẳng ra. Thế là con quỷ đó ngồi vuốt đuôi con chó cho đến vĩnh cửu!

Chúng ta hay tưởng tượng và cho rằng ước mơ của mình và của con người trong cuộc đời này nó lớn lắm. Nhưng quay đi quẫn lại cũng chỉ là chuyện làm sao tôi được giàu có, được ăn sung mặc sướng, được vợ đẹp con ngoan mà thôi. Nó không lớn như chúng ta tưởng đâu! Vì thế, nếu chúng ta không biết làm cho cuộc đời của mình có những ước mơ cao thượng hơn chuyện cơm áo bạc tiền thì chúng ta quả là những con người đáng tội nghiệp ở trần gian này!

Ma quỷ vì hiểu rõ những suy tính và ước muốn của con người là chỉ quanh quẩn trong những chuyện như thế, nên chúng không ngừng cám dỗ con người làm sao có thật nhiều của cải, hưởng thụ thật nhiều, cố tạo uy quyền cho mình thật nhiều... bất chấp những thủ đoạn gian ác và nguy hiểm.

Chúng ta hãy nhìn vào gương của Chúa Giêsu để học cùng Ngài và xin Ngài giúp chúng ta biết cách chiến đấu và chiến thắng trước những cơn cám dỗ tinh vi và nguy hiểm của ma quỷ trong cuộc sống đời thường của chúng ta. Phương thế đế chúng ta có thể chiến thắng với những mưu chước của ma quỷ là hãy hướng về Thiên Chúa, kiếm tìm thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời này như Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta. Hãy cảnh giác với việc lạm dụng Lời Chúa hay giải thích sai lệch Lới Chúa để đi tìm những điều nhằm thoả mãn cho mình.

Có rất nhiều người mở miệng ra là nói Lời Chúa nhưng chỉ toàn tìm những câu Lời Chúa nghe có vẻ là lạ rồi giải thích theo ý của mình và cuối cùng là dẫn anh đến một cuộc sống hoàn toàn sai lệch. Ma quỷ trong khi cám dỗ Đức Giêsu cũng không ngừng trích dẫn Lời Chúa hầu giăng lưới chụp bắt Đức Giêsu và làm cho Đức Giêsu trở thành người thách thức Thiên Chúa và nghi ngờ Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu đã tỉnh thức trước những mưu chước đó và đã chiến thắng cách vẻ vang nhờ Ngài áp dụng Lời Chúa cách đúng đắn.

 

 6. PHÂN TÍCH VÀ CHÚ GIẢI ĐOẠN KINH THÁNH: Mt 4,1-11

 

I. Dẫn Nhập

Đức Giê-su đã mặc lấy xác phàm, xuống nhân loại để cứu độ, cảm thông, chia sẻ những đau khổ của con người. Trong Tân Ước, chúng ta gặp thấy nhiều bản văn chứng tỏ cách minh bạch rằng, Đức Giê-su có một tâm linh nhân loại đích thực, tức là một linh hồn biểu lộ ra bằng những cảm xúc nhân loại như: nóng giận (Mc 8,12), buồn sầu (Mt 26,38). Đoạn Tin Mừng của Mát-thêu trong chương 4,1-11, kể câu chuyện Chúa Giê-su chịu thử thách cho chúng ta một hình ảnh về Thiên Chúa: Người cũng đã trải qua thử thách, đau khổ như ta (Dt 2,7), và là Đấng cảm thương mọi nỗi yếu hèn của ta, Đấng ấy đã trở nên giống ta mọi đàng, trừ tội lỗi (Dt 4,15) để bộc lộ rõ một bản tính nhân loại đích thực của Ngài.

Trong bài viết này, chúng ta cùng tìm hiểu đâu là lý do Đức Giê-su chịu cám dỗ? Người đã bị cám dỗ trên những phương diện nào, và đã chiến thắng ma quỷ ra sao? Và từ đó tìm ra ý nghĩa của việc Đức Giê-su chịu cám dỗ. Đó là lý do chúng ta cần phân tích dựa vào cấu trúc đoạn văn Mt 4,1-11. Với mục đích như thế, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu bối cảnh và cấu trúc đoạn văn, đồng thời đối chiếu đoạn Kinh Thánh của Mát-thêu với các Tin Mừng khác. Sau đó, chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết bản văn và đưa ra ý nghĩa thần học của bản văn.

II. Bối Cảnh và Cấu Trúc

1. Bối cảnh

Đoạn văn này nằm trong phần mở của Tin Mừng thứ nhất, nằm ngay sau phần trình thuật về việc Chúa Giê-su chịu phép rửa ở sông Gio-đan. Chúng ta có thể xác định vị trí theo lược đồ sau đây:

“A. Mt 3,1-4: Lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả và câu trích Is 40,3.

B. Mt 3,5-15: Gio-an và Đức Giê-su: cuộc đối đầu giữa niềm hy vọng Đấng Mê-si-a.

C. Mt 3,16-17: Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha đăng quang Mê-si-a.

B’. Mt 4,1-11: Đức Giê-su và ma quỷ: Loại trừ niềm hy vọng Đấng Mê-si-a trần tục.

A’. Mt 4,12-17: Lời rao giảng của Đức Giê-su và câu trích Is 8,23-9,1. Kết luận và chuyển mạch (Mt 4,18-25)”[1].

Như vậy, trình thuật này là một sự liên tục, nối kết phần trước, vì Thần Khí đã ngự xuống trên Đức Giê-su tại sông Gio-đan (Mt 3,16) bây giờ sẽ dẫn Ngài vào hoang địa để chịu cám dỗ (Mt 4,1). Hơn nữa, trong trình thuật chịu phép rửa, Đức Giê-su đã được Chúa Cha giới thiệu là Con Yêu Dấu của Người. Giờ đây, Người Con Yêu Dấu này chứng thực lời giới thiệu trên qua việc đón nhận những thử thách, nhưng luôn trung thành, vâng phục sống cho thánh ý Cha tới cùng. Mặc dù Mát-thêu nói với chúng ta rằng Thánh Thần dẫn Đức Giê-su vào trong hoang địa, điều đó có nghĩa rằng Chúa Giê-su đã bước đi trong sự tự nguyện. Không có sự xung đột giữa ý định của Đức Giê-su với thánh ý của Chúa Cha hay của Chúa Thành Thần[2].

Thật vậy, trong đoạn văn này, chúng ta bắt gặp một sự song hành thú vị nhất với kinh nghiệm của Ít-ra-en ở nơi sa mạc. Sau kinh nghiệm về sự giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập và thiết lập một tương quan giao ước, dân Ít-ra-en đã trải qua kinh nghiệm trong sa mạc. Trình tự trong tường thuật về Chúa Giê-su cũng có nét tương tự như vậy: sau khi trở về từ Ai Cập, chúng ta có phép rửa (theo một số học giả, giống như việc vượt qua Biển Đỏ của Ít-ra-en), hơn nữa tất cả các câu trả lời của Chúa Giê-su với tên cám dỗ đều được trích trong Xh 6-8.  Do đó, Đức Giê-su là hiện thân của Ít-ra-en và là người thực hiện mọi hy vọng của họ, Người lặp lại kinh nghiệm của chính mình về kinh nghiệm của Ít-ra-en, với một sự khác biệt lớn rằng, trong khi Ít-ra-en thất bại trong thử thách ở nơi hoang địa, thì Đức Giê-su đã chiến thắng và Người là Mô-sê mới, lãnh đạo cuộc xuất hành mới. Ngoài ra, câu chuyện Đức Giê-su chịu thử thách này cũng là để “giữ trọn đức công chính” như đã được nói tới trong biến cố chịu phép rửa tại sông Gio-đan (Mt 3,15)[3].

2. Cấu trúc bản văn[4]

Dựa vào trình tự các sự kiện xảy ra trong trình thuật và nội dung của nó, bản văn có thể được phân chia theo cấu trúc như sau:

  • Bối cảnh cám dỗ (Mt 4,1-2).
  • Cám dỗ thứ nhất: Cơm bánh (Mt 4,3-4).
  • Cám dỗ thứ hai: Tín thác vào Thiên Chúa (Mt 4,5-7).
  • Cám dỗ thứ ba: Quyền lực và vinh quang (Mt 4,8-10).
  • Kết cục: Đức Giê-su chiến thắng các cám dỗ (Mt 4,11).

3. Đối chiếu với các bản văn Tin Mừng Nhất Lãm

 “Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều thuật lại biến cố Chúa Giê-su chịu thử thách trong hoang địa. Trình thuật của Mác-cô thì vắn tắt (Mc 1,12-13), trong khi hai trình thuật của thánh Mát-thêu và Lu-ca dài hơn, nói rõ ràng hơn, cụ thể nói Đức Giê-su chịu cám dỗ mấy lần, và về những vấn đề nào (Mt 4,1-11; Lc 4,1-13)”[5]. Có sự giống nhau trong tường thuật của ba Tin Mừng về địa điểm Chúa chịu thử thách (hoang địa), về thời gian thử thách (bốn mươi ngày đêm), về việc Thánh Thần dẫn Chúa Giê-su vào hoang địa. “Cả ba Tin Mừng đều đồng ý trong việc định vị kinh nghiệm cám dỗ của Chúa Giê-su ở vùng hoang địa, gần như chắc chắn là vùng hoang địa của Giu-đê, có lẽ không xa nơi Gio-an đang rửa tội”[6].

Bên cạnh đó, cũng có những sự khác biệt giữa ba Tin Mừng, ví dụ như “người cám dỗ” ngay ở đầu trích đoạn: Mát-thêu dùng từ “ho peirazon – Tên cám dỗ”, trong khi Mác-cô dùng “ho Satan – Sa-tan” và Lu-ca lại dùng “ho diabolos – Ma quỷ”[7]. Và chỉ có riêng Mát-thêu thêm yếu tố “bốn mươi đêm” vào trong bản văn của mình. Mát-thêu trình bày rất chi tiết về nội dung của các cuộc thử thách trong khi Mác-cô không hề đề cập đến điều này (Mt 4,3-10). Hơn nữa, trong Mác-cô, Đức Giê-su dường như chịu thử thách trong bốn mươi ngày tại hoang địa; trong khi Mát-thêu và cả Lu-ca cho thấy Đức Giê-su chỉ bắt đầu chịu thử thách sau khi Ngài đã ăn chay bốn mươi đêm ngày. Và các lần thử thách của Mát-thêu và Lu-ca cũng không ở tại hoang địa hoàn toàn như Mác-cô, nhưng lần thử thách thứ hai và lần thứ ba thì xảy ra ở ngoài hoang địa. Một điểm khác nữa nếu so sánh bản văn của Mác-cô và Mát-thêu là việc Mác-cô thêm vào cụm từ “sống giữa bầy dã thú”. Việc Mác-cô thêm vào cụm từ này ở đây như muốn người đọc nối kết với hình ảnh Đức Giê-su là A-đam mới[8] Có sự khác biệt về thứ tự nơi chốn trong cuộc thử thách thứ hai và thứ ba, trong câu chuyện của Lu-ca có sự đảo ngược so với Mát-thêu; với Mát-thêu ông thêm vào từ ngữ “núi” (Mt 4,8) và Lu-ca thêm vào từ ngữ “Giê-ru-sa-lem” (Lc 4,9).

III. Phân Tích Đoạn Văn

1. Bối cảnh cám dỗ (Mt 4,1-2)

Hai câu mở đầu này cho thấy bối cảnh các cơn cám dỗ: không gian, thời gian, tác nhân, sự kiện.

Câu 1: “Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ”

Câu chuyện cám dỗ xảy ra ngay sau trình thuật Đức Giê-su chịu phép rửa, nên cũng có thể hiểu rằng Thần Khí đã dẫn Đức Giê-su vào trong hoang địa cũng chính là Thần Khí đã ngự trên Ngài tại sông Gio-đan. Có thể thấy, “hoang địa là một đề tài quan trọng của Thánh Kinh, vì hoang địa gây ảnh hưởng lớn trong suốt lịch sử dân Thiên Chúa. Lịch sử này đã ghi lại hai kỷ niệm có vẻ mâu thuẫn nhau. Thời gian hoang địa được trình bày như là thời ký sống lý tưởng vì lý tưởng tôn giáo được phát triển. Thời kỳ này cũng được xem là thử thách, thậm chí là một hình phạt”[9]. Hơn nữa, “theo niềm tin của Do Thái Giáo, hoang địa là nơi của ma quỷ, là nơi nguy hiểm (Lv 16,10; Đnl 32,10)”[10].

Trước khi bắt đầu sứ vụ, chính Đức Giê-su vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ. “Đây là một lựa chọn nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Tư cách Mê-si-a của Đức Giê-su cần được thử thách. Và sự thử thách ấy là cần thiết”[11]. Trong Cựu Ước, việc chịu thử thách liên quan đến giao ước để kiểm định xem bên giao ước có trung thành hay không. “Với Ít-ra-en thử thách là để xem họ có trung thành với Chúa không. Còn trong Mt 4,1-11, sự thử thách nhằm để biểu lộ lòng trung thành của Người Con”[12].

“Quỷ dữ, từ ngữ Hy Lạp là “diabolos” có nghĩa là kẻ tố cáo, kẻ vu khống. Trong Kinh Thánh, quỷ xuất hiện như là kẻ tố cáo, ông hoàng của thế gian, tên cám dỗ. Dù được gọi theo tên nào đi nữa thì quỷ vẫn là một đối thủ, một kẻ thù của Thiên Chúa và của loài người, nghĩa là chống lại sự thiện”[13].

Câu 2: “Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày”.

Con số bốn mươi chỉ một thời gian khá dài và có sắc thái là một sự hoàn tất với kết quả tích cực là giải phóng và xây dựng con người. So với Lu-ca, Mát-thêu thêm vào “bốn mươi đêm để ám chỉ thời gian Đức Giê-su ở trong hoang địa nhằm ám chỉ đến Mô-sê. Chúa Giê-su nhịn ăn bốn mươi ngày bốn mươi đêm. Ngài không có gì để ăn. Vì Xh 34,28 nói với chúng ta rằng Mô-sê không có thức ăn và nước uống trong bốn mươi ngày trên núi Si-nai, có vẻ như Chúa Giê-su cũng không có thức ăn nước uống trong thời gian nhịn ăn. Trong bốn mươi ngày đó, Chúa Giê-su phải đối mặt với sự cám dỗ liên tục từ ma quỷ. Thật thú vị khi để ý đến tần suất số bốn mươi xảy ra trong Kinh Thánh. Trận lụt lớn bắt đầu với trận mưa lớn kéo dài bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Ít-ra-en đã trải qua bốn mươi năm trong vùng hoang địa trên đường từ Ai Cập đến vùng đất Ca-na-an. Tiên tri Ê-li-a một lần nhịn ăn trong bốn mươi ngày. Và ngôn sứ Giô-na cảnh báo rằng thành phố Ni-ni-vê sẽ bị phá hủy sau bốn mươi ngày nếu người dân không ăn năn. Chúa Giê-su lên trời bốn mươi ngày sau lễ Phục sinh[14].

Như vậy, “khi gợi nhớ giai đoạn dân Ít-ra-en đi trong sa mạc Si-nai cùng với hai nhân vật quan trọng đại diện cho Lề Luật và Ngôn Sứ, Mát-thêu cho thấy việc Đức Giê-su vào sa mạc để chịu thử thách đã tóm kết kinh nghiệm của Ít-ra-en vào thời kỳ đi trong sa mạc và cả kinh nghiệm của Mô-sê và Ê-li-a”[15].

2. Cám dỗ thứ nhất: Cơm bánh (Mt 4,3-4)

Trong lần cảm dỗ thứ nhất, một mặt quỷ dữ muốn cám dỗ để xem Đức Giê-su khi gặp tình trạng đói khát có kêu trách Thiên Chúa và đánh mất sự trung tín vào Ngài không. Mặt khác nó cũng muốn xem Đức Giê-su có làm như Mô-sê là hóa man-na không.

Câu 3: “Tên cám dỗ đến gần Người và nói “Nếu ông là con Thiên Chúa thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!””.

 Trong khi Lu-ca giữ nguyên thuật ngữ “diabolos - quỷ dữ” thì Mát-thêu sử dụng “peirazon - tên cám dỗ”, qua đó cho thấy mục đích của việc Đức Giê-su vào sa mạc là để chịu cảm dỗ và thử thách. Việc Mát-thêu dùng từ “tên cám dỗ” ở đây dường như muốn diễn tả là “kẻ đầu mối” của mọi sự dữ. Sau này, những nhà lãnh đạo Do Thái cũng đặt Đức Giê-su vào thử thách như tên cám dỗ ở đây, và họ cũng bị Chúa coi như nòi rắn độc, xấu xa (Mt 12,34-35, 39,45)[16].

 “Nếu ông là Con Thiên Chúa”: Câu này được lặp lại trong cơn cám dỗ thứ hai Mt 4,6 và được thể hiện chi tiết cụ thể trong cả ba cơn cám dỗ. “Cám dỗ này do bởi ma quỷ thử thách Đức Giê-su dưới chân Thập Giá do bởi người Do Thái (Mt 27,40) song song với nhau. Chúng nhắm đến tư cách Mê-si-a của Đức Giê-su. Đây cũng là lời thử thách Đức Giê-su làm lại các cử chỉ của Mô-sê, để chứng tỏ Đức Giê-su đã đến”[17]. Hơn nữa, “thử thách này cũng liên hệ tới hình ảnh Ít-ra-en bị thử thách về lương thực trong hoang địa và đã càm ràm Đức Chúa”[18].

“Truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!”: “Đây là một lời thách thức không nhằm tỏ ra phép lạ, vì không có ai trong sa mạc để chứng kiến. Do đó, trong bối cảnh, lời thách thức này gợi lại việc Thiên Chúa nuôi dân trong suốt hành trình sa mạc (Đnl 2,7)”[19].

“Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”: “Đức Giê-su dùng Lời Chúa rút ở Đnl 8,3 mà trả lời. Một đàng phải thỏa mãn phương tiện thường ngày trước đã. Đàng khác cho thấy nhu cầu vật chất, dầu là cơm bánh cũng không quan trọng bằng Lời Chúa”[20].

3. Cám dỗ thứ hai: tín thác vào Thiên Chúa (Mt 4, 5-7)

Xét về thứ tự, cơn cám dỗ này trong Mát-thêu tương đương với cơn cám dỗ thứ ba trong Lu-ca 4, 9-12.

Câu 5: “Quỷ đem Người đến thành thánh và đặt Người trên nóc đền thờ”.

“Thành thánh là một danh từ tôn giáo để chỉ thành Giê-ru-sa-lem (Mt 27,53; Kh 11,2). Thành này còn được gọi là thành Đức Vua cao cả (Mt 5,35). Khi viết cho dân ngoại, thánh Lu-ca cho biết đó là Giê-ru-sa-lem”[21].Giê-ru-sa-lem được coi là trung tâm của thế giới, Đức Giê-su cũng đang ở thành thánh trên nóc đền thờ. Ngài đang đứng ở vị trí cao nhất thế giới theo truyền thống Ráb-bi. Và Đền Thờ luôn là nơi được coi là có sự bảo vệ của Thiên Chúa (Xh 21,12; Tv 61,4-5)[22]. “Trong trường hợp này gọi là thành thánh vì có Đền Thờ nơi Thiên Chúa ngự trị được xây trên đó, chứ không đề cập đến việc có Dân Thánh tụ họp trong Đền Thờ”[23].

Câu 6a: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi!”.

“Nếu ông là Con Thiên Chúa”: Vẫn là một sự thách thức về tư cách Mê-si-a, Con Thiên Chúa của Đức Giê-su.

“Gieo mình xuống đi!”: Lần thứ hai, ma quỷ cũng cám dỗ Đức Giê-su về quyền phép. “Ma quỷ đã trích lời trong Tv 91 nhưng nó đã cắt đi cụm từ “giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường” (Tv 91,11) nhằm xúi giục Đức Giê-su kiểm chứng lời hứa về sự quan phòng của Thiên Chúa. Bản văn này cũng như Đnl 8,3, không chỉ nhằm vào Đấng Cứu Độ mà thôi, nhưng là mọi người Ít-ra-en trung tín, chỉ tin cậy vào Thiên Chúa”[24].

Câu 7: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là thiên Chúa của ngươi”.

Đức Giê-su đã từ chối đề nghị này của ma quỷ. Thử thách Thiên Chúa là một đề tài lớn trong Cựu Ước (Xh 17,2-7; Ds 14,22; Đnl 6,16; Tv 78,18). “Theo bản văn này thì thử thách Thiên Chúa là: hoài nghi khả năng và lòng tốt của Người, bất tuân Thiên Chúa để  xem Người nhịn nhục đến đâu, lạm dụng lòng tốt của Thiên Chúa, ở đây thử thách Thiên Chúa được hiểu theo nghĩa thứ ba”[25]. “Câu mà Đức Giê-su dùng để đối lại với quỷ dữ được Mát-thêu trích trong Đnl 6,16. Bối cảnh của đoạn văn này Mô-sê nhắc lại cho dân đừng thử thách Đức Chúa như thách thức Người tại Ma-xa, từ đó khuyên họ luôn trung thành với mệnh lệnh củ Đức Chúa”[26].

Tuy nhiên không giống Ít-ra-en càm ràm, kêu trách Chúa (Ds 14,22; Tv 78,17-20), Đức Giê-su hoàn toàn tin tưởng nơi Thiên Chúa. Sự tin tưởng, và vâng phục này dường như kéo dài suốt cuộc đời sứ mạng của Đức Giê-su. Thậm chí, ngay cả khi quẫn bách nhất, lúc Ngài bị bắt trong vườn Giêt-sê-ma-ni, Đức Giê-su vẫn từ chối thử thách Thiên Chúa bằng cách xin sự trợ giúp của Thiên Thần (Mt 26,53-54)[27].

4. Cám dỗ thứ ba: quyền lực và vinh quang (Mt 4, 8-10)

Câu 8: “Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi cao, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy”.

“Một ngọn núi cao”: Thánh Mát-thêu không nói rõ ngọn núi nào. Thử thách thứ 3 ở trên núi cao này dường như đối lập với Mt 28,18. Nơi đó, Mát-thêu cho thấy Đức Giê-su đã được Chúa Cha trao ban cho toàn quyền trên trời dưới đất (Mt 28,18) sau khi Ngài vâng phục Ý Cha toàn toàn trong cuộc vượt qua. Quyền Chúa Cha trao còn lớn hơn cả những gì ma quỷ hứa cho những ai thờ lạy nó (Mt 4,9).  Nơi đó, Đức Giê-su không bái lạy ai mà những môn đệ, những người tin theo sẽ bái lạy Ngài. Như thế, trên ngọn núi ở Mt 4,9 này Đức Giê-su từ chối bái lạy Sa-tan để có quyền lực trên thế gian, thì ở một ngọn núi khác Chúa Cha đã trao cho Ngài mọi quyền uy[28]. Có những nỗ lực nhằm xác định đây là ngọn núi nào để có thể nhìn thấy tất cả vương quốc. Trình thuật này có thể chịu ảnh hưởng từ việc mô tả ông Mô-sê được chỉ cho thấy vương quốc Ít-ra-en từ núi Pít-ga (Đnl 3,27) và núi Nơ-vo (Đnl 34,1-4). Tuy nhiên, trong trường hợp của Chúa Giê-su, Ngài được chỉ cho thấy tất cả các nước trên trần gian[29].

“Vinh hoa của các  nước ấy”: “Doxa – vinh quang”, “đây là một từ ngữ Kinh Thánh để chỉ sự lộng lẫy huy hoàng hoặc giàu sang, sung túc được tỏ ra bên ngoài”[30]. Cũng có thể hiểu là “quyền thế do tiền bạc và sức mạnh quân sự, chính trị (Lc 4,6; Mt 6,29; Lc 12,27)”[31]

Câu 9b: “Nếu ông sấp mình bái lạy tôi”.

“Quỷ dữ sử dụng động từ bái lạy được sử dụng trong trình thuật về các nhà chiêm tinh (Mt 2,2-8,11) và sẽ tái hiện trong trình thuật về Đức Giê-su phục sinh. Bái lạy là một cử chỉ, một hành động nói lên sự suy phục hoàn toàn. Quỷ dữ muốn Đức Giê-su bái lạy nó và giá được trả là quyền lực và vinh quang”[32].

Câu 10: “Sa-tan kia xéo đi! Ngươi phải bái lạy Đức Chúa”.

“Sa-tan kia xéo đi”:Đức Giê-su dùng cụm từ này như dùng với ông Phê-rô trong Mt 16,23 khi ông chối bỏ lời tiên báo cuộc khổ nạn mà Đức Giê-su đã tiên báo trước đó trong Mt 16,21”[33].­ Và câu mắng này của Đức Giê-su cũng cho thấy Ngài có quyền trên Sa-tan và chúng phải tuân phục Ngài. “Câu trả lời của Đức Giê-su đối với thử thách này vọng lại lời tuyên xưng của Ít-ra-en về một Thiên Chúa Duy Nhất (Đnl 6,4). Và đây được coi là chóp đỉnh của cả ba cuộc thử thách”[34].  

“Ngươi phải bái lạy Đức Chúa”:Đức Giê-su đã dùng Kinh Thánh để vượt qua cám dỗ và chiến thắng thử thách. Câu này được trích trong Đnl 6,13. Tuy nhiên Mát-thêu đã sử dụng thuật ngữ “bái lạy” thay cho “kính sợ” và thêm vào chữ “mà thôi””[35].

5. Kết cục: Đức Giê-su chiến thắng các cám dỗ (Mt 4,11)

Câu 11: “Quỷ dữ bỏ Người mà đi. Các thiên sứ tiến đến hầu hạ Người”.

“Quỷ dữ bỏ Người mà đi”: “Những lời Đức Giê-su đáp lại tên cám dỗ cho thấy Người là Con Thiên Chúa và đã hết lòng tín thác vào Thiên Chúa như thế nào. Sau ba lần cám dỗ, không còn cách nào để cám dỗ Đức Giê-su và quỷ đã bỏ Người mà đi”[36].

“Các thiên sứ tiến đến hầu hạ Người”: “Hành động hầu hạ có hai nghĩa: hầu hạ bằng cách mang lương thực cho Đức Giê-su vì Người đang đói sau khi đã vượt qua cơn thử thách về cơm bánh, các thiên sứ vâng lời Chúa Cha đến hầu hạ Đức Giê-su vì Người hằng tin tưởng vào Thiên Chúa”[37].

IV. Thần Học Của Đoạn Văn

Sau khi phân tích bản văn Mt 4,1-11 và hiểu được lý do tại sao Đức Giê-su chịu ma quỷ thử thách và hiểu được các cơn cám dỗ của Đức Giê-su, chúng ta cùng đưa ra vài điểm thần học rút từ bản văn này.

Thứ nhất, bản văn đã khắc họa chân dung Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người. Đấng đã chia sẻ trọn vẹn những yếu đuối của thân phận làm người như chúng ta: “Người không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, chỉ trừ tội lỗi” (Hr 4,15). “Bởi vì Đức Giê-su đến để hoàn hoàn tất nỗi mong chờ của Dân Người, nhất thiết Đức Giê-su phải đảm nhận mọi chiều kích của lịch sử Dân Người: ở tại Ai Cập (Mt 2,13-15), đi qua sông Gio-đan (Mt 3,13-17), cám dỗ (Mt 4,1-11)”[38]. Thật vậy “Đức Giê-su đã trải qua những cung bậc của cuộc sống con người và nhất là đã sống kinh nghiệm của chính dân Ít-ra-en. Tuy nhiên, trong khi dân Ít-ra-en chịu thử thách và đã sa ngã, thì Đức Giê-su cũng chịu thử thách nhưng Người đã vượt qua”[39].  

Thứ hai, bản văn diễn tả một chân dung Mê-si-a mới. Người Do Thái thời bấy giờ, họ mong chờ một Mê-si-a theo nghĩa chính trị, quyền lực. Nhưng khác với sự mong đợi của họ.  “Qua các cơn cám dỗ, Đức Giê-su cho thấy Người chấp nhận trọn vẹn ý của Thiên Chúa. Người đã loại trừ mọi cung cách Mê-si-a mà Thiên Chúa không muốn, mà chính Gio-an Tẩy Giả đã hình dung, để chấp nhận làm một Mê-si-a chịu đóng đinh”[40]. Trung tâm của trình thuật là sự từ khước một sứ mệnh cứu độ theo chiều hướng trần tục, mà suốt đời Đức Giê-su đã luôn từ khước. Người đã chiến đấu với Sa-tan cho đến chết và đã phục sinh vinh hiển. “Thánh Mát-thêu đã ghi lại với một thể văn tranh luận nhằm nói đến sự siêu việt của Đức Giê-su với Sa-tan”[41].

Thứ ba, tất cả bài tường thuật về cám dỗ tập trung vào biến cố xuất hành nơi họ bị thử thách liên quan đến việc chuẩn bị vào Đất Hứa (Đnl 1,31; 8,5). “Dân Ít-ra-en cũng chính là Con yêu dấu của Thiên Chúa, nhưng tất cả cuộc hành trình trong sa mạc cho thấy họ là một đứa con nổi loạn và thất trung (Đnl 6,16; Ds 14,22). Bản văn Đệ Nhị Luật nói rằng Thiên Chúa thử thách dân “để biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người không” và trong những thử thách đó có thử thách về đói. Còn ở đây, trong bản văn Mát-thêu, thử thách là để phá hỏng, kẻ thử thách là ma quỷ”[42]. Nói về thử thách, Cựu Ước cho rằng Thiên Chúa có thể thử thách Ít-ra-en, nhưng Ít-ra-en không bao giờ được thử thách Thiên Chúa (Đnl 6,16). “Trong trình thuật, người xuất hiện như một Tân Ít-ra-en”[43]. “Đức Giê-su đã đứng vào vị trí của dân Ít-ra-en để đón nhận những lời khuyến cáo của Mô-sê trong Đnl 6-8. Thay cho gương xấu, Đức Giê-su đã trở thành một mẫu gương về lòng tín thác vào Thiên Chúa”[44].

Cuối cùng, một điểm thần học mà bản văn cũng cho thấy đó là sự vâng phục của Đức Giê-su. Như chúng ta thấy, trong những lời được phán ra từ Thiên Đàng sau phép rửa, Chúa Giê-su không chỉ được mời gọi sống vâng phục như Người Con, nhưng như còn một Tôi Trung. Do đó, Người được kêu gọi để nêu gương vâng phục theo ý muốn của Cha qua việc chịu thử thách và bị bỏ rơi. Cụ thể, Ngài sẽ chỉ thể hiện vai trò Mê-si-a của mình phù hợp với thánh ý Chúa Cha. Trong bản văn này, chúng ta bắt gặp một chủ đề rất quan trọng trong thần học của các sách Tin Mừng. Mục đích của sự vâng phục Chúa Cha không phải bằng sự tự khẳng định chiến thắng, không phải bằng sự thực thi quyền lực và uy quyền, mà là nghịch lý bởi cách khiêm nhường, phục vụ và đau khổ[45]. Qua các cám dỗ, “Người không muốn dùng quyền lực thiêng liêng vào mục đích thế tục, cũng không vô cớ bắt Thiên Chúa phải làm phép lạ cứu vớt Người, và sau hết cũng không đầu phục Sa-tan”[46]. Ma quỷ đã cám dỗ Đức Giê-su, con người đầu tiên của cuộc tạo dựng mới và cố đưa Ngài vào đường tội lỗi. Nhưng Đức Giê-su đứng vững. Chiến thắng của Ngài trên ma quỷ nhằm phục hồi sự sống cho nhân loại. Thánh Phao-lô quả quyết: “Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,18-19).

KẾT LUẬN

Chúng ta đã phân tích đoạn văn nói về việc Đức Giê-su chịu cám dỗ trong sa mạc trong Mt 4,1-11 để thấy được chân dung Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người, cũng như thấy được thái độ vâng phục hoàn toàn của Chúa Giê-su vào Thiên Chúa Cha. Khởi đi từ việc Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào nơi hoang địa để ăn chay (Mt 4,1-2). Sau đó là các cơn cám dỗ về cơm bánh (Mt 4,3-4); cám dỗ về sự tín thác vào Thiên Chúa (Mt 4,5-7); cám dỗ về quyền lực và vinh quang (Mt 4,8-10) để đi đến một chung cục là Đức Giê-su đã chiến thắng tất cả các cám dỗ (Mt 4,11).

Những cám dỗ của Đức Giê-su cho thấy Ngài đã cảm nghiệm một cuộc chiến nội tâm giữa chính tà, ngay cả chúng ta cũng có thể cảm nghiệm sâu xa nơi tâm hồn, nơi đó có sự giằng xé, tranh đấu giữa thiện và ắc, giữa bóng tối và ánh sáng. Nói khác đi, những cám dỗ của Đức Giê-su chứng tỏ Ngài là con người thực sự như chúng ta. Chúng ta đã thấy Đức Giê-su đã phản ứng ma quỷ như thế nào. Ngài phản ứng khác hẳn cách của chúng ta. Như thế, câu chuyện cám dỗ không chỉ là của Đức Giê-su, nhưng là của tất cả nhân loại, nhưng xcon người cũng đang chiến đấu hằng ngày với cám dỗ. Thế nên, Đức Giê-su trong câu chuyện này trở thành mẫu mực cho bất kỳ Ki-tô hữu nào trong việc sống và thi hành thánh ý Chúa Cha trong mọi cơn thử thách của cuộc sống mình, “để trong mọi thủ thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,32).

 

[1] Fx.Vũ Phan Long, Các bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng vụ , Tôn giáo, Hà Nội 2007, 74.

[2] Cf. G. J. Albrecht, - M. J. Albrecht, Matthew – The People’s Bible, Northwestern Pub. House, Milwaukee, Wis 1996, 45.

[3] Cf. W. D. Davies, - D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew (Vol. 1), T&T Clark International, New York 2004, 354.

[4] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 119.

[5] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 67.

[6] D. A. Hagner, Matthew 1-13 (Word Biblical Commentary, Vol. 33A), Word, Dallas 2002, 63.

[7] Cf. N. Freedman, The Anchor Yale Bible Dictionary (Vol. 6), Doubleday, New York 1996, 382.

[8] Sđd..

[9] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 75.

[10] W. D. Davies, - D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew (Vol.1), T&T Clark International, New York 2004, 354.

[11] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 75.

[12] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018 , 21.

[13] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 76.

[14] Cf. G. J. Albrecht, - M. J. Albrecht, Matthew – The People’s Bible, Northwestern Pub. House, Milwaukee, Wis 1996, 45.

[15] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 123.

[16] Cf. J. D. Kingsbury, Matthew as Story, Fortress Press, Philadelphia 1986, 56.

[17] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 76.

[18] W. D. Davies, - D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew (Vol.1), T&T Clark International, New York 2004, 362.

[19] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 124.

[20] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 69.

[21] Sđd..

[22] Cf. W. D. Davies, - D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew (Vol.1), T&T Clark International, New York 2004, 365-366.

[23] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 126.

[24] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 69-70.

[25] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 69-70.

[26] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát-thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 128.

[27] Cf. U. Luz, - H. Koester, A Commentary on Matthew 1-7, Fortress Press, Minneapolis 2007, 153.

[28] Cf. W. D. Davies, - D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew (Vol.1), T&T Clark International, New York  2004, 369.

[29] Cf. D. J. Harrington, The Gospel of Matthew (Sacra Pagina, Vol. 1), A Michael Glazier Book, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota 1991, 67.

[30] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 77.

[31] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 71.

[32] D. J. Harrington, The Gospel of Matthew (Sacra Pagina, Vol. 1), A Michael Glazier Book, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota 1991, 67.

[33] Sđd..

[34] U. Luz, - H. Koester, A Commentary on Matthew 1-7, Fortress Press, Minneapolis 2007, 153.

[35] D. J. Harrington, The Gospel of Matthew (Sacra Pagina, Vol. 1), A Michael Glazier Book, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota 1991, 67.

[36] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 132.

[37] Sđd..

[38] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 77.

[39] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 133.

[40] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 77.

[41] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 72.

[42] Fx. Vũ Phan Long, Các Bài Tin Mừng Mát-thêu dùng trong Phụng Vụ, Tôn Giáo, Hà Nội 2007, 78.

[43] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 72.

[44] Giuse Ngô Ngọc Khanh,  Tin Mừng theo thánh Mát thêu – Tổng quát và Nội dung, Học Viện Phanxicô, Tp. HCM 2018, 136.

[45] Cf. D. A. Hagner, Matthew 1-13 (Word Biblical Commentary, Vol. 33A), Word, Dallas 2002, 69.

[46] Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Tu Viện Mai Khôi, Tp. HCM 2001, 72.

 

Phêrô Phạm Trọng Việt, MF