Chúa Nhật 16/02/2020 - Chúa Nhật 6 Thường Niên, Năm A

Lời Chúa: Mt 5,17-37

"Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời. "Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng. "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục. "Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình. "Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.

 

SUY NIỆM

1. Yêu thương là chu toàn luật – Dã Quỳ

Đời sống dân sự và thường ngày của chúng ta đều được xoay quanh trục luật pháp. Thật vậy, bất cứ thời nào, xã hội hay tôn giáo, đều cần có luật lệ. Người ta sống và cư xử với nhau thường dựa trên luật. Đối với Do Thái Giáo, từ thời Môsê, đã có cả một sách Đệ Nhị Luật, chứa nhiều khoản luật buộc con cái Israel thực hiện. Nhưng điểm chủ yếu của lề luật vẫn là Yêu Mến Chúa (x. Đnl 6,1-13). Thế nên, khi Chúa Giêsu đến, Ngài không bãi bỏ nhưng kiện toàn lề luật và thực thi luật cách thiết thực hơn “Thầy đến không phải để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn.” Người làm cho Luật được trọn hảo và được đặt nền trên tình yêu thương.

Chúng ta đã nghe Chúa dặn “Tất cả luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn: Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn, và yêu người thân cận như chính mình.”(x. Mt 22, 37-40) Luật và các lời ngôn sứ là yếu tố cốt yếu của Kinh Thánh, diễn tả ý muốn của Thiên Chúa. Những lời ngôn sứ loan báo đều được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Vì vậy, Chúa đến trần gian là để thực hiện ý Chúa Cha và hoàn tất công trình cứu độ nhân loại “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Người.”(Ga 4,34)

Đối với Chúa, không bảo thủ cố định, cũng chẳng cách mạng đổi thay tất cả. Người muốn làm cho luật có sự sống mới. Người không nệ vào truyền thống tiền nhân, nhưng cho chúng ta thấy mẫu gương thực hành luật cách sống động vì tình yêu. Vốn dĩ là Thiên Chúa, Người vẫn để cha mẹ Người thực thi luật cắt bì và dâng cho Thiên Chúa. (x. Lc 2,21-24) Chúa cũng nộp thuế và thi hành luật ngày Sabát, nhưng Người đã kiện toàn tất cả cách dứt khoát. Cốt lõi của luật là tình yêu, lòng nhân từ. Thế nên luật được làm ra nhằm phục vụ con người chứ không phải một cơ chế hay quyền lực nào. Luật vì con người, cho con người thăng tiến và được sống.

Trái lại, các kinh sư và người Pharisiêu luôn nệ luật. Họ thi hành luật cách cứng ngắc cốt chỉ để triệt hạ tha nhân. Cũng có thể họ chỉ áp dụng luật cho dân thường còn chính họ lại chẳng thi hành. Chính vì thế, Chúa đã nhắn nhủ các môn đệ “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisiêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” Vậy Luật và đức Công Chính mà Chúa mong các môn đệ và cũng muốn tất cả chúng ta, những Kitô hữu thực thi là gì?

– Đó là đừng giận ghét anh chị em mình. Vì “Ai giận anh em mình, ai mắng anh em mình là đồ ngốc, ai chửi anh em mình là quân phản đạo…đều bị phạt.”(x. Mt 5, 22) Chỉ nóng giận mắng chửi anh em đã là xúc phạm và phạm tội rồi. Chắc chắn là con người yếu đuối, trong cuộc sống ta sẽ dễ vấp phạm, nhưng Chúa khuyên ta hãy biết sống yêu thương, bác ái với nhau, làm hòa với anh em, tha thứ cho nhau, tôn trọng nhau, cảm thông và hiểu nhau. Thánh Phaolô cũng nhắc chúng ta hãy sống đức ái với nhau “Yêu thương thì nhẫn nhục, hiền hậu,…không nóng giận. Yêu thương thì tha thứ tất cả, chịu đựng tất cả…”(x. 1Cr 13, 4-7) Và để ta xứng đáng đến trước Chúa với tâm hồn trong sạch và bình an, ta hãy mau đến với Bí Tích Hòa Giải để xin Chúa tha thứ và giao hòa với anh em, chứ “Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn, đừng để ma quỉ thừa cơ lợi dụng.”(Ep 4,26-27)

– Đó là giữ tâm hồn và thân xác trong trắng, vì tâm hồn chúng ta là ngai Thiên Chúa ngự và thân xác ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Vậy, với điều răn thứ 6 ta cần thực thi “Chớ làm sự dâm dục” và thứ 9 “Chớ muốn vợ chồng người.” Chúa còn muốn chúng ta thực hiện cách gắt gao hơn “Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” Cái nhìn và tư tưởng ngoại tình đã sinh ra tội chứ không chỉ đến lúc hành động! Nếu chúng ta không biết kiềm chế bản thân từ trong ánh mắt, suy nghĩ, lời nói, ta sẽ dễ dẫn đến phạm tội. Chúa dạy ta cần ý thức và cảnh giác với những nguyên cớ dẫn đến tội, để ta tránh và quyết đoạn tuyệt, cho dù mất mát, đau thương hay phải hy sinh từ bỏ.( x. Mt 5, 29-30) Bởi vì chúng ta là con cái của Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện, Ngài không muốn chúng ta đánh mất Nước Trời, sa vào hỏa ngục.

– Đó là chu toàn luật hôn nhân một vợ một chồng. Hôn nhân là Bí Tích Chúa đã lập “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.”(Mt 19,6) Giá trị của đời sống hôn nhân ở chỗ trung tín, thủy chung. Ảnh hưởng đời sống xã hội, hôn nhân của Kitô hữu hiện nay đang phải đối diện với những thách đố về luân lý và sự chung thủy. Những nguy cơ dẫn đến ly dị là sự ngoại tình, là bất hòa và nóng giận, là thiếu hy sinh cho nhau, không đủ kiên nhẫn, cảm thông và tha thứ. Thế nên, với gia đình Kitô hữu, ta hãy biết thực thi giới răn yêu thương của Chúa, thể hiện cách thiết thực với người thân nhất của mình là vợ, là chồng, là con cái và hãy biết sống khiết tịnh trong bậc sống của mình.

– Đó là sống chân thật, đừng thề thốt. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà hàng thật hàng giả lẫn lộn, người thật người dối không thể nhận ra. Một không gian tràn đầy nghi ngờ vì sự thật như bị lãng quên và ai sống thật thì lạc lõng và quí hiếm. Chúa Giêsu nhắc chúng ta “Hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.” Mỗi Kitô hữu hãy khắc ghi Lời Chúa, sống và làm chứng cho chân lý giữa xã hội tha hóa hôm nay. Hãy làm chứng cho Chúa và Tin Mừng bằng đời sống chân thành, thật thà, giản dị. Chúa Giêsu, Đấng là Sự Thật, Đấng đến làm chứng cho Sự Thật. Theo Chúa, chúng ta được mời gọi sống thật trong từng lời nói, hành động đối với tha nhân. Hành xử thật thà trong cách sống; thật trong buôn bán, chăn nuôi, trồng tỉa để đem lại bình an, sức khỏe, niềm vui cho tha nhân. Bởi mọi gian dối, gian lận làm hại người, ta sẽ phải trả lẽ và sẽ lãnh hậu quả ngay trong cuộc sống này.

“Hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48) Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy nên hoàn thiện trong việc thi hành Luật Chúa và Hội Thánh với Tình Yêu chứ không vụ hình thức và chỉ là bổn phận hay bị bắt buộc, như lời ĐGH Phanxicô nhắn nhủ “Đừng làm nô lệ cho Luật, nhưng Kitô hữu hãy làm nô lệ cho Tình yêu mến, bạn sẽ tự do.” Hãy tham dự Thánh Lễ, các Bí tích, cầu nguyện và thực hành việc bác ái vì yêu Chúa và yêu tha nhân. Hãy sống sâu hơn trong tâm hồn, yêu thương, tôn trọng anh chị em; chứ giận ghét, la mắng đã là xúc phạm, giết anh em rồi “Ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân.”(1Ga 3,15) Hãy tiết độ trong ánh nhìn, lời nói, bởi khi ước muốn là đã phạm tội, đã ngoại tình trong tư tưởng. Hãy sống bao dung, nhân hậu, thật thà với anh chị em. Ước mong sao từng Kitô hữu chúng ta biết sống can đảm và làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống thánh thiện, đạo đức, yêu thương, chung thủy, chân thật của mình cho thế giới hôm nay. Vì “ai yêu thương, thì đã chu toàn lề luật.”(x. Rm 13,10)

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết tuân giữ luật Chúa và sống đời Kitô hữu vì lòng yêu mến Chúa, yêu thương anh em. Amen.

2. Luật mới

Chúa Giêsu đến không phải để phá huỷ lề luật của các tổ phụ và tiên tri, nhưng đến để làm cho trọn. Luật cũ mặc dù cũng là luật bởi trời do Thiên Chúa dạy bảo. Luật ấy gắn liền với giao ước cũ giữa Thiên Chúa và dân Do Thái, nhưng còn mang nặng tính cách nặng vụ hình thức, thích hợp với não trạng dân chúng vào cái thuở xa xưa ấy.

Trái lại, luật mới gắn liền với giao ước mới, giữa Đức Kitô và dân mới tức là Giáo Hội. Đây là luật tình thương, gắn liền với sự kết hợp thân mật giữa cá nhân với Đức Kitô. Đây cũng là luật vượt trội hơn luật cũ và bổ túc cho luật cũ, vì phải có đức tin và tình mến sâu xa nơi Đức Kitô. Chính vì vậy mà Đức Kitô cũng là cùng đích của các điều luật. Chúa Giêsu là thầy dạy luật, tức là người có quyền trên luật. Không như các tổ phụ và các tiên tri, chuyển giao lệnh truyền của Thiên Chúa. Chúa Giêsu tự phán dạy: Các ngươi đã nghe người xưa bảo. Còn Ta Ta bảo với các ngươi.

Luật mới của Người không chỉ dựa trên hình thức bên ngoài, nhưng đòi hỏi một tinh thần, xuất phát tự nội tâm, tự cõi lòng và trở nên nguồn gốc cho mọi tư tưởng, lời nói và việc làm. Các con hãy yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn. Đó là một sự đòi hỏi gắt gao, chính vì thế, khi giữ luật, Chúa Giêsu đòi chúng ta phải chính trực hơn những thầy thông giáo và biệt phái thì mới được vào Nước Trời.

Có một chị nữ tu kia rất cẩn thận chu toàn luật dòng. Bê trên và chị em ai cũng quý mến và lấy chị làm gương mẫu. Dù khó khăn vất vả, chị vẫn tươi cười chu toàn bổn phận. Mọi người lấy làm lạ, hỏi chị thì chị trả lời: Tôi không bao giờ thấy luật dòng là điều khó, nhưng là điều rất dễ nếu chúng ta thật lòng yêu mến Chúa. Hay như chị Têrêsa, dù việc lớn hay việc nhỏ, chị thánh đều làm tất cả vì lòng yêu mến Chúa, như lời thánh Phaolô đã khuyên nhủ: dù ăn, dù ngủ, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm vì Đức Kitô.

Bởi đó mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem: luật Chúa đối với chúng ta là một gánh nặng hay là một sự dịu ngọt. Chúng ta đã giữ luật Chúa với tinh thần nào: qua loa chiếu lệ hay là vì lòng yêu mến Chúa.

Hãy đặt tình mến Chúa vào trong những công việc tầm thường và nhỏ bé nhất, tình mến ấy sẽ là như đôi đũa thần, biến những công việc tầm thường nhỏ bé ấy trở nên những sợi chỉ vàng, dệt thành cuộc đời chúng ta và làm cho cuộc đời chúng ta có một giá trị to lớn trước tôn nhan Thiên Chúa.

3. Luật Thiên Chúa: Luật của Tình Yêu – Huệ Minh

Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định một điều xem ra mâu thuẫn với thái độ của Ngài: Ta đến để kiện toàn, chứ không phải là để huỷ bỏ lề luật và các tiên tri. Trong lời khẳng định này của Chúa Giêsu, chúng ta phải hiểu là không khi nào lề luật, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, sẽ mất hiệu lực, nghĩa là sẽ mất tính cách bắt buộc. Vậy phải cắt nghĩ làm sao điều xem ra như mâu thuẫn giữa lời tuyên bố và hành động của Ngài đối với lề luật?

Luật Thiên Chúa còn đó! Đúng như lời Ngài đã khẳng định: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc giáo huấn của các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, và cho đến khi mọi sự được hoàn thành, thì một chấm một phết trong sách luật cũng không thể bỏ đi được” (Mt5,17-18).

Về phần Đức Giêsu, Người luôn khảng định việc căn kẽ giữ luật là cần thiết “một chấm một phết trong lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành”. Các môn đệ hiểu rõ điều đó cho nên sau này, kể cả khi Đức Giêsu đã về trời, họ vẫn tuân giữ căn kẽ mọi lề luật Môsê. Các tông đồ còn muốn mọi tín hữu (nhất là các người gốc Do Thái giáo) phải tiếp tục giữ trọn luật pháp theo lời Chúa dạy: “Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời”. Tuy nhiên, sứ mạng đích thực của Đức Giêsu không nhằm kêu gọi dân chúng giữ luật. Điều này đã được các Pharisêu, các luật sĩ… và Gioan Tiền hô làm bằng nhiều cách. Người khảng định: “Thầy đến… để kiện toàn luật Môsê!” Và không chỉ Người, mà bất cứ kẻ nào tin vào Người cũng phải kiện toàn lề luật như thế: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vài Nước Trời”.

Thiên Chúa đã trao ban cho con người một thứ quà tặng quý giá đó là sự tự do. Chính sự tự do, này nếu chúng ta biết sử dụng, sẽ đem lại cho chúng ta vẻ cao quý, bằng không nó sẽ vùi chúng ta xuống tận bùn đen.

Thiên Chúa muốn chúng ta phụng sự Ngài một cách tự do, không ép buộc, bởi vì hành động của một kẻ nô lệ, của một người máy thì làm sao tạo được công nghiệp. Sự tự do là như một chiếc chìa khoá, nhờ đó mà mở ra khung trời hạnh phúc, nhưng đồng thời cũng có thể dẫn đến biết bao nhiêu tội ác.

Thiên Chúa không bao giờ cưỡng bức chúng ta phải phụng thờ Ngài. Nhưng đồng thời, Ngài cũng không bao giờ làm cho bàn tay của kẻ độc ác bị bại liệt.

Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là Đấng kiện toàn lề luật và kiện toàn ở đây không có nghĩa là tuân giữ lề luật một cách chín chắn, trọn đủ, mà có nghĩa là làm trọn, làm cho lề luật có đầy đủ ý nghĩa của nó.

Khi Thiên Chúa tuyển chọn và kết giao ước với dân riêng của Ngài, Ngài đã ban cho họ mười điều răn, cốt yếu là những điều cấm, quy định ranh giới sinh hoạt mà kẻ thuộc về Ngài không thể vượt qua. Ở đây cũng cần phải lưu ý mười điều răn không phải là những điều kiện tiên quyết để Thiên Chúa ký kết giao ước với dân Ngài, mà trái lại, giao ước đã được ký kết do sáng kiến của chính Thiên Chúa, rồi sau đó, mười điều răn mới được mạc khải cho dân Ngài.

“Luật trần gian” có giới hạn của nó. Lòng tham, sự yếu đuối, cùng với khát vọng vô bờ bến, con người không thể sống tốt chỉ với những luật lệ trên giấy trắng mực đen đó. Người ta có thể lòn lách để trách né luật lệ, và có khi dùng chính luật lệ đó để bảo vệ sự an toàn cho mình và sống lạnh lùng đối với tha nhân.

Khi chúng ta lắng nghe cách cẩn thận những lời của Chúa Giêsu trong bài giảng của Người hôm nay, chúng ta có thể kết luận rằng, Chúa Giêsu dạy chúng ta tình yêu dành cho Thiên Chúa không tách biệt tình yêu dành cho người lân cận của chúng ta. Thật là một lỗi nghiêm trọng để hành động nếu chúng ta đặt quan hệ của mình với Thiên Chúa với tư cách cá nhân và riêng tư, không có gì để làm với tha nhân. Khi chúng ta hiểu biết Thiên Chúa như một người Cha, chúng ta phải dành tình yêu của mình cho tất cả con cái của Người.

Chúa Giêsu dạy các môn đệ thực hành niềm tin bằng cách: đừng giận ghét. Chúa dạy như vậy có khả thi không? Bởi vì trên đời này, dù một người hiền lành đến mấy cũng không tránh khỏi đôi lần nổi giận. Chính Chúa Giêsu cũng đã nổi giận với những người buôn bán trong Đền thờ kia mà!

Chúa dạy đừng giận ghét, thì ta phải hiểu rằng: ta không được ghét ai, nghĩa là loại trừ họ, đó là điều trái với đức thương yêu, nhưng đồng thời ta cũng phải tập làm chủ nhưng cơn nóng giận của mình. Việc đó có thể làm được với ơn Chúa và nhất là với đời sống cầu nguyện, vì đó là cách thức chúng ta dễ nâng tâm hồn lên với Chúa để Ngài thanh luyện tâm hồn chúng ta thuộc về Chúa và gần gũi với tha nhân hơn.

Tình yêu chính là Luật Mới đã được Đức Giêsu công bố trong bài giảng trên núi: “Tôi không đến để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn”, nghĩa là Đức Giêsu công bố lại ý hướng nguyên thuỷ của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu. Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như bản thân mình”.

Nếu tình yêu chân thật là nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, thì con người sẽ không bao giờ dám lên tiếng phàn nàn than trách Thiên Chúa. Nếu tình yêu là nền tảng cho mối tương quan giữa người với người, thì sẽ không còn cảnh tranh giành, xung đột, hận thù lẫn nhau nữa.

Luật mới của Đức Giêsu sẽ tạo nên những con người mới, một xã hội mới, tạo nên “Nước Trời”: “Anh em hãy trở nên hoàn thiện như chính Thiên Chúa là Đấng Hoàn Thiện”. Trong một số ví dụ được Đức Giêsu đưa ra như giết người, gian dâm, bội thề… Luật mới không chỉ dừng lại ở những hành động tội ác, mà đòi hỏi phải đổi mới tận chiều sâu của tâm hồn, tận trái tim yêu thương

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống theo tinh thần phúc âm. Hãy ăn ở ngay lành. Hãy làm việc thiện. Hãy từ bỏ những tính hư nết xấu, những đam mê tội lỗi. Đừng có đạo mà sống xa rời tình nghĩa với anh em, xa rời tình nghĩa với Chúa. Đạo không dừng lại ở việc tuân giữ điều này điều kia mà còn thể hiện tình liên đới, sự chia sẻ, cảm thông với anh em. Đạo được quy chiếu vào lòng mến. Mến Chúa thì phải yêu mến anh em. Tình yêu đó đòi hỏi phải sống hiệp thông với nhau trong yêu thương và tha thứ. Tình yêu đó đòi hỏi tránh xa những mâu thuẫn, những ghen ghét, giận hờn. Chúa còn coi trọng sự hoà giải với nhau hơn cả việc đến dâng của lễ. Vì khi “anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người đang bất bình với anh, thì hãy bỏ của lễ mà đi làm hoà trước đã rồi hãy trở lại mà dâng lễ”.

Nhìn vào thế giới hôm nay đó là một thế giới đầy bạo lực. Con người không cần lý lẽ. Người ta có thể dùng quyền để bẻ cong công lý. Người ta dùng sức mạnh để đè bẹp tự do và xâm phạm quyền sống của tha nhân. Vâng, giữa một thế giới mà sự thù hận luôn đòi loại trừ nhau bằng bạo lực, bằng gươm đao. Giữa một thế giới mà lòng nhân đã đánh mất chỉ còn sự giả hình, hay nhẹ hơn là mạnh ai nấy lo, sống thiếu tình liên đới với nhau. Người kytô hữu cần phải thể hiện cho người ta thấy lòng bao dung và tha thứ vẫn còn tồn tại trên trần gian. Vì Chúa chúng ta vẫn có thể làm điều ấy. Vì Chúa chúng ta hãy nhịn nhục lẫn nhau. Vì Chúa chúng ta hãy tha thứ cho nhau. Vì Chúa chúng ta hãy “chín bỏ làm mười”, sống vị tha và bác ái với nhau.

4. Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Đức Giêsu là mẫu gương tuân giữ Lề Luật: Ngài giữ luật nộp thế cho đền thờ như bất cứ ai (x. Mt 17, 24-27); Ngài giữ luật hành hương lên đền thờ Giê-ru-sa-lem để dự lễ vượt qua (x. Lc 2,41-42).

Cả cuộc đời của Ngài đã sống theo ý Chúa Cha, Ngài nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34). Trước cái chết khổ hình, Ngài đã cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin theo ý Cha đừng theo ý con”(Lc 22,44).

Đức Giêsu không những tuân giữ Lề Luật mà Ngài còn kiện toàn Lề Luật. Ngài nói: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”(Mt 5,17). Nghĩa là, Luật Mô-sê vẫn giữ nguyên, không thể bãi bỏ dầu một chấm một phết, nhưng luật đó được Đức Giêsu kiện toàn. Ngài kiện toàn bằng cách lấy tình thương làm nền tảng và làm kim chỉ nam cho việc tuân giữ luật. Xin được nêu lên mấy dẫn chứng sau đây:

Thứ nhất, Đức Giêsu kiện toàn luật ngày Sa-bát: Ngài đã dùng câu chuyện lịch sử trong sách Sa-mu-el (x. 1Sm 3-7) để giúp cho người Do thái hiểu được tinh thần giữ luật như thế nào, Ngài nói: “Các ông chưa đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao?”(Mt 12, 3-5).

Chính vì chủ trương giữ luật vì tình thương nên chúng ta thấy trong ngày sa-bát: Ngài vẫn chữa lành cho người có tay khô bại (x. Mt 12,9); chữa lành cho người đàn bà bị còng lưng được đứng thẳng (x. Lc 13,10); chữa lành cho người mắc bệnh phù thũng được khỏi (x. Lc 14,1); chữa lành cho người bất toại nằm bên bờ hồ có năm dãy hành lang (x. Ga 5,1t); hóa bánh ra nhiều để nuôi hàng ngàn người dân ăn no nê (x. Ga 6,4); chữa lành cho người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,16).

Tất cả những việc làm đó của Đức Giêsu nói lên việc kiện toàn lề luật của Ngài đối với ngày Sa-bát. Đúng như lời Ngài khẳng định: “Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát” (Mc 2,27).

Thứ hai, Đức Giêsu kiện toàn luật giết người: Luật Mô-sê dạy: “Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà”(Mt 5, 21). Còn Đức Giêsu dạy: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt”(Mt 5, 22). Như vậy, Đức Giêsu không những cấm “giết” người mà Ngài còn cấm cả những thái độ “giận”, “mắng” và “chửi” anh em. Bởi vì, những hành động đó là mầm mống có thể dẫn đến việc giết người. Chính thánh Gioan đã khẳng định: “Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân”(1Ga 3,15).

Thứ ba, Đức Giêsu kiện toàn luật ngoại tình: Luật Mô-sê cấm ngoại tình. Đức Giêsu không chỉ cấm ngoại tình mà Ngài còn cấm cả tư tưởng ngoại tình, tức là nguyên nhân sinh ra tội ngoại tình. Chính vua Đa-vít đã phạm tội ngoại tình nguyên do từ cái nhìn (x. 2Sm 11,2). Vì thế, Ngài nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”(Mt 5,28). Cho nên, Ngài mời gọi chúng ta phải có hành động dứt khoát với nguyên nhân sinh ra tội giống như móc mắt, chặt tay, chặt chân vậy. Ngài nói rằng: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục”(Mt 5, 29-30).

Thứ tư, Đức Giêsu kiện toàn luật một vợ một chồng: Luật Mô-sê dạy: “Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị.” Đức Giêsu cấm hẳn ly dị hoặc đa thê. Vì thế, khi có mấy người Pha-ri-siêu hỏi Ngài có được phép rẫy vợ vì bất cứ lý do gì không? Ngài trả lời rằng: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 4-6). Ngài còn cho biết rõ hơn: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5, 32).

Thứ năm, Đức Giêsu kiện toàn luật lời thề: Luật Mô-sê cho phép thề, nhưng “chớ bội thề,” còn Đức Giêsu bảo: “Đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được” (Mt 5, 34-36). Sỡ dĩ Đức Giêsu cấm thề, là vì lời nói cần phải có giá trị: “Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).

Ngoài ra, Đức Giêsu còn kiện toàn luật ăn chay, cầu nguyện, bố thí (x. Mt 6, 1-18), luật báo thù (x. Mt 5, 38-42), luật yêu thương (x. Mt 5, 43-48).

Như vậy, Đức Giêsu không chỉ là mẫu gương tuân giữ Lề Luật mà Ngài còn kiện toàn Lề Luật theo tiêu chí tình thương.

Ai cũng biết trong đời sống xã hội cũng như trong đời sống tôn giáo, luật lệ có tầm quan trọng rất lớn. Luật lệ để giúp cho cá nhân và tập thể sống có trật tự, có nề nếp, có nhân cách, có trách nhiệm, đồng thời ngăn chặn được cái xấu, cái ác, sự bất công. Vì thế, người sống theo luật lệ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và tập thể. Thánh Bênađô Viện phụ nói: “Ai giữ luật thì luật gìn giữ người ấy.” Ngược lại, người sống vô kỷ luật là người thiếu nhân cách, thiếu trách nhiệm, dễ sa vào các tệ nạn, ảnh hưởng tới gia đình và xã hội cũng như Giáo hội. Tác giả sách Huấn ca trong bài đọc I cho chúng ta biết: Con người có tự do để lựa chọn hay khước từ các điều răn của Chúa, nhưng ai nấy đều phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Giữ luật Chúa thì được sống, khước từ luật Chúa thì phải chết (x. Hc 15, 16-21).

Người kitô hữu chúng ta được mời gọi tuân giữ Lề luật, đặc biệt là luật Chúa. Vì “Sống theo luật là sống theo Chúa.” (Thánh Grêgôriô). Nhưng chúng ta tuân giữ luật Chúa như thế nào? Phải tuân giữ luật Chúa với tinh thần của Đức Giêsu, đó là giữ luật vì tình thương và lòng yêu mến. Tránh tình trạng giữ luật theo kiểu biệt phái và luật sĩ: Giữ luật theo hình thức bên ngoài mà trong lòng trống rỗng hay chỉ giữ những điều phụ thuộc mà quên đi những điều chính yếu, giữ những luật nhỏ nhặt mà quên đi công bình bác ái yêu thương.

Lạy Chúa, xin cho con biết giữ luật Chúa với tinh thần yêu mến. Amen.

5. Kiện toàn lề luật

Đọc Tin Mừng nhiều lúc chúng ta có cảm tưởng như là Chúa Giêsu đã coi thường những quy định có tính cách tôn giáo của xã hội lúc bấy giờ. Không chỉ coi thường mà đôi lúc Ngài còn như cố tình vi phạm những luật lệ ấy, chẳng hạn Ngài chữa bệnh vào ngày nghỉ lễ, hay không rửa tay trước khi ăn theo luật dạy. Dù sao thì thái độ như có vẻ tự do của Ngài đối với bọn Pharisêu là điều không thể chấp nhận được, và đã trở thành căn nguyên dẫn Ngài đến cái chết nhục nhã trên thập giá.

Thế nhưng, qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu lại khẳng định một điều xem ra mâu thuẫn với thái độ của Ngài: Ta đến để kiện toàn, chứ không phải là để huỷ bỏ lề luật và các tiên tri. Trong lời khẳng định này của Chúa Giêsu, chúng ta phải hiểu là không khi nào lề luật, ngay cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, sẽ mất hiệu lực, nghĩa là sẽ mất tính cách bắt buộc. Vậy phải cắt nghĩ làm sao điều xem ra như mâu thuẫn giữa lời tuyên bố và hành động của Ngài đối với lề luật?

Chúa Giêsu tuyên bố Ngài là Đấng kiện toàn lề luật và kiện toàn ở đây không có nghĩa là tuân giữ lề luật một cách chín chắn, trọn đủ, mà có nghĩa là làm trọn, làm cho lề luật có đầy đủ ý nghĩa của nó.

Khi Thiên Chúa tuyển chọn và kết giao ước với dân riêng của Ngài, Ngài đã ban cho họ mười điều răn, cốt yếu là những điều cấm, quy định ranh giới sinh hoạt mà kẻ thuộc về Ngài không thể vượt qua. Ở đây cũng cần phải lưu ý mười điều răn không phải là những điều kiện tiên quyết để Thiên Chúa ký kết giao ước với dân Ngài, mà trái lại, giao ước đã được ký kết do sáng kiến của chính Thiên Chúa, rồi sau đó, mười điều răn mới được mạc khải cho dân Ngài.

Bên trong ranh giới được ấn định bởi những điều cấm là cả một khoảng trống. Khoảng trống này dần dà được lề luật lấp đầy, rồi đến lượt các luật sĩ giải thích và những giải thích này đã biến thành một mạng lưới dày đặc những quy định, những nghi thức len lỏi vào từng chi tiết của cuộc sống con người và xã hội. Và như thế con người lâm vào tình trạng mình có vì lề luật, trở nên nô lệ cho lề luật, thay vì lề luật có là vì con người.

Trong tình trạng này, lề luật bỗng được giao cho vai trò môi giới trong quan hệ giữa con người và Thiên Chúa. Người ta được quan hệ với Thiên Chúa hay bị cắt đứt mối liên hệ ấy một cách máy móc do tuân giữ hay không tuân giữ các điều khoản của lề luật. Hơn nữa, các luật sĩ đã đề ra những điều khoản mà không phải ai cũng có thể tuân giữ được. Người ta không tuân giữ được, không phải vì thiếu thiện chí, thiếu lòng đạo đức, nhưng vì những điều kiện khách quan của cuộc sống, của nghề nghiệp không cho phép, nên quả thực, các luật sĩ đã khoá cửa Nước Trời đối với đông đảo thành phần trong dân Chúa.

Chính những lề luật và cách hiểu về vai trò của lề luật này đã bị Chúa Giêsu đả phá. Ngài phủ định vai trò môi giới của lề luật. Đối với Ngài, điều quyết định trong mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa, cũng như giữa con người với nhau không phải là việc tuân giữ các điều khoản của lề luật mà chính là lời của Chúa Giêsu và việc thi hành lời của Ngài: Ngay cả kẻ được coi là công chính, vì trung thành tuân giữ các điều khoản của lề luật cũng được đòi hỏi phải trở lại với lời của Ngài.

Từ đó chúng ta mới hiểu được vai trò kiện toàn lề luật của Chúa Giêsu, chính Ngài mới làm cho lề luật được đầy đủ ý nghĩa của nó.