Chúa Nhật 10/03/2019 – Chúa Nhật 1 Mùa Chay Năm C

Lời Chúa: Lc 4, 1-13

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần, liền rời vùng sông Giođan và được Thánh Thần đưa vào hoang địa ở đó suốt bốn mươi ngày, và chịu ma quỷ cám dỗ.

Trong những ngày ấy, Người không ăn gì và sau thời gian đó, Người đói. Vì thế, ma quỷ đến thưa Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho đá này biến thành bánh đi". Chúa Giêsu đáp: "Có lời chép rằng: Người ta không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng lời Chúa nữa".

Rồi ma quỷ lại đem Người lên cao hơn cho xem ngay một lúc tất cả các nước thiên hạ và nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông hết thảy quyền hành và vinh quang của các nước này, vì tất cả đó là của tôi và tôi muốn cho ai tuỳ ý. Vậy nếu ông sấp mình thờ lạy tôi, thì mọi sự ấy sẽ thuộc về ông!" Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi và chỉ phụng thờ một mình Người thôi".

Rồi ma quỷ lại đưa Người lên Giêrusalem, để Người trên góc tường cao đền thờ và bảo rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống, vì có lời chép rằng: "Chúa sẽ truyền cho Thiên Thần gìn giữ ông!" Và còn thêm rằng: "Các vị đó sẽ giơ tay nâng đỡ ông khỏi vấp phải đá". Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi!"

Sau khi làm đủ cách cám dỗ, ma quỷ rút lui để chờ dịp khác.

 

CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY C

Lời Chúa: Dnl 26,4-10; Rm 10,8-13; Lc 4,1-13

 

1. Hai lối sống - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Lịch sử Việt Nam ghi lại các đời vua Chúa hầu hết ăn chơi hại dân, hại nước, còn các hiền tài thanh liêm lại bị hãm hại. Đó là lý do tại sao đất nước bị lạc hậu, chậm tiến, một ngàn năm bị đô hộ giặc Tàu, một trăm năm bị đô hộ giặc Tây.

Lối sống hại dân hại nước của bọn vua Chúa như Lê Uy Mục, Lê Tương Dựa. Uy Mục say mê tửu sắc, hung ác dữ tợn, giết các cận thần và giết cả bà nội. Dân gọi là quỷ vương. Tương Dực lên ngôi chơi bời xa xỉ, loạn dâm. Sứ Tàu bảo ông là tướng lợn. Lối sống tiền tài thanh liêm như Chu Văn An và Lê Quý Đôn đều bị hãm hại cách chức. Thầy Chu Văn An tính ngay thẳng, không màng danh lợi, thiên hạ khen ngài là bậc đạo học mô phạm. Khi vua mời dạy các thái tử trong triều, ông dâng sớ xin chém bảy kẻ gian thần nịnh hót, làm triều đình suy vi, đất nước nguy khốn. Vua không nghe, ông cởi áo quan chức về làng dạy học.

Lê Quý Đôn tính trung hậu, chân thành, làm quan bổng lộc bao nhiêu thường chia hết cho họ hàng, bạn bè nghèo khó, còn ông sống tiết kiệm, chỉ mặc áo vải, ăn cơm rau, khi làm khanh tướng, làm sứ giả sang Tàu ông vẫn học đến nửa đêm. Khi bị cách chức về trí sĩ, sống làm nhà cỏ tranh để ở và dạy học viết sách rất nhiều.

Tin Mừng hôm nay cũng đề cập đến hai lối sống đối kháng nhau như thế: một lối sống của Satan quỷ vương lừa đảo hại người, một lối sống của Đức Giêsu, Đấng Cứu thế, cứu muôn dân, muôn nước. So sánh hai lối sống đó Tin Mừng cho thấy:

Thứ nhất: Lối sống của quỷ vương là ăn nhậu, ăn chơi. Quỷ nói: “Hãy truyền cho hòn đá này ra bánh đi”. Ăn để sống là nhu cầu cần thiết tự nhiên của muôn loài, khi ăn đủ thì thôi. Nhưng sống để ăn là hạng người chỉ thờ cái bụng, tìm thú vui khoái lạc, ăn uống say sưa, chơi bời phóng túng, nghiện ngập xì ke ma túy, châm ngôn của chúng là đớp, hít, hút, mút như đứa con đi hoang, bán cả gia tài của cha, đi ăn chơi với bọn điếm (Lc. 15, 30), gây nên biết bao cảnh nhà tan, cửa nát, xã hội lây nhiễm bệnh tật Sida, mại dâm, trộm cướp, buôn lậu ma túy, tham ô, giết người.

Lối sống của Đức Giêsu là: “Sống nhờ lời do miệng Thiên Chúa phán ra”. Lời Thiên Chúa là lời sáng tạo vũ trụ, vậy nghe lời Thiên Chúa thì hãy phát triển giá trị tinh thần con người vào học hỏi tìm tòi văn hóa, xã hội và khoa học để hiểu biết vũ trụ để chăm sóc, cai quản và sáng chế giúp cho loài người và muôn vật sống tốt đẹp, thích hợp với chương trình Thiên Chúa đã sáng tạo. Lời Thiên Chúa là lời Thánh kinh, lời hằng sống giúp ta vươn lên tới đời sống hạnh phúc bất tử. Vậy hãy cầu nguyện, suy niệm, sống lời Chúa, chiêm ngắm những chân lý vinh quang phục sinh để được sống hạnh phúc muôn đời.

Thứ hai, lối sống của quỷ vương là tâng bốc ta lên ngôi cao, giàu sang, danh vọng, quyền thế. Vì thế “Quỷ đem Đức Giêsu lên một nơi cao, trong chốc lát chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói: Tôi sẽ ban cho ông toàn quyền cai trị, cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này… nếu ông thờ lạy tôi thì tất cả sẽ thuộc về ông”. Quỷ là đồ lừa bịp, tất cả là của Thiên Chúa dựng nên, nó dám lạm dụng tham ô lấy của Chúa làm như của nó để nhử ta, như kẻ câu cá mắc mồi vào lưỡi câu để nhử cá, cá đớp mồi là mắc hóc chết hết đời. Bả vinh hoa đã xúi bao nhiêu kẻ mắc vào kìm kẹp nô lệ cho quỷ. Quỷ là thứ bên ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao. Kẻ thờ ma quỷ sẽ vào chốn cực hình nó ở. Kẻ thờ tiền của quyền thế sẽ như: “Vua Ngô ba mươi sáu lọng vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”.

Lối sống của Đức Giêsu là “Ngươi hãy thờ lạy Thiên Chúa là Chúa ngươi và hãy thờ lậy một mình Ngài mà thôi”. Chỉ có Thiên Chúa là Chúa muôn loài vì Ngài đã tạo dựng muôn vật và ban ơn cho chúng tồn tại. Không còn gì hơn Ngài, vì thế Đức Giêsu dạy chúng ta phải tuyệt đối tôn thờ một mình Thiên Chúa, chúng ta hãy noi gương Đức Giêsu. Người đã không để Satan và dân chúng lôi kéo vào cạm bẫy làm vua dân Israel, mong chế ngự Đế quốc Rôma để cai trị muôn dân đời này. Người đã trả cho Xêda những gì trần tục và trả cho Thiên Chúa những thứ vinh quang. Người sống làm bác thợ mộc, công nhân khó nghèo, làm hiền sư không có chỗ nào gối đầu, làm tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, vác thập giá, nằm trơ trọi giang tay ra cho người ta đóng đinh, Người hoàn toàn giũ sạch bụi trần để kiên trung thờ lạy Thiên Chúa.

Thứ ba lối sống của quỷ vương là muốn đặt chúng ta lên đỉnh đền thờ, nơi loài người chỉ tôn vinh Thiên Chúa, quỷ muốn tôn vinh ta lên thay thế Thiên Chúa để ta rơi xuống hố sâu kiêu ngạo. Vì thế quỷ đem Đức Giêsu đặt trên đỉnh thờ Giêrusalem. Đây là cơn cám dỗ kinh tởm nhất, như nó đưa mình lên đòi bằng Thiên Chúa và đã bị Tổng lãnh thiên thần tống nó xuống hỏa ngục làm quỷ vương. Ngộ Không cũng thế, là khỉ mà đòi lên trời làm Tề Thiên Đại Thánh là bằng Trời, nên đã bị tướng nhà Trời tống xuống trần gian, bị núi đá đè con khỉ suốt 500 năm.

Lối sống của Đức Giêsu là không bao giờ dám thử thách Thiên Chúa, không bao giờ dám đòi Thiên Chúa phải làm phép lạ cứu mình như bọn biệt phái đòi Đức Giêsu làm dấu lạ trên trời. Đức Giêsu không đòi gì cho mình, hoàn toàn theo ý Thiên Chúa: “Lạy Cha xin đừng theo ý con, một theo ý Cha” theo ý Cha để uống chén đắng, để chết hi sinh dù bị nhục nhã đê tiện nhất. Để chống lại cám dỗ đặt mình trên đỉnh đền thờ, Người đã hạ mình xuống đáy vực thẳm trần gian để kéo ta khỏi đáy hố tử thần, lên nơi Người ở: “Hôm nay anh đã được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc. 43).

Lạy Chúa, xin cho con hết lòng hết sức sống theo lối sống của Đức Giêsu, xin Người kéo con ra khỏi xiềng xích của Satan, để đưa con về với Người trên nơi vinh phúc trường sinh.

 

2. Cầu Nguyện

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về việc cầu nguyện trong sa mạc, trong thanh vắng, trong thinh lặng.

Nhìn vào thế giới ngày hôm nay chúng ta nhận thấy khắp nơi đề vang lên những âm thanh ồn ào, con người như chạy đua với vận tốc, vật lộn trong cuộc đấu tranh tìm chén cơm manh áo. Rất ít người biêt tìm lấy những giây phút thinh lặng để cầu nguyện, tâm sự với Chúa. Rất ít người biết quỳ gối trước nhà tạm trong những giây phút rảnh rỗi. Hành động của con người thời nay thì hời hợt bên ngoài, không thấm sâu vào tâm hồn, nó chỉ dừng lại trên bình diện tự nhiên.

Là người tín hữu, chúng ta phải biết đánh giá và làm việc theo tinh thần đức tin. Điều đó có nghĩa là chúng ta không được gác bỏ những công việc bổn phận thường ngày, nhưng hãy chu toàn một cách siêu nhiên, hãy làm những công việc ấy vì lòng yêu mến và gắn bó mật thiết với Chúa. Có như vậy thì những công việc nhỏ bé nhất cũng có được một giá trị trước mặt Thiên Chúa, bởi vì nó đã được Thiên Chúa chúc phúc, đồng thời nó sẽ đem lại những hiệu quả tốt đẹp như lời Chúa đã phán: Không có Thầy, các con không thể làm gì được. Nếu không có sự yêu mến và gắn bó với Chúa, thì những công việc chúng ta làm, kết quả bên ngoài có thể là rất tốt đẹp, nhưng kết quả bề trong, trước mặt Thiên Chúa chỉ là một con số không mà thôi.

Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng Giáo Hội được đổi mới, được cứu độ nhờ vào những công việc rùm beng bề ngoài và mang nặng tính cách quảng cáo. Thế nhưng Thiên Chúa lại hành động một cách khác. Con người chúng ta có thể quay trở về với Chúa bằng những phương tiện siêu nhiên và chỉ có thể được cứu rỗi nhờ vào một đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Chính vì thế mà chúng ta hiểu được việc Chúa Giêsu vào sa mạc để cầu nguyện trước khi bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình, cũng như hiểu được vì sao các đấng thánh, trước khi bắt đầu một công việc trọng đại, nhất là về phương diện tôn giáo, thường cấm phòng, tĩnh tâm, thường tìm lấy những giây phút thinh lặng để cầu nguyện với Chúa.

Để canh tân, để đổi mới trái đất này, Chúa Giêsu đã bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Hơn thế nữa, Ngài còn dùng 30 năm dài để chuẩn bị cho 3 năm sứ vụ của Ngài. Trong khi đó chúng ta thường thích ra tay lèo lái hơn là tồn tâm dưỡng tịnh, chúng ta thường thích hoạt động hơn là cầu nguyện. Bởi đó, giữa sự huyên náo của cuộc đời, chúng ta hãy biết dành lấy cho mình một khoảng sa mạc, một nơi thanh vắng, một thoáng thinh lặng, để thực sự cầu nguyện và kết hiệp với Chúa.

 

3. Sống chiến đấu theo gương Đức Giêsu

Cuộc đời là một trận chiến. Dù muốn hay không con người cũng phải chiến đấu để tồn tại. Không chiến đấu đồng nghĩa tự đào thải mình. Trong Giáo Hội Công Giáo, người Kitô hữu chúng ta không ngừng được mời gọi sống chiến đấu theo gương của Đức Giêsu.

Tin Mừng Nhất Lãm đều kể rằng sau khi chịu phép rửa bên bờ sông Giođan, Đức Giêsu vào sa mạc để đương đầu với Satan. Thánh Marcô chỉ nói vắn tắt rằng, Đức Giêsu ở trong sa mạc 40 ngày và chịu Satan cám dỗ. Còn Thánh Matthêu và Luca lại kể rõ ba chước cám dỗ của Satan, nhưng theo thứ tự có khác nhau. Theo Thánh Luca, những chước cám dỗ của Satan phải được giải thích trong mối liên hệ chặt chẽ với cuộc tử nạn thập giá của Đức Giêsu. Các chước cám dỗ nhằm lôi kéo Đức Giêsu đi lệch đường lên thành Giêrusalem dẫn đến đỉnh đồi thập giá. Chính vì để nhấn mạnh ý nghĩa đỉnh đồi thập giá ở Giêrusalem mà Thánh Luca đã sắp xếp lại thứ tự các chước cám dỗ, để cho chước cám dỗ sau cùng xảy ra ở Giêrusalem là đích điểm của con đường Ngài đã dứt khoát chọn lựa ngay từ đầu sứ vụ Cứu Thế. Do đó, Thánh Luca sắp xếp cám dỗ thứ nhất là Satan thách đố Đức Giêsu biến sỏi đá thành cơm bánh ăn: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy làm cho đá này trở thành bánh đi!" (Lc 4, 3). Satan muốn xúi giục Chúa Giêsu vận dụng quyền năng Thiên Chúa trao cho Ngài để phục vụ bản thân mình trước đã. Nhưng Đức Giêsu đã từ chối. Ngài là Con Thiên Chúa không phải để phục vụ bản thân mình, nhưng để làm công việc Thiên Chúa trao cho Ngài. Sứ mạng của Ngài đến để phục vụ và làm theo Đấng đã sai Ngài. Satan muốn xúi Chúa Giêsu lấy mạng sống riêng của mình làm cứu cánh, chỉ có mạng sống là đáng quý, chỉ có bản thân là đáng trọng, không còn gì quý và cao cả hơn nữa.

Trong Cựu Ước, dân Israel khi ở trong sa mạc cũng đã bị cám dỗ như vậy. Khi hết lương thực, họ quên tất cả giá trị của cuộc giải phóng khỏi Ai Cập, tất cả niềm tự hào được trở thành niềm tự do. Trước nguy cơ chết đói, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: Thà làm nô lệ mà được ăn no hơn được tự do mà phải chết đói. Nhưng Thiên Chúa đã muốn cho họ thấy: còn có một cái gì đáng quý trọng hơn nữa, hơn cả mạng sống: "Người ta không sống nhờ cơm bánh mà thôi, mà còn nhờ Lời Chúa nữa" (Đnl 8, 3). Đức Giêsu dùng lời ấy để khẳng định rằng: mạng sống trần gian không phải là tất cả đâu. Ngài đã lãnh nhận cuộc sống làm người không phải để khư khư giữ lấy, nhưng là để cho đi, để hiến mình cho mọi người được sống.

Cám dỗ thứ hai là Satan hứa sẽ trao cho Đức Giêsu mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc trên trần gian này, nếu Đức Giêsu chịu thờ lạy nó. Satan muốn Đức Giêsu nhìn nhận rằng chỉ có quyền lực và vinh quang của mọi vương quốc trên trần gian này là đáng quý. Đức Giêsu muốn được hưởng thì cứ thờ lạy hắn là xong ngay. Để trả lời Satan, Chúa Giêsu phán: "Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài thôi" (Đnl 6, 13).

Dân Israel khi xưa đã đúc bò vàng để thờ thay vì thờ phượng Thiên Chúa. Đó là tội bất trung của Israel đối với Thiên Chúa. Đức Giêsu dứt khoát trả lời Satan: Mi không phải là Thiên Chúa. Quyền lực và vinh quang trần gian không phải là tất cả. Chỉ có Thiên Chúa mới đáng thờ lạy, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền lực và vinh quang thật để ban cho Ngài.

Cám dỗ thứ ba là Satan xúi giục Đức Giêsu thử thách quyền năng Thiên Chúa; vận dụng quyền năng Thiên Chúa để mở một con đường tắt mà hoàn thành sứ mạng, nếu Đức Giêsu nhảy từ đỉnh cao của đền thờ Giêrusalem xuống mà an toàn thì tất nhiên mọi người sẽ theo Ngài. Nên Ngài không theo đường tắt Satan đề nghị nhưng "Ngài hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá" để thực hiện công cuộc của Chúa Cha. Ngài nời gọi ai muốn theo Ngài thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá của mình mà đi theo Ngài.

Dân Israel trong sa mạc khi thiếu nước uống, họ đã thử thách Thiên Chúa. Đức Giêsu đáp lại Satan: "Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa của ngươi" (Đnl 6, 16). Đức Giêsu đã không thử thách Thiên Chúa nhưng hoàn toàn phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa khi Ngài đi vào con đường thập giá. Cuối cùng, Đức Giêsu đã chiến thắng hết mọi chước cám dỗ của Satan. Trong suốt thời gian Đức Giêsu rao giảng, ma quỷ tiếp tục thua hết keo này đến keo khác.

Đọc lại đoạn phúc âm này vào ngày Chúa Nhật đầu Mùa Chay, Giáo Hôi muốn mời gọi chúng ta suy nghĩ về cuộc sống Kitô hữu như một cuộc chiến đấu trong đó sứ mạng của chúng ta là phải chiến đấu với Satan. Đức Giêsu đã chiến thắng Satan, đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và cho chúng ta được làm con Thiên Chúa. Nhưng chúng ta còn phải thể hiện bản chất Con Thiên Chúa ấy trong cuộc sống. Chúng ta phải đích thân chiến thắng Satan trong cuộc sống của chúng ta. Đức Giêsu đã chiến thắng để cho chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thánh Thần Ngài ban cho, nhưng không thể miễn cho chúng ta khỏi chiến đấu. Mùa chay là thời kỳ tập luyện tích cực để chiến đấu với Satan.

Những cám dỗ mà Satan đã đem ra dụ dỗ Đức Giêsu vẫn là những cám dỗ muôn đời của con người. Chẳng hạn, cơm ăn, áo mặc, danh vọng, tiền của, quyền uy, thế lực. Có những người, để làm giàu cho bản thân mình đã đánh mất lương tâm, chà đạp mọi qui luật của đạo đức... Những cám dỗ ấy liên tục xảy ra trong cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta không cảnh giác, không được trang bị bằng ánh sáng và sức mạnh Lời Chúa, chúng ta sẽ ngã gục lúc nào không hay.

Càng có điều kiện để làm giàu, có điều kiện để thụ hưởng danh vọng và nắm giữ quyền lực, càng dễ bị Satan cám dỗ. Có của mà vẫn sống lương thiện, hưởng thụ danh vọng mà vẫn khiêm tốn, hiền hòa, nắm giữ uy quyền mà vẫn là người phục vụ chân thực...đó là một thử thách lớn, là một cuộc đấu tranh gay gắt. Những cơn cám dỗ đến với Đức Giêsu, các Lời Chúa đáp lại, và sự vượt thắng cám dỗ của Chúa vẫn là cái gì gần gũi với chúng ta ngày hôm nay, trong cả cuộc sống, nếu không muốn nói là từng giây phút, khi mà các nhu cầu tối thiểu còn là vấn đề quan trọng và cấp bách, khi mà lòng tham danh vọng và quyền bính vẫn làm cho nhiều người bước vào.

Muốn chống trả và chiến thắng Satan, cần phải có tinh thần từ bỏ. Đức Giêsu đã chiến thắng Thần Chết và tội lỗi. Chúng ta cũng có thể chiến thắng mọi cám dỗ và thử thách, nếu chúng ta biết dựa vào Thiên Chúa, biết dùng vũ khí mà Đức Giêsu đã trao cho chúng ta. Lời Chúa mà Thánh Luca ghi lại vẫn là lời nhắc nhở các tín hữu, đừng để sa vào các cơn cám dỗ, mà ngày nay không khác với ngày xưa. Hãy lấy chính Lời Chúa làm sức nâng đỡ, lời chỉ đạo, và hãy lấy gương Chúa làm tiêu chuẩn cho cuộc sống để đương đầu với những cơn thử thách bất cứ từ đâu tới.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con trang bị đầy con người chúng con bằng tâm tình của Chúa, biết vâng theo ý Chúa Cha, bằng sự gẫm suy và thực hành Lời Chúa, để chúng con luôn can đảm đứng về phía Chúa mà chiến đấu với những thế lực sự dữ, những khó khăn trong đời và chúng con ước mong cũng chiến thắng như Chúa. Amen.

 

4. Đức Giêsu bị cám dỗ – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Đức Giêsu bị cám dỗ sau một thời gian dài không ăn trong hoang địa. Có lẽ sau khi Ngài chịu phép rửa ở sông Jordan với Yoan Tẩy Giả, Đức Giêsu đã ăn chay cầu nguyện để biết Thiên Chúa muốn Ngài làm gì, và phải làm như thế nào trong những tháng ngày sắp tới. Sau thời gian này, Đức Giêsu đã đi rao giảng, khởi đầu một giai đoạn mới trong đời Ngài.

Đức Giêsu là người. Ngài không biết tất cả. Ngài phải tìm ý Thiên Chúa liên lỉ qua cầu nguyện, bằng việc nhận định những gì xảy tới cho Ngài trong đời sống thường ngày (Lc.22, 42; Ga.4, 34). Ngài cầu nguyện để biết phải làm gì, phải chọn ai (Lc.6, 12-13). Trong cuộc sống, có lúc Ngài biết nhưng lúc khác Ngài lại xao xuyến dao động: Ngài đã loan báo cho các tông đồ rằng Ngài sẽ bị bắt bị giết và sau ba ngày Ngài sẽ sống lại (Lc.9, 22. 44-45;18, 31-34) nhưng ở trên thập giá Ngài lại bị cám dỗ Thiên Chúa bỏ Ngài: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34).

Đức Giêsu là người. Ngài còn bị cám dỗ như tất cả mọi người. Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu bị cám dỗ biến đá thành bánh (Lc.4, 3), bị cám dỗ có quyền hành (Lc.4, 6-7), bị cám dỗ nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa (Lc.4, 9-10). “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Ai đã có kinh nghiệm đói, mới biết những cám dỗ này mãnh liệt như thế nào. Ai có kinh nghiệm về nghèo, mới thấy tiền bạc thu hút con người đến độ nào. Khi đói, người ta mong có đủ cơm ăn; khi có đủ cơm ăn áo mặc, người ta mong muốn có nhiều để bảo đảm tương lai và còn muốn ăn ngon mặc đẹp. Đây là những cám dỗ mà ai cũng gặp. Đức Giêsu một khi đã chia sẻ thân phận con người nên Ngài cũng bị cám dỗ về ăn, tuy nhiên Ngài không thể biến đá thành bánh như Ngài muốn, nếu không, Ngài không còn là người trọn vẹn nữa. Nhập thể, là chấp nhận giới hạn của con người.

Con người thấy mình có những khuynh chiều của thân xác và cũng có lý trí để nhận biết điều tốt và phải làm. Con người có những khuynh chiều thân xác như thèm ăn, đòi thỏa mãn thân xác, muốn được đề cao và quy tất cả về mình. Những khuynh chiều này cũng thuộc về tôi nhưng không hoàn toàn thuộc về tôi. Tôi có những nhu cầu thân xác, có những khuynh chiều thân xác, nhưng cũng không phải chỉ có vậy. Tôi còn cảm nhận nơi tôi có ao ước cái gì cao hơn, tươi đẹp hơn, tuyệt hơn. Tôi là thực tại gồm cả khuynh chiều thân xác cũng như lý trí hướng thiện. Khuynh chiều xấu có nơi tôi, nhưng nó chưa là tôi hoàn toàn; chỉ khi nào tôi đồng tình, chỉ khi nào tôi ưng thuận, nó mới hoàn toàn là tôi. Có nhiều lúc tôi ưng thuận với những khuynh chiều bất chính nơi tôi, và như vậy, tôi làm tôi thành xấu qua chính hành vi ưng thuận của tôi.

Đức Giêsu, theo ngôn từ của thư gởi tín hữu Do Thái, không bao giờ ưng thuận những điều sai quấy cho dù Ngài bị cám dỗ như tất cả bao người khác: “Ngài nên giống chúng ta mọi đàng trừ tội” (Dt.4, 15; 2, 17). Ngài bị cám dỗ như bao người, như mỗi người chúng ta, nhưng không bao giờ Ngài phạm tội, không bao giờ Ngài ưng thuận với những gì bất chính, với những khuynh chiều bất chính nơi thân xác Ngài. Đức Giêsu là người hoàn toàn, Ngài chịu thử thách trăm bề, bị cám dỗ như bất cứ ai trên đời, nhưng Ngài có một điều khác con người: Ngài không phạm tội. Đồng tình hay không đối với những khuynh chiều bất chính nơi mình, là hành vi tự do của mỗi người; đồng tình với những khuynh chiều xấu, là phạm tội. Phạm tội hay không, là tùy tự do của mỗi người, là do con người xử dụng tự do Thiên Chúa ban cho như thế nào. Phạm tội hay không, là tùy tự do con người, nó không thuộc bản chất con người.

Theo niềm tin Kitô hữu, có hai người không bao giờ dùng tự do Thiên Chúa ban để chống lại Thiên Chúa, không bao giờ hai vị này thuận theo những khuynh chiều bất chính nơi họ, đó là Đức Giêsu và Đức Maria. Đức Maria vô nhiễm nguyên tội và không phạm tội “riêng”. Mẹ là người tuyệt vời, nên đã được Thiên Chúa cho hưởng hạnh phúc trọn vẹn và vĩnh cửu với Ngài. Điều này được diễn tả qua tín điều: Đức Maria lên trời cả hồn lẫn xác. Đức Giêsu đã không bao giờ thuận tình với bất cứ cám dỗ làm điều xấu nào. Ngài thuộc trọn về Thiên Chúa đến độ người ta nói Ngài là con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể.

Tin vào Đức Giêsu là tin vào Thiên Chúa. Thiên Chúa đã sinh ra Đức Giêsu, đã làm Đức Giêsu thuộc về Thiên Chúa hoàn toàn. Đức Giêsu đã thuộc về Thiên Chúa với thân xác của mình, cho dù người ta đã hủy hoại thân xác Ngài, nhưng không thể hủy hoại được Ngài. Thân xác Đức Giêsu là thân xác thánh ngang qua chính cuộc sống của Ngài. Mỗi con người đều được gọi để thành thánh, để thuộc về Thiên Chúa, trở nên người thành toàn, người tuyệt vời qua những chọn lựa sống của mình. Hơn bất cứ thời điểm nào, mùa chay giúp các Kitô hữu nhìn lại con người của mình với những khuynh chiều thân xác và tinh thần, để rồi nhận ra lời mời gọi nên thánh trong tất cả mọi hành vi của đời sống mình.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Theo bạn, làm sao để dễ vượt thắng cám dỗ?

2. Bạn có nghĩ Đức Giêsu bị cám dỗ thật không? Tại sao bạn có quan điểm như vậy?

 

5. Chiến đấu chống lại cám dỗ với Chúa Giêsu

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Có vô vàn cám dỗ hủy diệt cuộc đời

Con người dùng mồi bọc lưỡi câu để dụ cá và giật chúng lên khỏi nước để rồi kết liễu cuộc đời của chúng trên bàn ăn. Vô số cá tham mồi đã sa vào cám dỗ của con người và phải chết tức tưởi trước thời hạn.

Một số nhà nông hiện nay thường dùng những hóa chất có mùi hương đặc biệt có sức thu hút hàng ngàn con ruồi vàng đục trái và hủy diệt chúng ngay khi chúng vừa xáp tới hít phải mùi hương hấp dẫn nầy. Vô số ruồi đục trái phải chết tức thời cũng vì sa vào cám dỗ của người nông dân.

Những kẻ nghịch thù thường dùng gái đẹp và rượu ngon để làm mê muội lòng trí những ông vua đầy quyền lực hầu triệt hạ nhà vua và chấm dứt triều đại của ông. Thế là rất nhiều ông vua say đắm tửu sắc bị mắc vào cạm bẫy của kẻ thù và phải chết chìm trong vũng lầy êm ái.

Cám dỗ có thiên hình vạn trạng

Cám dỗ diễn ra dưới nhiều dạng thức như tiền tài, danh vọng, địa vị chức quyền, lạc thú…

Cám dỗ có thể từ bên ngoài thâm nhập vào con người qua cả ngũ quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác.

Cám dỗ cũng còn ẩn sâu từ cõi lòng và thôi thúc từ bên trong, đó là tham lam, ham muốn, kiêu căng, giận hờn… xui khiến người ta chìm vào tội lỗi.

Thông thường hơn, có những cám dỗ rất gần gũi với đời sống hằng ngày, đang vây bọc chung quanh chúng ta và chi phối, chế ngự cuộc đời chúng ta.

Nhà thơ Tú Xương có nêu tên vài cám dỗ rất thường tình nhưng cũng là những cám dỗ bất tận trong kiếp người, như:

“Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta…”

Ca dao Việt Nam cũng nói đến sự cám dỗ của thuốc lá khiến nhiều người không kháng cự nổi:

“Nhớ ai như nhớ thuốc lào,

đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”

Thế là con người phải luôn luôn đương đầu với vô vàn cám dỗ có nguy cơ hủy diệt nhân cách và phẩm chất của mình.

Cám dỗ không buông tha bất cứ ai

Cám dỗ không chừa bất cứ ai. Các môn đệ Chúa Giêsu ngày xưa cũng bị cám dỗ được làm lớn, (Mc 9,34) được ngồi bên tả bên hữu chiếc ngai vàng mà họ tưởng là Thầy Giêsu sẽ chiếm lấy.(Mc 10,37)

Ngay cả Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi những cơn cám dỗ trong cuộc đời. Mặc dầu Người thực sự là Thiên Chúa nhưng vì Người cũng hoàn toàn là con người như chúng ta, nên "Người cũng phải chịu trăm chiều thử thách y như ta" (Do-thái 4,15).

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến không phải một mà là đến ba cơn cám dỗ của Chúa Giêsu.

Cám dỗ thứ nhất là sử dụng quyền lực thần linh để biến đá thành cơm bánh (Lc 4,3).

Cám dỗ thứ hai là trở thành vua của thế giới, “toàn quyền cai trị các nước thiên hạ cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này” (Lc 4, 5-7). Cám dỗ nầy còn được lặp lại khi dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu làm vua. (Gioan 6,15).

Cám dỗ thứ ba là dùng quyền phép để thu phục nhân tâm, chẳng hạn như đứng trên “nóc Đền Thờ Giê-ru-sa-lem rồi gieo mình xuống” an toàn, khiến cho mọi người khâm phục và tin theo (Lc 4, 9-11).

Dù bị cám dỗ về mọi mặt y như chúng ta, nhưng Chúa Giêsu không bao giờ thua trận. Người chiến thắng tất cả mọi thứ cám dỗ cách vẻ vang. Vũ khí Người sử dụng để chống lại các chước cám dỗ là lòng yêu mến Chúa Cha, luôn vâng phục Chúa Cha và cố công làm đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng.

Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta kiên quyết chống lại mọi cơn cám dỗ trong cuộc đời

Thân phận con người như lau sậy yếu đuối, bị lắc lư nghiêng ngả giữa muôn luồng gió cuộc đời. Đời sống con người chơi vơi như cánh bèo trên mặt nước, dễ dàng bị trôi dạt bởi sóng nước vây phủ tư bề.

Vì cám dỗ có thể đến từ mọi phía nên chúng ta phải luôn tỉnh táo để không bị chúng bất thần xông tới hủy diệt chúng ta.

Vì cám dỗ có tính cách trường kỳ, chỉ chấm dứt khi con người tắt thở nên chúng ta phải thường xuyên rèn luyện để có thể bền gan chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng.

Vì cám dỗ có thể hủy diệt những phẩm chất cao đẹp của con người và biến người ta thành nô lệ cho dục vọng đen tối, cho bản năng hư hèn, nên chúng ta không thể để cho mình thua trận.

Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta hãy chọn làm theo ý Chúa hơn là theo ý mình, cố gắng làm đẹp lòng Chúa trong mọi sự, gắn bó với Chúa Giêsu, cầu nguyện với Chúa Giêsu để xin Người giúp chúng ta chiến thắng.

 

6. Cám dỗ trong đời sống con người

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Khi bàn về thân phận con người, triết gia Platon nhận định rằng: “con người là một cỗ xe có hai ngựa kéo về hai hướng trái nghịch nhau”. Thử hình dung một con ngựa trắng kéo ta về hướng tốt, một con ngựa đen kéo về hướng xấu; và như thế, bản thân chúng ta bị giằng co xâu xé bởi hai thế lực đối kháng nhau!

Sự đối kháng nầy nhiều khi trở nên hết sức gay gắt và ác liệt đến độ thánh Phao-lô phải đau lòng than lên: “điều lành tôi muốn, tôi lại không làm; trong khi điều dữ tôi gớm ghét, tôi lại làm… Vô phúc thay con người tôi!” (Rm 7, 19.24).

Như thế, các chước cám dỗ không buông tha bất cứ ai và sẽ bám riết con người cho đến chết.

Ngay cả Chúa Giê-su cũng không thoát khỏi những cơn cám dỗ. Mặc dầu Người thực sự là Thiên Chúa nhưng đồng thời Người cũng hoàn toàn là con người như chúng ta, nên "Người cũng phải chịu trăm chiều thử thách y như ta" (Dt 4,15).

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến không phải một mà là đến ba cơn cám dỗ của Chúa Giê-su.

Cám dỗ thứ nhất là sử dụng quyền lực thần linh để biến đá thành cơm bánh (Lc 4,3). Nếu Chúa Giê-su thực hiện điều nầy để cung cấp cho mọi người được dư đầy cơm bánh mà chẳng phải lao nhọc vất vả kiếm ăn thì hy vọng cả thế giới đều thần phục Người. Nhưng Chúa Giê-su bác ngay phương án nầy vì đó không phải là đường lối cứu chuộc của Thiên Chúa Cha.

Cám dỗ thứ hai là trở thành vua của thế giới, “toàn quyền cai trị các nước thiên hạ cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này…” (Lc 4, 5-7). Giả sử Chúa Giê-su chấp nhận phương án nầy thì hy vọng Người sẽ sớm chinh phục muôn dân nước về cho Thiên Chúa Cha. Nhưng Chúa Giê-su lập tực từ chối vì đó không phải là đường lối cứu độ của Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ ba là dùng quyền lực thần thiêng để thu phục nhân tâm, chẳng hạn như đứng trên “nóc Đền Thờ Giê-ru-sa-lem rồi gieo mình xuống” an toàn, khiến cho mọi người khâm phục và tin theo (Lc 4, 9-11). Chúa Giê-su cũng từ khước phương án nầy, vì một niềm tin dựa trên phép lạ thì không có giá trị gì, và cũng không phù hợp với đường lối của Thiên Chúa Cha.

Ngoài ra, Thánh sử Luca cũng lưu ý rằng: sau ba cơn cám dỗ nói trên, Chúa Giê-su còn phải đương đầu với nhiều cơn cám dỗ khác trong đời. "Ma quỷ rút lui để chờ dịp khác” (Lc 4, 13)

Lần khác, Sa-tan còn dùng miệng lưỡi của người môn đệ thân tín là Phê-rô để cám dỗ Chúa đừng lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn. Ngay lúc ấy, Chúa Giê-su quát lại: “Sa-tan, hãy lui ra đằng sau, đừng gây cớ cho Ta vấp phạm” (Mt 16,23)

Ngay cả trong giờ hấp hối của Chúa Giê-su trên thập giá, Sa-tan cũng chưa chịu buông tha Người. Lần nầy Sa-tan dùng miệng lưỡi những kẻ qua lại để cám dỗ Người xuống khỏi thập giá: " Ông Ki-tô vua Ít-ra-en, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin." (Mc 15, 32)

Suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su đã anh dũng chiến đấu chống mọi cơn cám dỗ và Người đã chiến thắng rất vẻ vang. Không một cám dỗ, một thách thức nào có thể khiến Người lùi bước.

Xưa kia, Sa-tan tìm mọi cách cám dỗ Chúa Giê-su từ bỏ đường lối của Thiên Chúa Cha để đi theo đường lối khác, thì hôm nay, Sa-tan cũng luôn tìm mọi cách để lôi kéo chúng ta đi trệch ra khỏi đường lối Thiên Chúa. Tàu chạy theo đúng đường rầy sẽ được an toàn vô sự, nhưng nếu tàu chạy trật đường rầy, nó sẽ lao vào chỗ chết và gây ra tang tóc đau thương. Vì thế, ma quỷ luôn tìm mọi cách lôi kéo chúng ta đi trệch ra ngoài đường lối mà Đức Giê-su đã vạch ra cho chúng ta, để xô đẩy chúng ta vào cõi chết.

Mỗi người chúng ta như người leo núi đang chênh vênh giữa lưng chừng sườn núi cao. Tiếng Chúa luôn kêu gọi chúng ta leo lên cao để chung hưởng hạnh phúc thiên đàng với Chúa; trong khi đó, tiếng gọi của Sa-tan và xác thịt lôi kéo chúng ta xuống vực để phải trầm luân muôn đời.

Thắng được những cơn cám dỗ, thắng được bản năng hư hèn yếu đuối của mình thật khó biết bao! Danh tướng Napoléon là người từng chiến thắng vang dội ở Châu Âu cũng phải thú nhận rằng: "Chiến thắng cả Châu Âu không bằng chiến thắng chính bản thân mình".

Lạy Chúa Giê-su,

Xác thịt chúng con rất ươn hèn và yếu đuối. Xin Chúa cùng chiến đấu với chúng con và thông ban Thánh Thần trợ lực cho chúng con, để chúng con không lùi bước, không thua trận, không chìm đắm trong tội lỗi nhưng được chiến thắng vẻ vang và chung hưởng vinh quang với Chúa muôn đời.

 

7. Đời là cuộc chiến không ngừng

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Mùa chay khởi đầu với thứ tư lễ tro và kéo dài 40 ngày. Chúa Nhật thứ sáu mùa chay là Lễ Lá, khởi đầu tuần thánh tưởng niệm cuộc tử nạn phục sinh của Đức Giêsu. Mùa chay dọi lại cuộc hành trình của dân Chúa trong hoang địa 40 năm trước khi vào đất hứa, cũng như biến cố Đức Giêsu ăn chay cầu nguyện 40 ngày trước khi khởi đầu sứ mạng rao giảng công khai, và cụ thể chuẩn bị tâm hồn tín hữu hôm nay chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Đức Giêsu tử nạn phục sinh.

Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Bài đọc thứ nhất cho thấy người Do Thái mỗi năm trình diện trước nhan Chúa với hương hoa mình thu lượm được, và tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa Đấng can thiệp vào lịch sử dân tộc: Cha tôi là người Aram đã sống ở Aicập, bị hà hiếp và chúng tôi đã kêu lên Thiên Chúa, và Ngài đã giải phóng chúng tôi khỏi ách nô lệ… Thiên Chúa đã kiến tạo và dìu dắt dân Do Thái qua Abraham, Isaac và Môsê…

Người Việt Nam cho mình là con rồng cháu tiên, con cháu Lạc Long Quân và Âu Cơ, con cháu vua Hùng với bốn ngàn năm văn hiến…! Đó là cách nói của người Việt Nam về chính mình, nhưng dù nói cách nào chăng nữa thì cuối cùng, người Việt Nam vẫn là con Thiên Chúa, vẫn được Thiên Chúa tạo dựng, và Ngài đã làm một số người Việt Nam trở nên những bậc anh hùng, dám hiến dâng mạng sống để làm chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hướng dẫn dân tộc Việt Nam.

Những gì dân tộc Việt Nam đang là đang có, đều là ân điển Thiên Chúa ban. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử Thiên Chúa yêu thương tất cả loài người qua dân tộc Do Thái, cũng tương tự vậy lịch sử dân tộc Việt Nam là chuỗi những biến cố các anh hùng dân tộc đã thực hiện trong tình yêu của Chúa, qua các triều đại vua Hùng, qua bà Trưng bà Triệu, qua một ngàn năm sống dưới sự cai trị của người Tàu mà không bị đồng hóa hoặc tiêu diệt. Thiên Chúa hiện diện nơi lịch sử dân tộc Việt Nam với nét nhịn nhục, sự kiên cường và tính anh hùng bất khuất của người Việt Nam. Thiên Chúa yêu thương người Do Thái, và Ngài cũng yêu thương người Việt Nam không kém gì người Do Thái. Dân tộc Do Thái là mẫu, là hình ảnh, để giúp các dân tộc khác nhận ra tình yêu của Thiên Chúa nơi mỗi dân tộc.

Thiên Chúa yêu thương và gần gũi mọi người thuộc mọi dân tộc

Thiên Chúa nói với con người qua lương tâm của mỗi người, và Ngài đã nói với con người qua lịch sử dân Do Thái cũng như qua các ngôn sứ, và trong thời cuối cùng Ngài đã nói với con người qua chính Con Một của Ngài là Ngôi Lời nhập thể. “Lời rất gần ngươi, ngay nơi miệng và trong lòng ngươi”. Nếu ai muốn nghe tiếng Chúa, ắt có thể nghe được vì Thiên Chúa rất gần con người.

“Nếu ngoài miệng tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và trong lòng tin rằng Thiên Chúa đã phục sinh Ngài từ cõi chết, thì được cứu”. Tin vào Đức Giêsu, thì được cứu, dù người đó là Do Thái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, vì “tất cả những ai kêu cầu danh Thiên Chúa đều được cứu”.

Xin cho mỗi người nhận ra Thiên Chúa luôn yêu thương và đồng hành với từng người, và với dân tộc mình trong dòng lịch sử.

Đời là cuộc chiến

Đức Giêsu cũng không được miễn trừ khỏi cuộc chiến. Đã là người, ai cũng phải chiến đấu. Cuộc chiến thể lý, không phải ai cũng phải đương đầu; nhưng cuộc chiến thiêng liêng hay nội tâm thì ai cũng phải trải qua. Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu trải qua cuộc chiến của Ngài:

- Ngài đói, và có cám dỗ muốn ăn, muốn có gì để ăn, muốn biến đá thành bánh để ăn. Tại sao không biến đá thành bánh để ăn, khi tất cả để phục vụ con người, đặc biệt khi mình đói? Cám dỗ trở nên cực kỳ mãnh liệt khi ý tưởng “nếu không được ăn bây giờ thì mình sẽ mất sức và như vậy không biết mình còn có thể sống được nữa không”!

- Con người nếu để tự do, không biết cái gì xảy ra. Tại sao không dùng quyền lực để thống trị con người? Tại sao không làm vua và cưỡng bức tất cả mọi người phải được rửa tội, như vậy danh Chúa có cả sáng và dễ dàng hơn không? Tại sao lại cho con người tự do? Tại sao không dùng quyền lực để bắt người ta làm điều tốt?

- Nếu tôi nổi tiếng và được người ta kính phục, thì khi tôi giảng về Thiên Chúa người ta sẽ nghe, và Chúa sẽ được vinh danh hơn. Làm sao để lấy được lòng tin và kính phục của con người? Tôi có thể nhảy từ đỉnh đền thờ xuống, và giảng cho người ta một bài về Thiên Chúa, và người ta sẽ nghe lời tôi giảng! Nhưng nhảy xuống thì tan xương nát thịt. Tại sao Thiên Chúa không can thiệp? Tại sao Thiên Chúa không sai thiên thần đến đỡ chân tôi?

Đức Giêsu đã phải chiến đấu với ma qủy, với chính khuynh chiều thân xác của con người. Và Ngài đã thắng, Ngài chấp nhận chương trình Thiên Chúa về con người, Ngài chấp nhận luật lệ tự nhiên Thiên Chúa đã xếp đặt, Ngài không biến đá thành bánh, Ngài tôn trọng tự do của con người, Ngài không thách thức Thiên Chúa và đòi Thiên Chúa làm theo ý riêng mình. Con người ngày nay cũng có những cám dỗ tương tự như Ngài ngày xưa, có lẽ là:

Tại sao tôi không được phá thai khi đó chỉ là một tế bào trong thân xác tôi? Tại sao tôi không được cloning (sinh vô tính) khi tôi không có con, khi tôi muốn có người nối giòng? Tại sao con người không được làm những thí nghiệm về con người (tái tạo con người khi cho phôi và tinh trùng gặp nhau, xem nó phát triển như thế nào, và v.v… rồi có thể hủy những “thai nhi” như vậy)?

Tại sao tôi không được thỏa mãn mình khi người khác đồng ý, khi tôi có tiền và người khác cần tiền, v.v…?

Tại sao tôi không được coi những giá trị “đa số người đời thừa nhận” làm giá trị của tôi, chẳng hạn tiền bạc, địa vị, danh vọng…

Mỗi người trong cuộc sống thường ngày, phải chiến đấu với ma qủy, với chính mình, với thế gian và những giá trị của nó. Xin Chúa giúp, để mỗi người chúng ta vượt qua chính mình, để chúng ta trở nên giống Đức Giêsu, nên thánh mỗi ngày trong từng hành vi quyết định của chúng ta.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Theo bạn, con người hôm nay bị cám dỗ về điều gì nhất? Làm sao để vượt qua?

2. Có gì lợi ngay ở đời này khi vượt qua chính mình, khi thắng được “cám dỗ”?

3. Dân tộc Do Thái có chỗ đứng đặc biệt trong chương trình của Thiên Chúa. Theo bạn, dân tộc Việt Nam có chỗ “đặc biệt” trong chương trình của Thiên Chúa không? Xin mời bạn chia sẻ chỗ đứng đặc biệt của dân tộc Việt Nam trong chương trình của Thiên Chúa, nếu bạn “thấy”!

 

8. Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy

NHỮNG CÁM DỖ CỦA CHÚA GIÊSU - NHỮNG CÁM DỖ CỦA CHÚNG TA

Tương tự như trong cuộc sống tư riêng của mỗi người và trong cuộc sống gia đình, trong cuộc sống của một cộng đồng cũng có những ngày vui hay những thành công, nhưng đồng thời cũng có những hiểu lầm và những va chạm xích mích. Người ta có thể nói được rằng: Cuộc sống con người trong phạm vi cá nhân, phạm vi gia đình hay trong phạm vi xã hội, v.v... là một tấm thảm được đan dệt bằng đủ thứ màu sắc!

Thánh sử Luca tường thuật lại lịch sử những cám dỗ của Ðức Giêsu như là lịch sử của những cám dỗ của các cộng đoàn kitô hữu tiên khởi vào khoảng năm thứ 90 sau công nguyên. Vâng, sau sự thành lập buổi đầu với bao lạc quan hứng thú và được can thiệp trực tiếp bởi những điều thiêng dấu lạ, giờ đây tất cả họ phải tự đối mặt với những cám dỗ và những thử thách nặng nề. Sự bất kiên nhẫn, nãn chí và sợ hãi đã chụp xuống trên các cộng đoàn. Là Kitô hữu thuộc thế hệ thứ ba, họ đã vô vọng chờ đợi sự xuất hiện đầy uy quyền và có sức biến đổi mọi sự của Nước Thiên Chúa. Tình trạng cộng đoàn lúc bấy giờ hãy còn non trẻ, thiểu số và thiếu tổ chức, thêm vào đó còn bị khinh miệt và thường xuyên bị theo dõi bắt bớ, nên họ dã tự hỏi: Tương lai sẽ ra sao đây? Giữa tình trạng bất an sợ hãi như thế, thánh sử Luca đã tường thuật Tin Mừng của ngài. Tương tự như qua một tấm gương, thánh sử đã muốn cho các cộng đoàn nhận ra được cuộc sống của mình qua cuộc sống của Ðức Giêsu, hay nói cách khác: Những cám dỗ thử thách của họ hôm nay là những cám dỗ thử thách của Ðức Giêsu hôm qua. Họ phải ăn những thứ bánh nào: những thứ chính tay họ làm ra hay những thứ được trao ban? Họ phải sống cuộc sống nào: cuộc sống trước mắt do cơm bánh một mình hay cuộc sống dám can đảm hy vọng vào Thiên Chúa của Ðức Giêsu? Những ước muốn nào của cuộc sống xui khiến và khích động họ?

Ðó là những câu hỏi được đặt ra cho các cộng đoàn các kitô hữu của thánh Luca xưa và cho các cộng đoàn giáo xứ của chúng ta ngày nay. Và chỉ mỗi người trong chúng ta mới có thể trả lời được.

Cả sự cám dỗ thứ hai của Ðức Giêsu cũng là sự cám dỗ thường xuyên của cộng đoàn các tín hữu: Chúng ta phải vinh danh ai? Tâm hồn chúng ta lệ thuộc vào đâu? (x. Lc 12,22-32). Thiên Chúa hay thần linh của chúng ta là gì? Ai là Thiên Chúa của chúng ta?

Thật ra, những câu hỏi như thế nghe quá đường đột và thiếu nhã nhặn! Bởi vì chúng bộc lộ sự nghi ngờ là chúng ta - với tính cách là những kitô hữu sốt sắng và giáo xứ sống động - có lẽ chỉ phần nào đó, hay có lẽ chẳng bao giờ làm vinh danh Thiên Chúa và phục vụ cho Nước Trời, nhưng chỉ tìm danh dự và lợi ích riêng tư của chúng ta, hay chỉ tìm cách gây ảnh hưởng cá nhân, v.v...Thiên Chúa luôn nhân hậu và quảng đại. Người đã sáng tạo nên chúng ta và đã ban cho chúng ta tất cả mọi sự, để chúng ta điều khiển và hưởng dùng. Người đã ban cho chúng ta sáu ngày trong tuần để sống, chỉ còn lại một ngày - hay nói chính xác hơn: chỉ vào khoảng trên dưới một giờ đồng hồ - chúng ta cần phải tôn thờ Người. Vâng, mỗi tuần lễ Thiên Chúa đã ban cho tất cả chúng ta 167 giờ đồng hồ để sống, và chỉ một giờ chúng ta cần hy sinh để đến với Người, để cùng nhau tôn vinh Người, để cùng nhau cảm tạ ơn người! Chúng ta có sẵn sàng làm thoả mãn chút đòi hỏi cỏn con này của Thiên Chúa không? Ở đây, tôi xin được phép nêu lên một câu hỏi: Nếu thành thật mà nói, có khi nào chúng ta đã có ý tưởng làm vinh danh Thiên Chúa chưa?

Tuy nhiên tôi nghĩ rằng chúng ta không nên tránh né những câu hỏi đó, vì chúng giúp chúng ta kiểm điểm lại chính con người mình, trục quay của bao nhiêu thứ!

Cuối cùng, thánh sử Laca tường thuật sự cám dỗ thứ ba của Ðức Giêsu ở Giê-ru-sa-lem, còn nặng nề hơn. Ở đây có tính cách quyết định: "Hoặc được tất cả, hoặc ngã nón về không", hoặc Thiên Chúa Tạo Hóa hay các thứ bụt thần khác, hoặc chúng ta muốn nằm trong tay Thiên Chúa hay muốn Thiên Chúa nằm trong tay chúng ta!

Sự cám dỗ đó là: Chúng ta tin vào Chúa nào? Chúng ta còn có thể tin tưởng vào một Thiên Chúa Tạo Hóa thầm lặng, kín đáo và trước mắt người đời nhiều khi xem ra bất lực không? Một Thiên Chúa không luôn luôn làm thỏa mãn mọi chờ đợi và mong ước của chúng ta, một Thiên Chúa mà chính Ðức Giêsu trong cơn hấp hối đầy đau thương trên thập giá cũng đã vô vọng kêu lên: "Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ rơi con?"

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải sống điều chúng ta hằng ngày cầu nguyện Thiên Chúa: "Xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời!" Ðó cũng là điều chính Ðức Giêsu đã cầu nguyện trong vườn Cây Dầu trước khi chịu khổ nạn: "Lạy Cha, không phải ý con, nhưng là ý Cha phải được thể hiện!" và Ðức Giêsu không chỉ cầu nguyện bằng lời suông mà thôi, nhưng chính Người đã sống làm gương cho chúng ta trước! Và Người đã đạt được sự chiến thắng vinh quang của cuộc sống, cho Người và cho tất cả chúng ta!

Nói tóm lại, lịch sử những cám dỗ của Ðức Giêsu cũng là lịch sử của những cám dỗ của các cộng đoàn kitô hữu xưa kia và của các giáo xứ chúng ta ngày nay, cũng như sự cám dỗ của mỗi người trong chúng ta. Ðức Giêsu đã đứng vững được trước các cám dỗ của Người, bởi vì Người hoàn toàn đứng về phía Thiên Chúa, Người chiến đấu với Thiên Chúa và cho Thiên Chúa!

Còn chúng ta, chúng ta chiến đấu với ai và cho ai? Chúng ta có chiến đâu với Thiên Chúa và cho vinh danh Người hay chúng ta chiến đấu một mình và cho vinh danh cá nhân chúng ta?

Mùa chay thánh là dịp thuận tiện nhất, để chúng ta suy tư ngẫm nghĩ về điều đó và đồng thời để tìm ra được câu trả lời đúng đắn! Amen.

 

9. Ma qủi cám dỗ – Cố Lm Hồng Phúc

Bài Phúc Âm hôm nay đề cập đến cuộc tranh chấp giữa Chúa Giêsu và ma quỉ. Một cuộc tranh chấp sẽ còn kéo dài trong những ngày sắp tới và còn tiếp tục trong lịch sử Giáo hội cũng như trong cuộc sống mỗi người, cho đến ngày toàn thắng cuối cùng của Chúa.

Đã là một cuộc tranh chấp thì có hai đối thủ đương đầu: Chúa Giêsu và ma quỉ.

Người Công giáo chúng ta, ai cũng tin có ma quỉ, vì Thánh Kinh đã nói rõ ràng và trong đời sống, chúng ta nhận thấy hoạt động của nó. Tuy nhiên, ma quỉ - những thiên thần ngụy vốn rất khôn ngoan-, biết dấu đầu che đuôi, để làm cho một số người không tin rằng nó có. Cha Ravignan nói: “Cái khôn ngoan của ma quỉ ngày nay là làm cho người ta tin tưởng rằng nó không có, để dễ dàng hoạt động”.

Ma quỉ thuộc thế giới vô hình, chúng ta không nhìn thấy nhưng nhận thức sự hiện diện của nó qua các hoạt động. Ma quỉ thường hoạt động bằng 3 cách: ám ảnh, phá phách, và cám dỗ.

Trước hết, ma quỉ ám ảnh người ta, dùng nạn nhân như dụng cụ để nói năng hoạt động. Chúa Giêsu đã trừ quỉ nhiều lần (Mt 8, 16; Mc 1, 32; Lc 4, 41…). Chúa ban cho các tông đồ quyền năng ấy (Mt 10, 1 & Mc 3, 15). Giáo hội cũng thừa hưởng trong sứ vụ “trừ quỉ”.

Báo Express của Pháp ngày 22-4-1974, đăng tải một bài nói về những vị trừ quỉ, cho biết cả nước Pháp có 8 vị, những linh mục thánh thiện, khôn ngoan và can đảm được chỉ định để làm nghi thức trừ quỉ theo Phụng vụ khi cần đến. Một vị, Cha Henri Gesland, 66 tuổi, nói: “Tôi không cần xem phim Người trừ quỉ-Exorcist-đang làm xôn xao dư luận, vì sự thật mà tôi phải đương đầu còn hơn trong phim”.

Ma quỉ còn phá phách, nhất là những tâm hồn thánh thiện đạo đức. Thánh Gioan Vianney, Cha sở họ Ars, bị ma quỉ phá trong 35 năm và chỉ được buông tha một năm trước khi Ngài qua đời. Ở Việt Nam, câu chuyện chị Anna Diệu thuộc Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hóa, nạn nhân của ma quỉ, được kiểm chứng và ghi trong cuốn “Le diable au Couvent” (Quỉ trong Tu viện) của Đức Cha De Cooman.

Nhất là ma quỉ hay cám dỗ chúng ta, xúi dục ta sa ngã phạm tội.

Bài Phúc Âm đề cập đến 3 đợt cám dỗ của ma quỉ. Chúa chấp nhận bị satan cám dỗ. Luca viết: “Thánh Thần đưa Ngài vào hoang địa để chịu ma quỉ cám dỗ”. Ma quỉ dùng ba tư tưởng để cám dỗ Chúa thì nó cũng dùng ba thứ mồi nhử để lôi kéo chúng ta, là tiền tài, danh vọng và sắc dục.

Cuộc đương đầu với ma quỉ còn kéo dài. Luca viết: “Ma quỉ rút lui để chờ dịp khác”, thì đối với chúng ta cũng vậy, một nhà tu đức viết: “Đó là cơm bữa hàng ngày”.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết cầu nguyện, ăn chay hãm mình, để bắt chước Chúa chống lại chước cám dỗ của tà thần.

“Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ” (Kinh Lạy Cha).

 

10. Cùng Chúa chiến thắng cám dỗ

(Suy niệm của Lm. Giuse Trần Đình Túc)

Chuyện xưa kể rằng: Vua nước Thục có tính tham lam. Huệ vương, vua nước Tần lại muốn xâm chiếm nước Thục. Nhưng vì khe núi hiểm trở, không thể đem quân sang đánh, Huệ vương sai lấy đá tạc hình một con trâu để gần địa giới nước Thục, mỗi ngày bỏ vàng sau đuôi trâu và phao tin đồn rằng: “Trâu đãi ra vàng”. Tiếng đồn ấy đến tai vua Thục. Ông liền sai xẻ núi lấp khe và cho năm lực sĩ vào rừng kéo con trâu đá về. Huệ vương nhờ đó sẵn lối đi, liền đem quân tiến đánh, cướp được nước Thục. Vua Thục vừa mất nước, vừa hại cả mình, vừa để lại trò cười cho thiên hạ.

Vua Thục chỉ vì tham chút lợi nhỏ giả tạo mà mất nước, và số vàng kia cũng quay trở lại vào tay quân thù. Thiên hạ cười chê nhà vua dại khờ vì đã chọn lựa sai.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Cuộc sống luôn mở ra cho chúng ta những chọn lựa, thử thách. Tuy nhiên, với người này, gian nan thử thách có thể làm cho họ nhụt chí, thoái lui, hay vấp ngã ê chề; nhưng với người khác, có thể lại là dịp để họ lớn lên, trưởng thành và vững chắc hơn trước thách đố cuộc sống.

Cám dỗ gắn liền với phận người tự do. Bởi tự do chỉ thực sự có giá trị và ý nghĩa khi nó đi liền với chọn lựa. Những chọn lựa thật dứt khoát của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có thể gợi lên một thái độ mới trước những thách đố của cuộc sống, đồng thời cho chúng ta cái nhìn chân xác hơn về bản chất của những cơn cám dỗ trong cuộc đời.

Bởi cám dỗ không đơn giản là xúi giục làm điều xấu, nhưng còn là những mánh khóe biến giả thành thật, thực thành ảo, là thủ đoạn tô hồng những khía cạnh chân thật, đánh bóng những nhu cầu giả tạo – thoạt nhìn – thật tốt đẹp và cần thiết, nhưng thật ra, đó chỉ là hình ảnh ảo, hoặc một cái nhìn rất phiến diện.

Cám dỗ thứ nhất ma quỷ đưa ra hôm nay là nhu cầu ăn uống, là đánh vào bản năng sinh tồn, đánh vào thân xác luôn đòi hỏi nâng niu, chiều chuộng. Đây quả là một nhu cầu thật thiết thân, nhưng chưa phải là nhu cầu cao nhất, càng không phải là nhu cầu độc nhất. Bởi cứ mải đánh bóng nhu cầu vật chất, nhiều người bị mờ mắt, không còn ý thức đến nhu cầu tinh thần, và nguy hiểm hơn, đánh mất phẩm giá của mình để rơi vào một hình thức nô lệ khác: nô lệ cho vật chất và cái bụng.

Cám dỗ thứ hai là một nhu cầu khác, cao hơn và hấp dẫn hơn nhu cầu ăn uống. Đó là cơn cám dỗ chính yếu của con rắn địa đàng trong bài đọc I hôm nay: “Chẳng chết chóc gì đâu! Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt hai người sẽ mở ra và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”.

Ngày nay, đó là cơn cám dỗ nhắm vào bản năng đối kháng. Là tìm cách chạy trốn giới hạn cùng những thực tại phũ phàng để bay lên bằng ảo giác của bia bọt và thuốc kích thích,… Là thèm khát địa vị, quyền chức thế gian, nhắm vào khuynh hướng thích ngồi chiếu trên, để thống trị, áp đặt quyền lực trên người khác…

Bởi Thiên Chúa luôn có vẻ như vắng mặt, nên con người rất dễ chạy theo những vị thần giả hiệu, chúng có tên là tiện nghi, sắc đẹp, kiến thức, tài năng,…

Khát vọng vươn lên một cuộc sống tốt đẹp hơn là một khát vọng chính đáng. Nhưng mối nguy của nó ở chỗ điều kiện luôn đi kèm: phải thỏa hiệp với sự dữ. Nhiều người vì muốn thăng quan tiến chức mà phải chạy chọt, gian lận, sống luồn cúi, bất lương và vì thế, họ vô tình “bái lạy” ma quỷ mà không hề hay biết.

Cám dỗ thứ ba là cám dỗ xảo quyệt nhất. Vì nó không xui giục người ta bỏ Chúa, nhưng khuyến khích người ta chạy đến cầu xin với Ngài để được ban phép lạ. Thực ra, cầu xin không phải là chuyện xấu xa, và một đời sống đạo đức, gắn bó với Thiên Chúa là điều đáng khuyến khích.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã khước từ lời đề nghị của quỷ ma, vì xin không phải là thử, lại càng không phải là thách thức Thiên Chúa, đòi kiểm chứng bằng dấu lạ điềm thiêng. Đó là cơn cám dỗ tìm những pha ngoạn mục, kiếm những chuyện thần kỳ, muốn gặt hái những thành công lẫy lừng bằng những chuyện kinh thiên động địa.

Cơn cám dỗ này thúc đẩy người ta đổ xô đi tìm phép lạ, dùng quyền năng Thiên Chúa để trốn tránh khó khăn, nghịch cảnh. Thích phô trương màu mè, nhưng rất ngại nghe Lời Chúa, hoặc mượn danh nghĩa việc tông đồ để cầu danh trục lợi. Không ít người đã từ bỏ, không còn đặt niềm tin vào Thiên Chúa chỉ vì xin mà không được.

Như thế, Ác thần chẳng những dùng điều xấu xa, mà còn có thể lợi dụng việc đạo đức tốt lành để đẩy con người ra xa Thiên Chúa. Những cơn cám dỗ ma quỷ thật vô cùng tinh khôn và hiểm độc vì nó tiến từng bước: từ hạ thấp phẩm giá đến tước mất tự do của con người. Sau cùng là chối bỏ, khước từ Thiên Chúa. Cơn cám dỗ càng hiểm độc khi âm mưu nham hiểm được bọc trong lớp vỏ nhung lụa, ngọt ngào, hợp lý và đầy quyến rũ của những nhu cầu, quyền lực và uy tín.

Chúa Giêsu được Thánh Thần thúc đẩy đi vào sa mạc, vì 40 ngày chay tịnh đầy thử thách, không chỉ như giai đoạn thanh luyện, chuẩn bị cho sứ vụ sắp tới của Ngài, mà còn là một gặp gỡ, để đón nhận sức sống từ trời cao cho hạt mầm cứu độ đâm chồi nảy lộc giữa lòng thế giới. Ngài đi vào sa mạc không chỉ để đối đầu với thử thách mà còn để sống tâm tình con thảo với Chúa Cha.

Vì thế, sa mạc không chỉ là nơi hoang vu, thiếu thốn, nhiều cạm bẫy đáng sợ, mà còn có thể là chặng dừng quan trọng, là nơi gặp gỡ của những con tim. Con tim Thiên Chúa và con tim nhân loại.

Mùa Chay vì vậy, không chỉ là mùa của kiêng khem, khổ chế trong u sầu than vãn, mà còn là giờ của ân sủng, là thời gian Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

Bởi những cơn cám dỗ và lời thách thức: “Nếu ông là con Thiên Chúa” trong Tin Mừng hôm nay vẫn có đó giữa đời thường, như gắn liền với thân phận đàn con lũ cháu của Ông Bà Nguyên Tổ.

Dù có khoác lớp áo mới hào nhoáng, hấp dẫn, tinh vi, hiện đại hơn, thì cũng là một chuỗi những cám dỗ của thuở đầu tạo dựng. Nếu lo sợ đi tìm một biện pháp giải trừ, tìm một phương cách để chống chọi hay tránh né vẫn thật sự chưa đủ. Điều cần thiết là một định hướng, một thái độ, một cách nhìn. Bởi một khi đã gạt Thiên Chúa ra khỏi những suy nghĩ của mình, chúng ta cũng rất dễ hào phóng mở lòng ra với cơm bánh, của cải và danh vọng. Vì thế, khi chọn bước vào cuộc chiến suốt 40 ngày sa mạc, Chúa Giêsu muốn chứng tỏ với thế gian rằng: Con người có thể thắng được những cám dỗ của thế lực tối tăm, nếu biết chọn đứng về Thiên Chúa và sống bằng sức sống của Ngài.

Chọn Thiên Chúa và thực thi thánh ý Ngài, là thông điệp mà Chúa nhật đầu Mùa chay hôm nay gửi đến chúng ta, như lời gọi mời một tư thế đứng thẳng, và để lại sau lưng những ươn lười, ngần ngại. Đứng thẳng lên để cùng với Chúa Giêsu đi tới trong cuộc hành trình Mùa chay: nói KHÔNG với cái xấu, cái thấp hèn; nói KHÔNG với lối sống buông thả, gian tà, nhu nhược.

Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ là cách nhìn của mỗi chúng ta về những khó khăn, thách đố của đời thường. Bởi những thách đố của cuộc sống hôm nay có thể làm chúng ta lo sợ, tránh né, hoặc thỏa hiệp với tà tâm, bất chính, nhưng cũng có thể là cơ hội cần thiết giúp chúng ta lớn lên hơn, vững vàng hơn, để sống công chính và thẳng ngay trong tư thế đứng thẳng của những người con Thiên Chúa.