Chúa Nhật 16/12/2018 – Chúa Nhật Tuần 3 Mùa Vọng Năm C

Lời Chúa: Lc 3, 10-18

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: "Vậy chúng tôi phải làm gì?". Ông trả lời: "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy".

Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?" Gioan đáp: "Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi".

Các quân nhân cũng hỏi: "Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?" Ông đáp: "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình".

Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: "Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?"

Gioan trả lời cho mọi người rằng: "Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!" Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.

Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG C

Lời Chúa: Xp 3,14-18; Pl 4,4-7; Lc 3,10-18

 

1. Phải làm gì?

Cuộc sống luôn là một hành trình tìm kiếm, dù là những loài thấp nhất cho đến con người đều đi tìm cho mình một sự sống, một ý nghĩa cái có thể là vật chất hay tinh thần. Trong tâm tình Mùa Vọng, người Kitô hữu cũng đang trông mong, ngóng chờ và đang tìm một điều gì đó để nó thực sự có giá trị và bình an. Hôm nay, Chúa Nhật III Mùa Vọng hay còn gọi là Chúa Nhật của niềm vui, Giáo hội mời gọi con cái mình sống tâm tình hân hoan đón chờ Con Chúa xuống thế làm người và mang ơn bình an, ơn Cứu độ xuống cho toàn thể nhân loại. Vì thế, hướng tới đích điểm tìm kiếm sẽ được thánh Gioan Tấy Giả gợi mở để mỗi người đón nhận được Tin Mừng của Đấng sẽ ngự đến và mang ơn Cứu độ cho con người.

Mở đầu bài đọc 2, thánh Phaolô đã ra lời kêu gọi “Hãy vui lên” là lời mời gọi tha thiết được gửi tới cho cộng đoàn Kitô hữu ở Philipphê. Lý do chính của niềm vui này chính là vì “Chúa đã gần đến”. Tuy nhiên, niềm vui này không đơn giản chỉ là một cảm xúc mau qua, nhưng là hoa trái của một nỗ lực sống đức tin được thể hiện qua các chiều kích khác nhau trong viễn ảnh hướng về ngày Chúa đến. Điều này nối kết với bài Tin Mừng mà thánh sử Luca trình bày việc dân chúng đi tìm một ý nghĩa đích thực trong cuộc sống của họ.

Câu hỏi của dân chúng khi xưa : “chúng tôi phải làm gì?” cũng vẫn là câu hỏi cho thời đại hôm nay. Nếu khi xưa dân chúng khao khát chờ đợi một Đấng đến để giải thoát họ, thì Gioan Tẩy giả xuất hiện để kêu gọi họ chuẩn bị tâm hồn đón chờ Đấng phải đến, nghĩa là phải sám hối để cầu ơn tha tội, nhờ dấu chỉ hữu hình qua việc rửa tội mà ông thực hiện. Nhưng trên thực tế việc làm này vẫn chưa thỏa được lòng của họ. Họ cần một việc cụ thể : “chúng tôi phải làm gì?”. Chính Gioan đã trả lời các lý chứng rất thực tế: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy” (c. 11). Với người thu thuế: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi” (c. 13). Với binh lính: “Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình” (c.14). Như vậy, Gioan đã có những hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp. Ông đã không ngăn cấm họ bỏ công việc của mình dù công việc của họ không được lòng dân chúng, nhưng đã hướng dẫn cách thức thực hiện công việc đó để việc làm của họ trở nên xứng đáng hơn và phù hợp hơn với phẩm giá của con người.

Trong lời kêu gọi của Gioan, ông đã giúp họ không những biến đổi bên ngoài mà còn biến đổi cả nội tâm bên trong, nghĩa là việc hoán cải thực sự và hoán cải không ngừng. Chính từ hành trình này mà họ cảm nhận được sự hy vọng và niềm vui đợi chờ một Đấng thực sự mang lại cho họ ơn cứu độ đích thực. Một sự trông mong theo hướng tích cực ắt hẳn sẽ dẫn người ta đến nềm vui thực sự. Niềm vui ấy sẽ vỡ òa khi họ biết và đón nhận Đấng Cứu Thế đang đến gần, Người mà Gioan đang loan báo là Đấng quyền thế và sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa (c.16).

Qua những gì mà Gioan đang nỗ lực loan báo và trình bày cho thế hệ của ông thì cũng là vấn nạn của con người hôm nay qua việc trả lời cho câu hỏi “Phải làm gì?”. Sống trong một xã hội biến đổi không ngừng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thậm chí cả tôn giáo…con người của thời đại hôm nay cũng đang loay hoay đi tìm cho mình một cái ý nghĩa cụ thể và một niềm vui thực sự. Tôi có thể sở hữu một cái điện thoại mới nhất, một cái ôtô xịn nhất, một căn nhà tiện nghi nhất…nhưng ngay ngày hôm sau đã có những cái mới hơn, xịn hơn, và tiện nghi hơn. Vậy liệu tôi có thực sự vui khi tôi làm được điều đó? Hẳn là không vui, vì thực sự tôi chưa chinh phục được những gì là “nhất” trong cuộc đời tôi.

Vậy cái vui mà thánh Phaolô nói có phải là cái vui mà những thứ tôi sở hữu mang lại, hay có một cái vui nào khác nữa?! Chắc chắn, ông đã trả lời, đó là niềm vui Chúa đang đến gần, niềm vui có Chúa ở cùng, niềm vui được sống tương quan với Chúa. Các bạn sẽ đặt câu hỏi, Chúa đâu có can thiệp gì vào cuộc đời tôi, Chúa đâu có hiện diện để tôi thấy đó làm niềm vui?... Các bạn hãy làm theo lời của thánh Phaolô nhé! “Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ” (Pl 4,6). Như vậy, chúng ta mới dần khám phá ra sự hiện diện của mình trong Chúa, để thấy được niềm vui đích thực hiện diện trong tương quan với Ngài. Một sự tương quan vĩnh cửu và không thay đổi và niềm vui của chúng ta cũng sẽ không đổi thay.

Chính vì thế một tâm hồn hoán cải và nhìn nhận thực sự bản thân mình sẽ có cơ may đặt mình trở lại trong tương quan đích thực và tương quan này giúp cho mỗi người thấy mình cần mở rộng và trao ban niềm vui đã nhận được. Điều này liên hệ với mỗi người, khi chúng ta có ý hướng hay đang thực hiện lòng bác ái với những người xung quanh. Dấn thân trong niềm vui mang Chúa đến cho người khác thì khác với dấn thân mang danh hiệu của mình đến cho người khác. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng, những nỗ lực dấn thân mang danh mình cũng có nhưng chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc, nhưng nếu mang danh Chúa trong chương trình và kế hoạch của Ngài thì việc làm đó được sinh hoa trái và tồn tại mãi mãi.

Như vậy, trong hành trình truy tìm niềm hy vọng, niềm vui đích thực chúng ta cùng khởi đi với cách thức và hướng dẫn của Gioan Tẩy giả, nghĩa là một hành trình hoán cải và đổi mới liên tục, không chỉ ở bên ngoài mà còn cả đời sống nội tâm. Chính nhờ việc hoán cải mà ta có thêm sức mạnh của niềm tin, niềm cậy trông vào Thiên Chúa đích thực. Và như vậy chúng ta sẽ có mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Khám phá được điều này, tự chúng ta sẽ thấy được niềm vui, niềm hạnh phúc tràn về và khi đã đong đầy, mỗi người lại mang niềm vui đó cho những người xung quanh. Đây chính là niềm vui có Chúa và mang Chúa đến cho những người chưa nhận biết Chúa. Đây cũng là đích điểm của việc chúng ta tìm kiếm hằng ngày, tìm được niềm vui và mang niềm vui đó chia sẻ cho tất cả mọi người.

Giuse Trịnh Văn Cung, MF

 

1. Niềm vui

Phụng vụ của Chúa nhật 3 Mùa vọng mang một bầu khí vui mừng. Thực vậy, ngay từ ca nhập lễ, thánh Phaolô đã kêu gọi: Anh em hãy vui lên trong Chúa. Tiếp đến, trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Sophônia cũng đã nhắn nhủ: Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan nhảy mừng. Sở dĩ như vậy là vì Chúa đã gần đến.

Kinh nghiệm cho thấy niềm vui là một điều rất cần cho đời sống con người. Vào dịp tết chúng ta thường cầu chúc cho nhau được vui vui tươi và hạnh phúc. Khoa tâm lý còn chứng minh niềm vui làm cho con người trẻ hơn và sống lâu hơn. Trong thực tế, con người cố tạo cho mình nhiều niềm vui, nhưng đâu mới chính là niềm vui đích thực? Bởi vì có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy trống rỗng và chán nản. Có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy mệt mỏi và thất vọng. Có những niềm vui, mà sau đó con người cảm thấy lo âu và hối hận.

Với lễ Giáng Sinh cũng thế. Chúng ta cảm thấy vui khi ngắm nhìn những ngôi sao, những hang đá rực rỡ ánh điện màu. Chúng ta cảm thấy hân hoan khi nghe những bản thánh ca tuyệt vời, hay khi nhận được những tấm thiệp chúc mừng. Tất cả đều là những niềm vui chính đáng, nhưng chưa phải là niềm vui đích thực. Bởi vì lễ Giáng Sinh sẽ qua đi, mọi trang trí sẽ bị dẹp bỏ, mọi người trở về với cuộc sống thường ngày. Vì thế, niềm vui đích thực phải là niềm vui xuất phát từ bên trong, từ tâm hồn của con người. Đi tìm niềm vui ở bên ngoài chỉ là một chạy trốn thực tại và không bao giờ đạt tới kết quả, vì người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Vậy phải làm gì để có được niềm vui đích thực?

Thánh Gioan tiền hô qua đoạn Tin Mừng hôm nay đã trả lời: Hãy sống công bình và bác ái, biết nghĩ đến người khác, biết chia sẻ với những người kém may mắn, đừng lợi dụng địa vị và quyền hành để chèn ép và bóc lột người khác. Tóm lại, hãy quên mình để phục vụ an em và chu toàn những bổn phận hằng ngày, đó là con đường dẫn tới niềm vui đích thực. Mảnh đất tối cho niềm vui phát triển là tình bác ái yêu thương. Sống trong một thế giới đầy hận thù và chiến tranh, sống trong một xã hội cá lớn nuốt cá bé. Sống trong một môi trường đảo điên và lừa gạt, chúng ta dễ bi quan và cho rằng: Con người khó mà yêu thương nhau chân thành. Dầu vậy, chúng ta đừng vội tuyệt vọng, nhưng hãy nhớ đến mối phúc thật thứ bảy: Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Hãy thực thi công bằng và bác ái, nhờ đó chúng ta sẽ được hưởng niềm vui mừng và bình an mà Chúa sẽ đem đến qua tiếng hát của các thiên thần trên cánh đồng Belem năm xưa: Bình an dưới thế cho người thiện tâm.

 

2. Tôi phải làm gì - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Trước những biến cố quan trọng, trước những nguy khốn cấp bách, người ta thốt lên: Tôi phải làm gì? Gioan tiền hô xuất hiện, kêu gọi mọi người dọn đường đón Đấng Cứu thế. Dân Do thái hàng ngàn năm đã được nghe về Đấng Cứu thế. Bao nhiêu thế hệ đã khao khát mong chờ Đấng Cứu thế.

I/ Dân chúng mong đợi Đấng Cứu thế vì nhiều lý do:

1/ Kẻ buồn vì đất nước bị gót giày ngoại bang chà đạp, mất tự do tín ngưỡng, mất tự do nhân phẩm, khổ vì bị bóc lột, đau vì bị áp bức. Người có chức quyền địa vị chỉ lo vơ vét ăn chơi tửu sắc, còn dân chúng sống chết mặc bay.

2/ Kẻ học biết Kinh thánh và nhữnh kinh sĩ chỉ lo nghiền ngẫm những lời tiên tri loan báo: Đấng Cứu thế sắp đến là “Vua được xức dầu, Ngài đến trong dòng dõi Giuda, Ngài chiến thắng quân thù, giết những vua quan ngoại bang… Đấng xức dầu sẽ tụ họp dân Ngài trong đường công chính, cai trị các quốc gia, loại trừ mọi bất công và gian ác. Phúc cho ai được sống trong thời đại ấy”. Họ nghiền ngẫm những lời ấy và suy đoán sắp đến ngày Đấng Cứu thế xuất hiện và ai ai cũng đều cầu xin Ngài đến. Giờ đây họ được nghe loan báo Ngài đang đến. Thế là như cá gặp nước, như người chết đuối vớ được phao cứu, dân chúng đổ xô đến hỏi Gioan: “Chúng tôi phải làm gì để đón rước Đấng Cứu thế?”. Gioan không bắt họ phải bỏ nghề nghiệp, địa vị, việc làm, không bắt họ lên rừng ẩn tu khắc khổ, cũng không phải ăn chay, khóc lóc, mặc áo nhặm, rắc tro lên đầu như tiên tri Giona đã bảo dân Ninivê. Gioan chỉ kêu gọi họ phải hối cải, phải kiểm tra lối sống của mình, từ bỏ bất chính, cải thiện đời sống, quyết tâm thực thi công bằng, bác ái trong chính nhiệm vụ, nghề nghiệp, chức năng riêng của mình.

II/ Vậy công bằng, bác ái là gì?

1/ Công bằng là gì? Qua hai lời chỉ dẫn của Gioan cho hai hạng người lính và thu thuế.

Đối với lính thì Ngài khuyên: “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”. Lính tiêu biểu cho hạng người có sức mạnh, có quyền lực vũ khí trong tay, muốn hoành hành thế nào tùy thích, dễ ỷ mạnh hiếp yếu, đe dọa, áp bức bóc lột bất công, khó có thể sống ngay chính, vì thế Thánh Gioan đã khuyên họ: Hãy bằng lòng với số lương của mình hay số tiền do công lao chính đáng của mình làm ra, chứ đừng bóc lột, vơ vét, trộm cắp của người khác, sống công bằng như thế họ sẽ xứng đáng đón rước Đấng Cứu thế.

Lỗi đức công bằng này thì dễ biết vì nó trực tiếp làm hại người ta. Nhưng công bằng trong nhiệm vụ thì khó biết.

Công bằng trong nhiệm vụ được thực hiện trong việc thâu thuế, nên đối với người thâu thuế Gioan khuyên: “Đừng đòi gì quá mức ấn định”

Thứ nhất, mức ấn định là mức do luật pháp đã ban hành cách hợp lý, thuế quá mức là bất công.

Thứ hai, dân có mức nào thì xác định mức đó, không vì lập công mà khai thêm đánh quá.

Thứ ba, đồ tốt xấu thế nào, đánh giá đúng như thế, đừng gian dối tráo trở, tăng giảm sai sự thật là bất công.

Thứ bốn, giữ nhiệm vụ nào phải lo chu toàn nhiệm vụ ấy, lười biếng bê trễ, phung phí là bất công; làm Linh mục bê trễ là bất công; làm cha mẹ, thầy cô không lo dạy dỗ con trẻ là bất công; làm cán bộ, công chức không lo giúp đỡ dân là bất công; con cái không giúp đỡ, nghe lời cha mẹ, thầy cô là bất công. Sống công bằng thôi chưa đủ vì chỉ là mức đạo đức tối thiểu theo luật: “mắt đền mắt, răng đền răng, ác giả ác báo”. Nếu cứ ăn miếng trả miếng như thế, thì đời sống sẽ chất đầy hận thù. Sống bác ái mới đạt giá trị đạo đức đích thực. Để đáng được vui luôn trong niềm vui đón mừng Đấng Cứu thế đến, Gioan khuyên mọi người phải thực thi bác ái: “Ai có hai áo thì chia cho người không áo, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”. Thánh Luca đã diễn tả đúng đời sống bác ái của cộng đoàn tín hữu thời các tông đồ.

2/ Bác ái là gì? Theo Thánh Phaolô: “Lòng bác ái không được giả hình, giả bộ, anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành” (Rm. 12, 9). Gớm ghét điều dữ là cố gắng thanh tẩy những tâm tình bất chính, hung dữ, độc ác. Đó là vấn đề tu thân. Tha thiết với điều lành là thực hiện những điều thiện hảo, chân chính, tốt lành ơn ích cho người. Đó là vấn đề dấn thân, có tu thân mới dấn thân được, đây là hai chặng đường trên cùng một đường đức ái.

Tu thân: Đức ái đòi buộc phải tu sửa, thanh tẩy mình khỏi mắc vào thói ghen tuông, tự đắc, khoe khoang, làm điều bất chính, bất nhân, nóng giận hận thù, tư lợi, không mừng khi thấy sự ác. Đức ái cũng đòi buộc phải tu luyện, học tập những đức tính nhẫn nhục, khiêm tốn, hiền hậu, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả, vui khi thấy điều chân thật (1Cp. 13, 4-7). Đạo Nho cũng chủ trương muốn thực hiện đức nhân thì tiên vàn phải tu thân. Thân gồm tâm, ý, trí nên tu thân là chính tâm, thánh ý, trí tri. Rồi mới có thể thực hiện nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đạo Phật cũng chủ trương muốn có tâm từ ái, từ bi, hỉ xả, cứu độ chúng sinh, tiên vàn phải diệt tham, sân, si, rồi tu tập bát chánh đạo.

Dấn thân: Sau khi đã tu thân luyên tập tâm trí nên trong sạch thì mới thấy được mặt Thiên Chúa, mới dấn thân, xả thân, hiến thân phụng sự Người. Mặt Thiên Chúa đây là tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa, những người Thiên Chúa yêu thương chúc phúc. Lúc đó ta mới có thể chia áo cho người không áo, sẻ cơm cho người đói ăn... và còn sẵn sàng hiến mạng sống cho người Chúa thương. Chỉ khi đó ta mới vui với người vui, khóc với người khóc,và mùa vọng mới là mùa reo vui, mới vui luôn trong niềm vui của Chúa, vì chính Chúa đang ngự giữa ta và bình an của Thiên Chúa mới giữ lòng trí ta được kết hợp với Đức Kitô Giêsu. Amen (Bài I, II).

 

3. Cho Chúa một cơ hội - Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân tòng và một người chưa có niềm tin như sau:

- Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao?

- Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Ðức Kitô.

- Vậy xin hỏi anh, ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

- Rất tiếc là tôi đã quên mất chi tiết này.

- Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

- Tôi cũng không nhớ rõ nên chẳng dám nói.

- Vậy ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài?

- Tôi không biết!

- Quả thật, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thật sự đi theo ông Kitô!

- Anh nói đúng một phần. Tôi rất hỗ thẹn vì mình đã biết quá ít về Ðức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này: Ba năm trước, tôi là người nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận và buồn tủi.

Thế mà, bây giờ tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ, gia đình tôi đã tìm lại hạnh phúc, các con tôi trông ngóng, chờ tôi về sau giờ tan sở.

Những điều này không ai khác hơn, chính là đức Kitô đã làm cho tôi. Và đó là tất. cả những gì tôi biết về Người.

***

Khi lãnh phép rửa sám hối của Gioan, dân chúng hỏi ông: "Chúng tôi phải làm gì?" (Lc 3,10). Qua câu hỏi ấy, chúng ta thấy sám hối mang chiều kích cộng đoàn, sẵn sàng đổi mới bằng hành động cụ thể.

Các Thánh thường nói: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Ðó là một thái độ sẵn sàng làm theo ý Chúa. Có được tâm tình ấy quả không dễ dàng. Nhưng nói được như Ðức Maria mới thực là cao quí: "Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Ngài nói" (Lc 1,38).

Người tân tòng trong câu chuyện trên đây, sau khi được đổi mới hoàn toàn, ông đã nói: "Những điều này không ai khác hơn, chính là Ðức Kitô đã làm cho tôi".

Như vậy:

Sám hối không chỉ là quay trở về với quá khứ, mà còn hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, mà còn mang tính liên đới trong cộng đoàn.

Sám hối không chỉ là một cảm xúc mông lung, nhưng chính là một quyết tâm hành động.

Sám hối không chỉ là hướng tới đời sống thánh thiện, mà là trở về với một đấng thánh: Chúa Giêsu Kitô.

Vì thế, sám hối chính là dành cho Chúa Kitô cơ hội để Người thanh tẩy tâm can, thay đổi con người, nhất là để Người biến những tâm tình và ước muốn của chúng ta nên giống những tâm tình và ước muốn của Người.

Thay vì sám hối bên ngoài, Chúa Kitô muốn chúng ta thật sự hướng lòng về Người.

Thay vì kiêu căng tự mãn, Chúa Kitô muốn chúng ta thực sự khiêm tốn để nên giống Người.

Thay vì nô lệ cho của cải, tiền bạc, Chúa Kitô muốn chúng ta hãy ra khỏi nỗi bận tâm về mình mà nhường cơm sẻ áo cho anh em.

Mùa Vọng là mùa của hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Cho dù con người có sa ngã, phản bội, Thiên Chúa vẫn theo đuổi chương trình cứu độ của Người. Cho dù thấp hèn tội lỗi, con người vẫn mang hình ảnh cao đẹp của Thiên Chúa, nên mỗi người đều được Thiên Chúa tin tưởng, yêu thương. Mùa Vọng mời gọi chúng ta sám hối, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác và hy vọng nơi Người.

***

Lạy Chúa Giêsu, sám hối là dọn đường cho Chúa đến, sám hối cũng là dọn lối để đến với tha nhân.

Xin dạy chúng con biết bày tỏ lòng sám hối bằng cách mềm mại để Chúa uốn nắn, và quyết tâm sống công bình bác ái với anh em. Amen.

 

4. Phải làm gì?

Vậy chúng tôi phải làm gì?

Trước câu hỏi này, Gioan Tiền Hô đã trả lời cho ba nhóm người. Trước hết cho những người thiện chí đang mong chờ ngày Chúa đến, Gioan dạy họ cũng như dạy cho chúng ta biết chia sẻ cơm áo với những người túng thiếu. Đó là điều tối thiểu. Nếu ngày nay tiếng nhà tiền hô còn vang vọng khắp núi đồi, ông sẽ kêu gọi cải thiện hoàn cảnh kinh tế, xã hội, lo cho có công ăn việc làm, nhà ở, tiền lương tương xứng, bảo vệ sức khoẻ.

Tiếp đến với những người thu thuế, đại diện cho lớp quan chức hay tham nhũng bóc lột người khác, Gioan kêu gọi sự liêm khiết.

Sau cùng với những người có phận sự giữ gìn trật tự công cộng, Gioan bảo họ phải công minh, biết tôn trọng kẻ khác. Mỗi người trong địa vị, chức vụ và công việc của mình, cố gắng chu toàn một cách tốt đẹp. Thế nhưng Gioan, vị tiền hô ấy là ai?

Ông không phải chỉ được sai đến giảng dạy một vài bài học luân lý thường thức. Trái lại, tiếng ông vang dội trên núi đồi, lôi kéo đông đảo mọi người, thuộc đủ mọi thành phần. Người ta coi ông là đấng cứu thế, nhưng ông xác định mình chỉ là một tiếng kêu, một người làm phép rửa dọn đường. Ông là nhà tiên tri đầu tiên nói đến một phép rửa trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ông cũng làm phép rửa theo tục lệ Do Thái để thúc đẩy mọi người sám hối ăn năn, thế nhưng đây mới chỉ là một nghi thức tiên báo bí tích Rửa tội của Đức Kitô, Đấng sẽ rửa trong nước và Thánh Thần.

Như thế, bí tích Rửa tội của Đức Kitô bao gồm hai mầu nhiệm, đó là phục sinh và hiện xuống, nhờ đó chúng ta được rửa sạch tội lỗi, liên kết với Đức Kitô phục sinh, nhưng đồng thời cũng được sức mạnh Chúa Thánh Thần nâng đỡ, để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh.

Với chúng ta ngày hôm nay, là Kitô hữu, chúng ta đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, thế nhưng điều quan trọng đó là chúng ta có thực sự sống ơn rửa tội hay không? Chúng ta có làm cho xã hội thấm nhuần tinh thần Phúc Âm hay không?

Trong Thông điệp Centesimus Annus, Năm thứ một trăm, được công bố vào năm 1991, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi phân tích về sự sụp đổ của cộng sản Đông âu và sự tái thiết một xã hội mới, ngài đã lên án điều mà gọi là “xã hội tiêu dùng” muốn giảm hạ con người vào lãnh vực kinh tế và làm thoả mãn các nhu cầu vật chất mà thôi, nghĩa là thay thế thần tượng đã sụp đổ bằng một thần tượng khác không mấy tốt đẹp hơn. Cho đến ngày hôm nay, chúng ta đã làm được những gì để đón mừng ngày Chúa đến.

 

5. Cuộc chạy đường trường - AM Trần Bình An

Cuốn nhật ký Pole to Pole - One Man, 20 Million Steps (Từ cực Bắc tới cực Nam - Một người, 20 triệu bước chân), của tác giả Pat Farmer chỉ vừa xuất bản vài tháng, đã in tới lần thứ 10, vì sự chân thật và sức hấp dẫn của nó.

Ông Pat Farmer đã từ bỏ con đường chính trị đang thênh thang, bán ngôi nhà cùng chiếc xe duy nhất để lấy vốn làm lộ phí. Bởi lúc đó, chẳng ai tin ông có thể chạy bộ từ Bắc cực đến Nam cực, với 21 ngàn cây số, trong vòng 10 tháng, 13 ngày, cùng vô số gian lao do thời tiết, con người và dã thú.

Ông đã chạy một cự ly bình quân không thể tin nổi: 65 km mỗi ngày, có một số ngày chạy tới 100 km hoặc hơn.

“Vì sao tôi chạy? Tôi chạy vì tôi cần cống hiến cho nhân loại.Tôi chạy từ cực này tới cực kia của tôi không phải vì mục đích trở thành một kẻ tử vì đạo hay một anh hùng. Cha mẹ tôi và người vợ quá cố của tôi là một tấm gương sáng cho tôi; họ luôn giúp đỡ người khác. Có lẽ tôi làm điều này xuất phát từ cảm giác tội lỗi, vì đang sống một cuộc sống nhiều đặc quyền đặc lợi, trong một đất nước nhiều đặc quyền đặc lợi, hay vì những tội lỗi mà tôi đã phạm” Pat Farmer viết.

Rất nhiều lần trong hành trình, Pat Farmer đã muốn ngã quỵ, muốn dừng lại, nhưng rồi ông đã tự chiến thắng bản thân để vượt qua mọi hoàn cảnh. Ông đã giúp các Hội Chữ Thập Đỏ Úc quyên góp là rất đáng kể. Sau cuộc chạy, đã có vô số cư dân nghèo, đặc biệt trẻ em được cứu sống hoặc giúp thoát khỏi bệnh dịch nhờ hệ thống nước sạch.

Từ ngày 9-12/2012 đến 20/1/2013, với cùng mục đích cao quý như trên, ông Pat Farmer và chàng thanh niên Việt Nam 25 tuổi, Mai Nguyễn Đình Huy, cùng đồng hành, thực hiện hành trình siêu ma-ra-tông từ Móng Cái đến mũi Cà Mau, hơn 3 200 Km trong 40 ngày liên tục, mỗi ngày chạy khoảng 80 km. (theo Hiền Hòa, Tiền Phong)

Như thế, ông Pat Farmer và Mai Nguyễn Đình Huy đang chạy để phục vụ tha nhân, dường như cũng đang hưởng ứng lời kêu gọi trong hoang địa.

Bài trích Tin Mừng hôm nay, ngôn sứ Gioan Tiền Hô ân cần hướng dẫn, chỉ vẽ những đường chạy vô cùng lý thú và hữu ích, khi thiên hạ đổ xô đến nhờ tư vấn, thắc mắc phải chạy đường trường như thế nào.

Chạy theo Bác Ái

Thay vì chạy ghế, chạy chức, chạy theo thói tham lam, vơ vét, vỗ béo bản thân, ích kỷ, bất nhân, hận thù, mù quáng, thì ngôn sứ Gioan Tiền Hô khuyên nhủ, lấy đức bác ái làm kim chỉ nam cho cưộc chạy: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có. Ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” (Lc 3, 11)

Sự chia sẻ, như xẻ cơm nhường áo, lá lành đùm lá rách, là biểu hiệu đầu tiên của tính nhân bản, khiến cho con người thoát ra khỏi kiếp sống theo bản năng, giúp cho loài người đứng trên các loài động vật, các loài thọ tạo khác.

Chạy theo Công Bằng

Thay vì chạy theo thói bất công, tham ô, nhũng lạm, xách nhiễu, lợi dụng làm giầu bất chính trên mồ hôi, xương máu và nước mắt của dân đen, thì ngôn sứ Gioan khuyên nhủ mọi người, các nhân viên công chức, những người có chức, có quyền, như thuế má, hải quan, hãy chạy theo đức công bằng, ngay thẳng: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” (Lc 3, 13)

Không chỉ nói riêng với công viên chức, Gioan Tiền Hô còn nhắm đến quần chúng rộng rãi, những kẻ kinh doanh, những giao dịch mua bán, sang nhượng, những quan hệ trao đổi, phải sòng phẳng, không dối gian, lừa gạt, không lời lãi quá mức bình thường, không ép giá thu lợi bất chính.

Chạy theo Chính Trực

Thay vì dùng võ lực có sẵn trong tay, để uy hiếp, bóc lột, chiếm đoạt, ức hiếp, tịch thu tài sản, sở hữu của người dân, thì ngôn sứ Gioan khuyên nhủ, chạy theo đức chính trực, tôn trọng người khác, không tơ hào, lợi dụng quyền thế để quấy nhiễu hành dân: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng chiếm đoạt của người, hãy bằng lòng với đồng lương của mình.” (Lc 3, 14)

Ngôn sứ Gioan Tiên Hô đồng thời cũng muốn nhắm đến những người có lợi thế, những người giàu có, quyền cao chức trọng, đừng lợi dụng thế mạnh tài chánh, hay quyền hành để chèn ép, bắt nạt, hoặc cướp trắng của cải người yếu thế, cô thế.

Chủ Nhân đường đua

Nhân tiện, ngôn sứ Gion Tiền Hô đính chính điều dân Do Thái đang ngộ nhận. Rằng ông chỉ là người tiền hô, đi trước dọn đường cho Chủ Nhân của cuộc đua đường trường. Người cao trọng vô cùng, mà chính ông cũng tự nhủ, không đáng cởi quai dép cho Người!

Trước Đấng Quyền Thế hơn đang đến, ngôn sứ Gioan tỏ ra kính cẩn và khiêm tốn, cùng tỏ thái độ vâng lời và phục vụ. Ngài cũng nhận mình chỉ là tôi tớ hèn mọn, như phận nữ tỳ hèn mọn của Mẹ Maria trong kinh Magnificat.

Chủ Nhân kiêm luôn trọng tài, sẽ phán quyết, thưởng phạt công minh, dựa theo cung cách chạy của những tay đua đến đích: “Tay Người cầm nia, rê sạch lúa trong sân: Thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không bao giờ tắt, mà đốt đi.” (Lc 3, 17)

Thánh Phaolô cũng đã nỗ lực và nhiệt thành chạy đường trường, chia sẻ với tín hữu thành Philípphê: “Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu.” (Pl 3, 13-14)

Dù mọi người bỏ dở hành trình, con cứ tiến, quần chúng dễ bị lôi cuốn thì đông đảo, lãnh đạo sáng suốt lại hiếm hoi. Con phải có bản lãnh, đừng theo quần chúng mù quáng. (Đường Hy Vọng, 50)

Lạy Chúa Giêsu, Chủ Nhân của cuộc đua đường trường, xin luôn nhắc nhủ con bỏ lại sau lưng mọi thứ nặng nề, làm cản trở bước đường, mà bền chí vững vàng chạy đến Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ đồng hành cùng con, để con noi gương Mẹ nhân ái, đôn hậu, biết quên mình, yêu thương, phục vụ mọi người. Amen.

 

6. Chuẩn bị.

Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta cùng nhau tìm hiểu về sứ điệp của Gioan bên bờ sông Giođan để rồi từ đó áp dụng vào Mùa Vọng, mùa chuẩn bị đón mừng Chúa đến.

Gioan xuất hiện rất khác biệt, không những khác biệt trong cách sống mà cả trong tư tưởng nữa. Đang khi tất cả những phe nhóm tôn giáo ở thời đại ông như nhóm Pharisêu, nhóm Saducêo, nhóm Etxenien, tất cả đều trông chờ một sự chiến thắng của Do Thái giáo trên mọi kẻ thù của họ thì Gioan đến như một dấu chứng đối kháng, một sự kết án và huỷ diệt cả Israel.

Gioan là một tiên tri loan báo sự đau khổ và tàn phá. Sứ điệp của Gioan rất đơn sơ: Thiên Chúa đã nổi cơn thịnh nộ với dân Ngài, Ngài đã hoạch định chương trình để phạt họ. Ngài sắp can thiệp vào lịch sử để lên án và thiêu huỷ họ. Gioan diễn tả cuộc tàn phá đó như một cuộc cháy rừng, đốt tất cả rơm rạ và cây cối, tiêu huỷ mọi dân tộc trong biển lửa. Gioan tiên tri rằng cuộc xử phạt nghiêm khắc của Thiên Chúa đối với Israel sẽ được một con người đến thực hiện.

Gioan nói về con người đó như Đấng phải đến. Ngài đã sẵn sàng, đang đứng, tay cầm rìu cầm sàng. Để có thể tránh cái án phạt mà Thiên Chúa sắp đổ xuống, Gioan kêu gọi sự sám hối. Nghi thức thanh tẩy là một dấu chỉ về sự sám hối ấy: họ đã xưng các tội của họ ra và nhận lấy nghi thức thanh tẩy của Gioan. Nếu tất cả cộng đoàn Do Thái hay có thể nói một số đông con cái Abraham thành tâm hối cải, có thể Thiên Chúa sẽ nguôi cơn giận và bỏ qua cuộc sử phạt này. Còn nếu Israel không hối cải, Thiên Chúa sẽ huỷ diệt và thiết lập một dân tộc mới. Chính vì thế mà Gioan đã kêu gọi hết mọi người, nào tội lỗi đĩ điếm, nào thu thuế lính tráng, nào luật sĩ và Pharisêu. Ở đây tất cả đều được mời gọi hãy hoán cải, hãy biến đổi cả cuộc đời.

Điều Gioan nhấn mạnh là một nếp sống luân lý mới đầy tính chất xã hội, lấy anh em làm gốc chứ không phải là lề luật, để sống vì con người: Kẻ nào có hai áo hãy chia cho người không có và kẻ có ăn cũng hãy làm như thế. Với người thu thuế ông nói: Chớ đòi điều gì quá mực đã định cho các ông. Với lính tráng, ông bảo: Đừng sách nhiễu, đừng vu khống, hãy bằng lòng với lương bổng của mình.

Từ xưa đến nay, khi nói đến việc chuẩn bị đón mừng Chúa, chúng ta nghĩ ngay tới việc đi xưng tội, lo dọn mình sạch mọi tội lỗi, trong khi đó Thánh Kinh lại nhắm vào việc cải đổi đời sống, một cuộc sống đầy tình người. Chỉ có cuộc sống chân chính không gian dối, không bóc lột, không lừa đảo, không gian tham; chỉ có cuộc sống liêm chính, công bình, yêu thương, chia sẻ và phục vụ mới dần dần tạo cho tâm hồn mình tinh sạch, mới giúp chúng ta chuẩn bị đón Chúa đến một cách đầy đủ và có ý nghĩa nhất.

 

7. Hãy vui mừng vì Chúa sắp đến

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Chúa nhật thứ III Mùa vọng này thường được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Lời kêu gọi "hãy vui lên" được lặp đi lặp lại trong các bài đọc. Chúng ta vui vì Chúa đã đến gần. Nhất là khi chúng ta họp nhau trong Thánh lễ thì Chúa rất gần. Ngài đang hiện diện giữa cộng đoàn chúng ta.

II. Gợi ý sám hối

Mặc dù Chúa đã bảo chúng ta đừng lo, nhưng vì thiếu lòng trông cậy và phó thác nên chúng ta cứ băn khoăn lo lắng về cuộc sống vật chất ở trần gian này.

Chúng ta chưa thực sự thấm nhuần tinh thần lạc quan của Tin Mừng nên chúng ta chưa tỏa chiếu niềm vui ra môi trường chung quanh.

Khi cầu nguyện, thường chúng ta hay trình bày với Chúa những băn khoăn lo lắng phàm tục, rất ít khi chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa vì tình thương bao la của Ngài dành cho chúng ta.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Xp 3,14-18)

Ngôn sứ Xôphônia rao giảng trong thế kỷ VII trước công nguyên, vào những năm trước khi vua Giosias thực hiện cuộc cải cách tôn giáo.

Khi đó nước Do thái đang ở trong một tình trạng tồi tệ: bên trong thì đạo đức suy dồi, bên ngoài thì họa xâm lăng đang rình sẵn. Mặc dù vậy, Xôphônia vẫn kêu gọi dân chúng hãy vui lên, lý do là "Án lệnh phạt ngươi Thiên Chúa đã rút lại, và thù địch của ngươi Ngài đã đẩy lùi xa".

2. Ðáp ca (Tv Is 12)

Thánh vịnh này triển khai tâm tình lạc quan của bài đọc I: Lý do khiến dân Sion lạc quan là vì Thiên Chúa chính là sức mạnh và là Ðấng cứu độ họ.

3. Tin Mừng (Lc 3,10-18)

Khi "dọn đường" tâm hồn cho các thính giả nghe Gioan giảng, ông đã nói "Hãy sám hối". Người ta hỏi lại "Vậy chúng tôi phải làm gì?". Và Gioan đã chỉ cho họ những việc cụ thể phù hợp với tình trạng cuộc sống của họ:

Người có thì hãy chia sớt cho kẻ không có.

Người đang sống bằng những thu nhập bất công thì hãy cố gắng sống công bình.

Kẻ đang áp bức người khác thì chấm dứt những việc làm hà hiếp của mình.

Gioan còn khiêm tốn phủ nhận những dư luận coi ông là chính Ðấng Messia, và giới thiệu Ðấng Messia thật cho họ biết.

4. Bài đọc II (Pl 4,4-7)

Thánh Phaolô kêu gọi tín hữu Philipphê hãy vui và vui luôn mãi trong niềm vui của Chúa. Niềm vui này không chỉ là một tình cảm, nhưng phát sinh những hoa trái cụ thể trong cuộc sống: (1) sống hiền hòa rộng rãi với mọi người; (2) Không phải lo lắng gì cả, vì có gì thì cứ trình bày với Chúa; (3) Lòng trí luôn được bình an.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Bí quyết hạnh phúc

Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta hãy vui luôn. Nhưng làm thế nào để có thể vui luôn? Câu chuyện sau đây có thể cho ta câu trả lời.

Một người chăn cừu sai đứa con trai của mình đến hỏi một nhà hiền triết về bí quyết của hạnh phúc. Nhà hiền triết đưa cho chàng trai một chiếc muỗng đựng đầy dầu và bảo: "Hãy cầm chiếc muỗng đi vòng quanh tòa lâu đài này và cố làm sao đừng cho một giọt dầu nào bị đổ".

Chàng trai nghe lời, đi vòng quanh tòa lâu đài, đôi mắt chẳng dám nhìn bất cứ thứ gì khác mà chỉ dán chặt vào chiếc muỗng. Khi chàng trở lại, nhà hiền triết hỏi "Có thấy gì không?". Chàng trai đáp "Dạ chẳng thấy gì cả". Nhà hiền triết lại bảo "Bây giờ hãy đi một vòng nữa và hãy mở mắt quan sát tòa lâu đài". Chàng trai lại cầm chiếc muỗng đi một vòng. Lần này chàng chăm chú ngắm nhìn từng chi tiết của tòa lâu đài: những gian phòng rất đẹp, những món trang trí rất mỹ thuật, khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, những vòi nước rất ngoạn mục... Khi trở lại, chàng kể hết cho nhà hiền triết nghe. Ông hỏi: "Thế những giọt dầu ta giao cho ngươi thì sao?" Chàng nhìn xuống chiếc muỗng. Ôi thôi, dầu đã đổ hết chẳng còn giọt nào.

Bấy giờ nhà hiền triết nói: "Ta chỉ có một lời khuyên nhỏ cho ngươi: bí quyết của hạnh phúc là khả năng vừa ngắm được mọi vẻ đẹp của tòa lâu đài, vừa không làm đổ mất một giọt dầu nào trong muỗng". Chàng trai trẻ chợt hiểu: người chăn cừu có thể du ngoạn để ngắm nhìn những vẻ đẹp khắp nơi, nhưng không bao giờ được quên đàn cừu của mình. Bí quyết hạnh phúc là vừa chu toàn nhiệm vụ được giao cho mình, vừa vui hưởng cuộc sống.

Thật dễ có hạnh phúc khi ta làm điều ta muốn làm. Nhưng để tìm được hạnh phúc không phải trong điều ta muốn làm mà trong điều ta phải làm thì phải có ơn Chúa.

Hạnh phúc thật không do thỏa mãn được những ước muốn ích kỷ của mình. Hạnh phúc thật không thể có khi những điều ta làm lại khác với những điều ta tin. Hạnh phúc thật không thể có khi không có tình yêu. Bởi vậy nỗi buồn sẽ ập xuống trên ta mỗi khi ta trả lời "không" với tình yêu.

Chúng ta cũng không nên đồng hóa vui và sướng. Sướng thuộc về thể xác, còn vui thuộc về tinh thần. Sướng chẳng bao lâu rồi cũng sẽ chán, còn vui thì không bao giờ chán.

Ðiểm cuối cùng: chỉ có Chúa mới đong đầy mọi mơ ước của chúng ta, do đó nguồn phát sinh hạnh phúc chính là sự hiện diện của Chúa. Có Chúa trong đời ta thì đời ta sẽ vui. Ngôn sứ Isaia kêu gọi "Hãy vui lên". Nhưng tại sao vui? Thưa vì "Có Chúa ở giữa chúng ta". và Thánh Phaolô viết cho tín hữu Philipphê "Tôi muốn anh em hãy vui luôn". Tại sao? Thưa "Vì Chúa đã đến gần". Niềm vui mà thế gian này không thể ban cho chúng ta là niềm vui xuất phát từ ý thức về Chúa và về tình yêu của Ngài đối với chúng ta. (FM)

* 2. Sự vĩ đại của Gioan Tẩy Giả

Ngày xưa có một người thắp đèn thường được người ta gọi là Ông T. Ông làm nhiệm vụ thắp đèn hết sức chu đáo và đúng giờ. Mỗi tối khi màn đêm vừa buông xuống thì lập tức ngọn đèn của ông cũng sáng lên. Không ai biết ông làm thế nào để canh đúng giờ mà thắp đèn, bởi vì ông không có đồng hồ. Cuộc sống của ông cũng chẳng khá giả gì, nhưng ông yêu nghề của mình. Mọi người đều thương mến ông, nhất là trẻ con: khi trời tối khiến chúng không chơi đùa được nữa, thì ông đến, mang lại ánh sáng và chúng có thể tiếp tục chơi.

Công việc của Ông T. thật có ý nghĩa. Nhưng điều khiến ông vĩ đại là ông bị mù! Ông mang ánh sáng cho mọi người trong khi bản thân ông thì không nhìn thấy ánh sáng!

Cuối cùng thì điện đã đến với thị trấn này. Dân chúng trước đây quý mến ông thì bây giờ không còn nhớ gì đến ông nữa. Ánh điện sáng hơn ánh đèn nên chẳng ai màng tiếc nuối quá khứ làm chi nữa.

Ông T. nhắc chúng ta nhớ tới thánh Gioan Tẩy giả. Cũng như Ông T. thánh Gioan đã cần mẫn mang ánh sáng đến cho mọi người. Trong một thời gian, Ngài là sự ngưỡng mộ và quý mến của mọi người. Nhưng Ngài luôn ý thức mình chỉ là kẻ dọn đường, một ánh sáng lớn hơn sẽ đến, và Ngài sẽ không được đi trong ánh sáng tuyệt vời ấy. Và khi ánh sáng tuyệt với ấy là Chúa Giêsu đến, Ngài lùi lại phía sau để nhường bước cho Chúa Giêsu. Thật là vĩ đại.

Không ai thành đạt chỉ nhờ vào bản thân mình, mà luôn có ai đó ở phía sau giúp đỡ mình, hướng dẫn mình, khuyến khích mình, nói tóm lại là chuẩn bị cho mình. Rồi khi mình thành đạt thì người ấy lặng lẽ biến đi vào quên lãng.

Ðể làm một kẻ dọn đường cho người khác thì cần phải có tinh thần khiêm tốn và quảng đại cao cả lớn lao. Thật vậy, vì đó là một hình thức chết đi chính mình. Rút lui khỏi một chức vụ lớn để rồi chết dần mòn trong một cuộc sống âm thầm là điều mà chỉ những người vĩ đại mới làm được. Có nhiều người làm hỏng mọi việc chỉ vì bám giữ quá lâu địa vị và quyền lực của mình.

Những bậc làm cha mẹ đã không ngại bỏ ra quãng thời gian tốt đẹp nhất của đời mình để chuẩn bị tương lai cho con cái. Khi con cái đã lớn, cha mẹ phải rút lui để chúng có thể sống cuộc đời của chúng. Ðó là sự vĩ đại của những người làm cha làm mẹ.

Nhiều người cứ muốn bám vào ánh đèn sân khấu rực rỡ chói chang, cứ muốn cho mình mãi sáng và đẩy người khác lùi vào bóng tối. Chúng ta không được làm thế. Chúng ta phải vận dụng hết mọi khả năng của mình để chiếu sáng tối đa, nhưng đồng thời cũng phải quan tâm đừng cản đường tiến của người khác. Vả lại, chúng ta còn phải nhớ rằng mình còn mang nợ của những kẻ đã dọn đường cho mình. (FM)

* 3. Ðạo thực hành

Kitô giáo là một đạo thực hành và có tính xã hội, nghĩa là không chỉ là tương quan giữa Chúa với tôi, mà là Chúa - tôi - và những người khác.

Có một câu chuyện về một người thợ giày tên là Martin. Ông sống và làm việc ở tầng hầm. Tầng hầm này chỉ có mỗi một cửa sổ, cho nên ông chỉ nhìn thấy những bàn chân của những người qua lại. Chỉ cần thấy đôi giầy của người đi qua là ông biết người ấy là ai.

Ðời ông rất vất vả. Vợ ông đã chết, để lại một đứa con trai. Tuy nhiên khi thằng con vừa đủ lớn để có thể giúp ông thì nó cũng lâm bệnh và chết. Ông Martin rơi vào tuyệt vọng. Chôn cất thằng con xong, ông bỏ đạo và rơi vào thói rượu chè.

Một ngày kia, một người bạn già đến thăm ông. Ông trút hết bầu tâm sự. Người bạn khuyên ông nên đọc Tin Mừng, mỗi ngày một đoạn. Và bảo đảm rằng nhờ đó ông sẽ tìm lại được ánh sáng và niềm vui cho cuộc sống.

Ông Martin làm theo lời bạn. Mỗi ngày làm việc xong tới chiều là ông cầm sách Tin Mừng đọc một đoạn. Ban đầu ông chỉ đọc những đoạn Tin Mừng Chúa nhật. Nhưng sau đó thấy hấp dẫn nên ông đọc luôn những ngày trong tuần. Dần dà đời ông thay đổi, niềm vui đã trở lại với đời ông.

Một đêm, khi ông đang đọc Tin Mừng thì ông nghe có tiếng nói với mình "Martin, ngày mai hãy nhìn qua cửa sổ, tôi sẽ đến thăm ông". Vì khi đó chẳng có ai cả nên ông Martin tin rằng đó là tiếng Chúa nói với ông. Bởi đó sáng hôm sau, lòng ông rất phấn khởi. Ông vừa làm vừa nhìn qua cửa sổ. Ông chăm chú để ý mọi đôi giày đi qua đi lại để chờ xem Chúa có đến thăm ông không. Nhưng chẳng có một đôi giày nào lạ cả.

Ðến xế chiều thì ông thấy một đôi giày rất quen, đó là giày của một người lính già tên là Stephen. Mở cửa ra, Ông Martin thấy Stephen đang đứng chắn ngay cửa, hai tay khoanh chặt trước ngực vì trời đang rất lạnh. Ông Martin rất muốn hắn ta đi chỗ khác cho rồi kẻo cứ chắn cửa sổ khiến ông không thấy được Chúa nếu Ngài đi ngang qua. Tuy nhiên Stephen cứ đứng đấy mà run. Cuối cùng Ông Martin nghĩ rằng chắc là hắn đói nên mời hắn vào ngồi cạnh lò sưởi, đưa cho hắn một ly trà và một mẫu bánh mì. Một lát sau Stephan cáo từ. Ông Martin còn đưa thêm cho hắn một chiếc áo khoác để đỡ lạnh. Suốt khoảng thời gian tiếp Stephen, Ông Martin không quên để ý nhìn về cửa sổ. Mỗi lần có một bóng người đi qua là ông chăm chú nhìn. Nhưng chẳng có gì đặc biệt.

Ðêm xuống. Ông Martin thu dọn đồ nghề và miễn cưỡng đóng cánh cửa sổ. Ăn buổi tối xong, ông cầm quyển Tin Mừng và tình cở mở ngay đoạn này: "Bấy giờ dân chúng đến hỏi Gioan 'Chúng tôi phải làm gì?' Gioan đáp 'Ai có hai áo hãy chia cho người không có. Ai có gì ăn cũng hãy làm như vậy". Ông Martin bỏ sách xuống và suy nghĩ, rồi ông chợt hiểu rằng quả thực hôm nay Chúa đã đến thăm ông qua anh chàng Stephen ấy. May mà ông đã đón tiếp tử tế. Thế là Ông Martin cảm thấy lòng tràn ngập vui mừng, một niềm vui mà từ trước tới nay ông chưa từng cảm nghiệm.

Ông Martin đã đón rước Chúa vào đời mình bằng việc đọc Tin Mừng. Và bước thứ hai đến một cách tự nhiên: ông đã đón rước Chúa qua việc đón rước người anh em đói khổ.

Chúng ta đang dọn đường cho Chúa đến, và chúng ta tin chắc rằng Ngài sẽ mang quà đến cho chúng ta. Nhung hãy nhớ rằng Chúa không chỉ đến trong lễ Giáng sinh. Ngài luôn đến, mọi lúc, mọi nơi, dưới mọi hình dáng, nhất là dưới hình dáng những người đang cần giúp đỡ. (FM)

* 4. Cho Chúa Một Cơ Hội (Lc 3,10-18)

Cuộc đối thoại độc đáo giữa một người tân tòng và một người chưa có niềm tin như sau:

- Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao?

- Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Ðức Ki tô.

- Vậy xin hỏi anh, ông ta sinh ra trong quốc gia nào?

- Rất tiếc là tôi đã quên mất chi tiết này.

- Thế khi chết, ông ta được bao nhiêu tuổi?

- Tôi cũng không nhớ rõ nên chẳng dám nói.

- Vậy ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài?

- Tôi không biết!

- Quả thật, anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã thật sự đi theo ông Kitô!

- Anh nói đúng một phần. Tôi rất hỗ thẹn vì mình đã biết quá ít về Ðức Kitô. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này: Ba năm trước, tôi là người nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ. Gia đình tôi xuống dốc một cách kinh khủng. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận và buồn tủi.

Thế mà, bây giờ tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ, gia đình tôi đã tìm lại hạnh phúc, các con tôi trông ngóng, chờ tôi về sau giờ tan sở.

Những điều này không ai khác hơn, chính là đức Ki tô đã làm cho tôi. Và đó là tất. cả những gì tôi biết về Người.

***

Khi lãnh phép rửa sám hối của Gioan, dân chúng hỏi ông: "Chúng tôi phải làm gì?" (Lc3,10). Qua câu hỏi ấy, chúng ta thấy sám hối mang chiều kích cộng đoàn, sẵn sàng đổi mới bằng hành động cụ thể.

Các Thánh thường nói: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Ðó là một thái độ sẵn sàng làm theo ý Chúa. Có được tâm tình ấy quả không dễ dàng. Nhưng nói được như Ðức Maria mới thực là cao quí: "Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Ngài nói" (Lc 1,38).

Người tân tòng trong câu chuyện trên đây, sau khi được đổi mới hoàn toàn, ông đã nói: "Những điều này không ai khác hơn, chính là Ðức Kitô đã làm cho tôi".

Như vậy:

Sám hối không chỉ là quay trở về với quá khứ, mà còn hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, mà còn mang tính liên đới trong cộng đoàn.

Sám hối không chỉ là một cảm xúc mông lung, nhưng chính là một quyết tâm hành động.

Sám hối không chỉ là hướng tới đời sống thánh thiện, mà là trở về với một đấng thánh: Chúa Giêsu Ki tô.

Vì thế, sám hối chính là dành cho Chúa Ki tô cơ hội để Người thanh tẩy tâm can, thay đổi con người, nhất là để Người biến những tâm tình và ước muốn của chúng ta nên giống những tâm tình và ước muốn của Người.

Thay vì sám hối bên ngoài, Chúa Ki tô muốn chúng ta thật sự hướng lòng về Người.

Thay vì kiêu căng tự mãn, Chúa Ki tô muốn chúng ta thực sự khiêm tốn để nên giống Người.

Thay vì nô lệ cho của cải, tiền bạc, Chúa Kitô muốn chúng ta hãy ra khỏi nỗi bận tâm về mình mà nhường cơm sẻ áo cho anh em.

Mùa Vọng là mùa của hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Cho dù con người có sa ngã, phản bội, Thiên Chúa vẫn theo đuổi chương trình cứu độ của Người. Cho dù thấp hèn tội lỗi, con người vẫn mang hình ảnh cao đẹp của Thiên Chúa, nên mỗi người đều được Thiên Chúa tin tưởng, yêu thương. Mùa Vọng mời gọi chúng ta sám hối, đồng thời cũng kêu gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác và hy vọng nơi Người.

***

Lạy Chúa Giêsu, sám hối là dọn đường cho Chúa đến, sám hối cũng là dọn lối để đến với tha nhân.

Xin dạy chúng con biết bày tỏ lòng sám hối bằng cách mềm mại để Chúa uốn nắn, và quyết tâm sống công bình bác ái với anh em. Amen (Thiên Phúc, Như thầy đã yêu, năm C)

* 5. "Chúa đã đến gần"

"Chúa đã đến gần". Câu này nghĩa là gì?

Phải chăng là đã gần đến lễ Giáng sinh? Hôm nay vào tuần thứ ba Mùa Vọng rồi. Chỉ còn hơn một tuần nữa thôi. Hiểu như vậy là hời hợt quá.

Phải chăng là Chúa đã ở ngay cửa lòng chúng ta. Chỉ cần chúng ta mở cửa thì Ngài bước vào? Ðúng vậy. Việc quan trọng nhất phải làm không phải là dọn dẹp bên ngoài mà là mở rộng cửa lòng để đón Chúa.

Và còn một nghĩa rất đặc biệt nữa: "Chúa đã đến gần" nghĩa là Chúa ở ngay trong những người gần cạnh chúng ta, ở ngay trong công việc chúng ta đang làm, ở ngay trong hoàn cảnh chúng ta đang sống. Ăn thua là chúng ta có nhận ra Chúa đang ở rất gần chúng ta hay không?

* 6. Chuyện minh họa

a/ Ông nhà giàu và người thợ giày

Có một người thợ giày suốt ngày vui vẻ ca hát. Lúc nào trẻ con trong xóm cũng xúm quanh nghe ông hát.

Ðối diện nhà anh là một ông nhà giàu suốt đêm lo đếm tiền, đến sáng mới đi ngủ nhưng cũng không ngủ được vì tiếng hát của anh thợ giày. Một hôm ông nghĩ ra một cách buộc người thợ giày im tiếng hát.

Ông mời người thợ giày sang nhà ông và tặng anh một túi đầy những đồng tiền vàng. Anh thợ giày trở về nhà ngồi đếm tiền cả ngày. Ðám trẻ con nhìn anh, anh sợ chúng biết anh có nhiều tiền nên đuổi chúng đi và đóng cửa lại. Ban đêm anh cứ nhớ tới túi tiền nên không ngủ được, anh ngồi dậy đem túi tiền giấu ở một nơi kín đáo. Sau đó anh nghĩ rằng nơi đó cũng chưa đủ an toàn nên lại ngồi dậy đem giấu nơi khác. Ban ngày lòng anh cũng canh cánh lo sợ. Thế là anh không còn hát ca gì nữa, cũng không đóng được đôi giày nào nữa. Tệ hại nhất là trẻ con không còn tới chơi với anh. Một thời gian sau anh chịu không nỗi nửa, đem túi vàng trả lại ông nhà giàu. Thế là từ đó trở đi anh lại vui vẻ, hát ca và trẻ con trở lại chơi với anh. (Willi Hoffsemmer).

b/ Tiếng cười - tặng phẩm

Sau mấy ngày hội thảo đầy căng thẳng, hai nhà truyền giáo Theodore Cuyler và Charles Spurgeon đi ra ngoài xả hơi. Họ chạy nhảy giữa cánh đồng như thể các học sinh được nghỉ học, vui chơi thỏa chí. Cuyler kể một câu chuyện vui làm Spurgeon bật cười sảng khoái. Rồi thình lình ngài nói:

- Này bạn Theodore, chúng ta hãy quì gối cám ơn Chúa đã ban cho chúng ta tiếng cười vui vẻ vừa rồi.

Và rồi cả hai nhà truyền giáo vĩ đại đó thản nhiên quì trên bãi cỏ xanh tươi cám ơn Chúa trước quà tặng là tiếng cười đó.

Ðâu có gì mâu thuẫn giữa cầu nguyện và cười vui? Vì một đàng là biểu hiện của sức khỏe tâm linh, một đàng là của sức khỏe thể xác.

7. Bài giải thích của Origène (+ 253)

Phép rửa của Chúa Giêsu là rửa "bằng Thánh Thần và lửa" (Lc 3,17). Nếu bạn thánh thiện, bạn sẽ được rửa bằng Thánh Thần; nếu bạn tội lỗi, bạn sẽ bị rửa bằng lửa. Cùng một phép rửa sẽ thành án phạt và lửa cho những người tội lỗi bất xứng; nhưng các thánh, tức những người trở lại cùng Chúa với một niềm tin tưởng trọn vẹn, thì họ sẽ nhận được ơn sủng của Chúa Thánh Thần và ơn cứu độ.

Vậy, Ðấng được nói là "rửa bằng Thánh Thần và lửa" ấy, "tay Ngài cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẫy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi" (Lc 3,17-18). Tôi muốn tìm hiểu xem vì sao Chúa cầm nia trong tay, và bởi luồng gió nào mà thóc lép bị thổi bay đi trong khi lúa mẫy, nặng hơn, thì gom lại một chỗ. Vì, nếu gió không thổi thì người ta không thể tách thóc mẫy ra khỏi thóc lép được.

Tôi tin rằng phải hiểu gió là những cơn cám dỗ khiến cho trong đám đông các tín hữu lẫn lộn lộ ra những người thuộc hạng thóc mẫy và những người thuộc hạng thóc lép. Vì chưng, khi tâm hồn bạn bị cám dỗ khống chế thì không phải cơn cám dỗ ấy biến bạn thành thóc lép, mà vì chính bạn thuộc về hạng thóc lép, tức là hạng người nhẹ dạ và không có đức tin. Cám dỗ chỉ vạch trần bản chất ẩn dấu của bạn mà thôi. Ngược lại, khi bạn can đảm chống lại cám dỗ thì cũng không phải cám dỗ làm cho bạn trở nên trung thành và kiên trì. Cám dỗ chỉ giúp làm hiện rõ những nhân đức kiên trì và can đảm có sẵn trong bản chất bạn trước đây còn ẩn kín mà thôi. Chúa đã nói: "Ngươi tưởng rằng Ta còn có mục đích nào khác hơn là làm tỏ lộ sự công chính của ngươi chăng?" (G 40,3 theo bản LXX). Chỗ khác Ngài còn nói: "Ta đã hạ ngươi xuống và cho ngươi chịu đói hầu bày tỏ ra điều gì đang có trong lòng ngươi" (Ðnl 8,3-5)

Cũng một cách ấy, bão táp không làm vững chắc cho "ngôi nhà xây trên cát" (Mt 7,24-25). Nhưng nếu bạn muốn xây nhà thì hãy "xây trên đá". Khi ấy dù bão tố có nổi lên cũng không đánh đổ được ngôi nhà được xây trên đá, mà chỉ làm sập ngôi nhà xây trên cát thôi. Cũng vậy, trước khi nổi lên bão tố, gió thổi, sóng ùa, khi mọi sự còn yên tĩnh, chúng ta phải chú ý đến cái nền nhà, chúng ta phải xây ngôi nhà chúng ta bằng những viên đá vững chắc là các giới răn của Chúa; khi cơn bắt bớ bùng nổ làm cho các kitô hữu phải hoang mang lo lắng thì chúng ta chứng tỏ rằng ngôi nhà chúng ta đã được xây trên đá tảng là Chúa Giêsu Kitô.

Nhưng nếu ai đó chối bỏ Ngài - nguyện cho chúng ta thoát khỏi điều khốn nạn này - thì người ấy phải biết rằng không phải lúc việc nó chối Chúa được tỏ lộ rõ ràng thì nó mới chối Ngài đâu; nó đã mang sẵn trong mình nó những gốc rễ xa xưa của việc chối Chúa rồi; chỉ sau này khi người ta khám phá điều nó mang sẵn trong lòng thì điều ấy mới được công khai ra.

Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta là ngôi nhà vững chắc không cơn bão nào đánh đổ được vì đã được xây trên nền đá, trên Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Kính dâng Ngài vinh quang và quyền lực đến muôn thuở muôn đời, Amen.

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, thánh Phaolô mời gọi chúng ta: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa, và giãi bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Trong niềm hân hoan trông chờ Con Chúa ngự đến, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh luôn khuyên nhủ con cái mình / cố gắng sống bác ái yêu thương với tất cả mọi người / tôn trọng công bằng trong đời sống xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết quan tâm đến lời khuyên tha thiết của Hội thánh / và cố gắng thực hiện trong đời sống đức tin thường ngày.

2. Trên thế giới ngày nay / vẫn còn biết bao người đang đói khổ vì thiên tai / vì thiếu lương thực thực phẩm trầm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang lâm cảnh gian truân khốn khó / được cứu trợ đầy đủ và kịp thời.

3. Trong cuộc sống thường ngày / có một số người chỉ lo cho bản thân mình / mà ít khi quan tâm đến người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Kitô hữu hiểu rằng / họ cần phải sống theo lời thánh Phaolô dạy: / là vui với người vui và khóc cùng người khóc.

4. Chia sẻ cơm áo cho những ai đói rách bần cùng / cũng như tôn trọng tài sản và danh dự của mọi người / là bổn phận của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng chu toàn các bổn phận quan trọng này.

Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con đang hết lòng trông đợi Chúa Giêsu Kitô, Con Một Chúa giáng trần để cứu độ chúng con. Xin Chúa ban ơn thanh tẩy tâm hồn chúng con sạch mọi vết nhơ tội lỗi, để xứng đáng đón mừng mầu nhiệm Giáng sinh cao cả. Chúng con cầu xin.

VI. Trong Thánh Lễ

- Chúc bình an: Có lẽ từ trước tới nay chúng ta chúc bình an cho nhau chỉ bằng một cử chỉ cúi chào, hờ hững, theo thói quen. Hôm nay, ý thức lời Chúa kêu gọi "Hãy vui lên", chúng ta hãy chúc bình an cho nhau với một tâm hồn vui vẻ và một ước muốn làm một điều gì đó cho mọi người được vui.

VII. Giải tán

Lời tung hô trước Tin Mừng trong Thánh lễ hôm nay là "Allêluia. Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn". Anh chị em ra về và hãy luôn nhớ thực hành lời đó.

 

8. Kẻ tội lỗi.

Vào một ngày Chúa nhật tháng chín năm 1972, tại góc phố đông người qua lại, người ta thấy xuất hiện một nhà giảng thuyết. Ông đưa cánh tay phải lên và chỉ vào một người nào đó và nói: Anh là kẻ có tội. Hành động này đã gây nên một hậu quả kỳ lạ. Mọi người lấm lét nhìn ông rồi cúi mặt xuống trong thinh lặng.

Từ mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay. Chắc hẳn lời giảng của Gioan Tiền hô bên bờ sông Giócđan cũng đã tạo ra một hậu quả như thế. Trong đám đông, có những người đã cười nhạo ông. Có những người đã tức giận ông, nhưng cũng có những người đã nhận biết sự sai trái của mình.

Chẳng hạn những người thu thuế nhận ra có lúc mình đã đòi hỏi quá mức ấn định. Những người lính có lúc đã đối xử tàn bạo với dân chúng. Còn tất cả thì có lúc đã khước từ sự giúp đỡ cần thiết cho những người chung quanh. Ông đã đụng vào vùng thâm sâu và dễ thương tổn nhất của họ, ông đòi buộc họ phải nhìn lại tâm hồn mình, khám phá ra những khuyết điểm, để rồi dứt khoát từ bỏ tội lỗi mà quay trở về cùng Chúa.

Còn chúng ta thì sao? Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã ý thức được những hậu quả mà tội lỗi gây ra cho bản thân, cho gia đình cũng như cho xã hội, thế nhưng chúng ta lại không có đủ can đảm dứt bỏ tội lỗi, trái lại nhiều lúc chúng ta còn chạy theo những mời mọc, những quyến dũ, những lôi kéo của tội lỗi, để rồi như lời thánh Phaolô đã diễn tả: Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi ghét thì tôi lại làm.

Chúng ta giống như một người muốn nhảy xuống sông để tắm cho được sạch, nhưng lại ngại trời rét. Vì thế, cứ ngồi trên cầu ao, thò một chân xuống rồi lại co lên. Cứ thế, cứ thế, nửa muốn tắm nửa lại sợ rét.

Hay như một con bò, nửa muốn uống nước, nửa muốn ăn cỏ, thành thử hết nhìn qua bên này lại nhìn qua bên kia, mà bụng thì vẫn đói và khát.

Vậy cho đến lúc này, chúng ta đã có thái độ dứt khoát hay chưa? Chúng ta hãy nhớ lại lời thánh Gioan Tông đồ: Nếu chúng ta nói rằng mình vô tội, thì chúng ta chỉ là kẻ nói dối.

Mặc dù tâm hồn chúng ta rất xinh đẹp vì được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đồng thời nó lại rất yếu đuối và có thể vấp ngã bất cứ lúc nào. Chúng ta giống như một chiếc bình sành dễ vỡ. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành qua Bí tích Giải tội.

Mùa vọng chính là thời gian giúp chúng ta nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi, rồi sám hối ăn năn để được ơn tha thứ, cũng như được hưởng sự bình an mà Chúa sẽ đem đến trong đêm Giáng sinh.

 

9. Nhà giảng thuyết đường phố - Lm. Mark Link, SJ.

Cách đây ít năm, bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đã làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông nhan đề: "Whatever Became of Sin?" (Bất cứ gì cũng là tội?). Ông bắt đầu quyển sách bằng một câu chuyện trào lộng khiến chúng ta phải suy nghĩ. Vào một ngày chúa nhật tháng chín năm 1972, trên góc phố đông người qua lại thuộc khu trung tâm Chicago, xuất hiện một nhà chuyên giảng thuyết ở đường phố. Đang lúc các nhân viên văn phòng vội vã lo đi ăn trưa, nhà giảng thuyết này thình lình giương cánh tay phải lên, dùng ngón tay xương xẩu chỉ vào một nhân viên nào đó rồi la lên: "Anh là kẻ có tội!" đoạn ông đứng im, nghỉ vài giây rồi lại bắt đầu chỉ vào một nhân viên khác và la lên: "Anh là kẻ có tội!"

Bác sĩ Menniger nói: "Tác động mà nhà giảng thuyết gây ra nơi những người bộ hành đi ngang qua đó thật là kỳ lạ". Họ lấm lét nhìn ông, rồi lại quay mặt đi chỗ khác, rồi lại lén nhìn nữa, và cuối cùng vội vàng đi tiếp.

Chắc chắn Gioan Tẩy giả cũng gây được tác động tương tự trên đám dân khi ngài xuất hiện ở bờ sông Giođan. Hẳn nhiên trong đám dân, một số chế nhạo ngài, số khác tức giận ngài, còn số khác nữa nhận biết từ thâm sâu cõi lòng mình sự sai quấy của họ. Chẳng hạn chúng ta đọc thấy trong bài Phúc Âm hôm nay: Các người thu thuế nhận ra mình đã có lỗi trong việc thu thuế quá mức, đám lính tráng nhận thấy mình thường hay bắt nạt dân chúng, còn tất cả dân chúng đều nhận ra tội không biết chia sẻ phần của cải dư thừa cho người túng thiếu. Trong quyển sách nói trên, bác sĩ Menninger cho thấy rằng nhiều người thời nay cũng đã phạm những điều sai quấy. Nhưng điều đó không làm cho bác sĩ Menninger phải ưu tư hay lưu tâm. Điều khiến cho ông phải ưu tư hay lưu ý là có rất nhiều người thời nay không chấp nhận rằng mình đã làm những điều sái quấy. Chính vì thế mà nhà giảng thuyết trên chỉ nói "Anh (hay chị) là kẻ có tội" đã tạo ra một tác động thật kỳ lạ nơi những nhân viên làm việc ở Chicago.

Thánh Gioan Tẩy Giả cũng như nhà giảng thuyết nọ đã chạm vào vơi vùng thâm sâu dễ thương tổn nhất của dân chúng. Ngài đòi buộc dân chúng xét lại tâm hồn mình và nhận biết lỗi lầm của mình. Ngài còn đòi họ phải từ bỏ tội lỗi để quay về cùng Thiên Chúa.

Trong cuốn sách tựa đề Something More (Một cái gì hơn thế nữa) của bà Catherine Marshall, người ta tìm thấy một minh hoạ sống động về những khuyến dụ của Gioan Tẩy giả. Một hôm, cô Linda, con gái bà chuẩn bị đi tắm. Ngay khi vừa đặt một chân xuống bồn ngay dưới vòi tắm, còn chân kia vẫn còn trên chiếc thảm ngoài bồn tắm, cô bỗng liên tưởng đến hình ảnh cuộc đời mình. Cô thường muốn hiến dâng đời mình cho Chúa, nhưng chẳng bao giờ hoàn tất được ước nguyện đó, vì cô luôn sống tình trạng chân trong chân ngoài như thế này. Giờ đây có lẽ đã đến lúc cô phải quyết định dứt khoát hoặc theo Chúa hoặc không theo Ngài, cô nghĩ đến cái giá phải trả khi chọn con đường theo Chúa. Giá ấy chẳng phải rẻ, nhưng cô đã quá mệt mỏi vì tình trạng lập lờ hai phía, để rồi chả phía nào đem lại cho bình an thoải mái. Thế rồi cô đứng im suy nghĩ một hồi lâu, đoạn hít một hơi sâu vào lồng ngực, và nói to lên: "Lạy Chúa, con xin chọn Ngài". Nói xong, cô bước hẳn hai chân vào bồn tắm. Hành vi này đối với cô giống như một phép rửa đích thực. Đây chính là sự biến đổi tâm hồn mà Gioan tẩy giả đề nghị dân Do Thái thực hiện.

Vậy làm thế nào áp dụng thực tế những điều trên đây vào cuộc sống chúng ta? Muốn trả lời câu hỏi quan trọng này, chúng ta hãy trở lại câu chuyện của bác sĩ Menninger về nhà giảng thuyết trên đường phố nọ. Tất cả chúng ta đều đã từng làm đìều sai quấy. Nếu còn chút nghi ngờ gì về điều này chúng ta chỉ cần đọc lại lá thư thứ nhất của thánh Gioan trong đó ngài dùng những câu nói hết sức thẳng thừng: "Nếu chúng ta nói rằng: chúng ta không có tội là chúng ta tự lừa dối mình… nếu chúng ta cho rằng mình không hề phạm tội tức chúng ta xem Thiên Chúa là kẻ nói dối và không có lời Ngài trong bản thân chúng ta" (1 Ga 1: 8,10)

Tôi rất vui mừng khi nghe thánh Gioan công bố ra tội lỗi của chúng ta một cách thẳng thừng như thế, vì điều đó giúp chúng ta dễ dàng đồng ý với bác sĩ Menninger hơn, khi ông cho rằng việc nhìn nhận tội lỗi đem lại cho chúng ta sức khoẻ tâm lý lẫn tinh thần. Quả thế, chúng ta phải nhìn nhận mình là kẻ có tội. Nói rõ hơn là chúng ta rất xinh, rất đẹp, nhưng đồng thời cũng rất yếu hèn. Có nhiều khía cạnh trong cuộc sống chúng ta cần được Chúa tha thứ và chữa lành nhờ bí tích Giải tội.

Vì thế, Mùa Vọng chính là thời gian giúp chúng ta nhìn nhận mình là kẻ có tội để rồi chúng ta ăn năn thống hối xưng tội ra ngõ hầu mở rộng tâm hồn trước Chúa Giêsu Đấng cứu độ chúng ta. Đây là thời gian để chúng ta làm điều Linda Marshall đã làm, nghĩa là không thể kéo dài tình trạng sống hai mặt mà chả cái nào ra hồn cả. Đây là thời gian để chúng ta hít sâu hơi thở vào lồng ngực rồi thốt lên với Chúa: "Lạy Chúa, con xin chọn Ngài".

Để kết thúc, chúng ta hãy lập lại lời cầu nguyện được một Kitô hữu tên là Origen viết ra cách đây 1600 năm; "Lạy Chúa Giêsu, đôi chân con dơ bẩn…. xin hãy đổ nước vào thau và rửa cho con, con biết rằng con quá bạo gan khi cầu xin Chúa điều này, nhưng vì con sợ bị Chúa quở trách: Nếu Ta không rửa chân con thì con chẳng phải là bằng hữu cuả Ta. Vậy xin Chúa hãy rửa chân con vì con ao ước được làm bằng hữu của Ngài".

 

10. Chúa Nhật 3 Mùa Vọng

"Chúng tôi phải làm gì" (Lc 3,10)

Phúc âm hôm nay mô tả lại khung cảnh dân chúng tìm đến Gioan để được hướng dẫn sống như thế nào cho phù hợp và xứng đáng để đón chờ Đấng Cứu Thế. Thánh Gioan xuất hiện với cách sống và tinh thần khiêm, lời mời gọi của ông đã đánh động rất nhiều con người, khơi lên trong lòng họ những tâm tình sám hối và muốn quay về với Thiên Chúa, dù họ còn rất mơ hồ về Đấng Cứu Thế khi họ tự hỏi có phải Gioan là Đấng Cứu Thế. Họ vẫn đến với Gioan để nghe giảng dạy và lời mời gọi của Gioan đơn giản, cụ thể bằng việc chia sẻ cơm ăn áo mặc, sống công bằng, nhường nhịn...

Lời mời gọi của Gioan đối với những người đồng thời với ông cũng là lời mời gọi mọi người chúng ta, nó là những gì rất gần gũi, là cuộc sống xảy ra xung quanh ngày hôm nay chúng ta cần làm. Chúa đến với chúng ta qua rất nhiều người, nhiều cách và nhiều biến cố. Tất cả là cơ hội để chúng ta đón nhận Chúa. Có những biến cố và những người Chúa gởi đến để thức tỉnh và mời gọi chúng ta trong cuộc sống thường. Mùa vọng là thời gian thuận tiện để thực hành sâu sắc hơn đời sống người kitô hữu, gắn bó với Chúa bằng đời sống cầu nguyện, thực hành tình yêu thương với mọi người bằng cách sống chia sẻ, công bằng và khiêm tốn. Đối với chúng ta Chúa đã đến và đang đến mỗi giây phút trong cuộc sống hằng ngày, điều cần thiết là chúng ta mở rộng tâm hồn đón Chúa, chuẩn bị đời sống nội tâm để đón Chúa trong ngày Chúa quang lâm, sống hài hoà các mối tương với tha nhân, mở rộng tấm lòng để san sẻ.

Cuộc sống xao động, nhiều cách sống để chọn lựa, có nhiều lúc chúng ta không nhận ra rõ điều nào là ý Chúa, tinh thần của Chúa để thi hành. Vì vậy chúng ta cần sự hướng dẫn của Lời Chúa và Giáo Hội. Cậy dựa vào Chúa, luôn bám víu vào Chúa trong suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Dù cuộc sống có nhiều thay đổi, biến chuyển và nhiều lý thuyết mơ hồ nhưng trong tay Chúa chúng ta vững vàng chu toàn bổn phận của người kitô hữu và hoàn thành trọn vẹn cuộc sống ở trần gian này.

 

11. Hãy vui lên – Lm Giuse Phạm Thanh Liêm

Phaolô mời gọi các tín hữu của Ngài: “hãy vui lên”. Tiên tri Sophônia nói: “hãy ca lên”. Tôi phải làm gì để chuẩn bị tâm hồn đón Thiên Chúa đến? Tôi phải làm gì để có thể sống vui?

I. Vì Thiên Chúa ở giữa ngươi

Tiên tri Sôphônia cho rằng phải ca hát vì Thiên Chúa đang ở giữa dân Người, vì Thiên Chúa đã đẩy lui quân thù cho dân, vì Thiên Chúa sẽ thêm sức mạnh cho dân Người, vì Thiên Chúa yêu thương dân Người, Ngài quy tụ cả những kẻ đã bỏ lề luật của Ngài.

Thiên Chúa ở với ai, thì người đó sẽ được Thiên Chúa bảo vệ. Thiên Chúa đã ở với Abraham khi ông đi vào Aicập, Ngài đã bảo vệ ông khỏi bao tai họa và bênh vực quyền lợi của ông. Khi Sara, vợ của Abraham, được thương yêu và bị bắt làm vợ vua Pharaô, thì Thiên Chúa đã đổ tai họa xuống người Aicập và buộc Pharaô phải trả Sara về cho Abraham. Thiên Chúa đã ở với Yacóp, đã đi với Yacóp và dẫn ông trở về quê cha đất tổ khi ông chạy trốn Esau. Thiên Chúa đã ở với Môsê, để ông có thể đứng vững trước vua Pharaô, để ông có thể đem dân Do Thái ra khỏi Aicập. Thiên Chúa đã ở với các tiên tri, để làm cho các tiên tri dám nói những điều mà những người có quyền thế và dân chúng không muốn nghe.

Hôm nay người ta biết rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Ngài luôn luôn hiện diện với tất cả mọi người và với dân Người. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, Ngài luôn trợ giúp con người vì tất cả đều là con dân của Ngài. Không nhờ Ngài, không gì có thể hiện hữu và thành sự. Thiên Chúa hạnh phúc khi ở với con người. Con người cần Thiên Chúa để sống hạnh phúc, và Thiên Chúa cũng cần con người vì Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa đang ở với con người, đó là lý do mọi người cần biết để có thể vui lên.

II. Vì Chúa đã gần đến

Thánh Phaolô kêu gọi dân thành Philip hãy vui lên, vì “Chúa đã gần đến”. Với thánh Phaolô, Đức Giêsu là Đấng có thân phận Thiên Chúa, Ngài đã tự hủy khi mang thân phận con người, Thiên Chúa đã đến và ở giữa con người, hiện Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Thiên Chúa đã đến hiện diện giữa trần gian trong thân phận con người, và Ngài sẽ lại đến. Ngài đang đến, nên các Kitô hữu hãy vui mừng.

Tại sao vui khi Chúa đến gần? Trong quan niệm của thánh Phaolô, Đức Giêsu là niềm vui, là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người đến độ nào! Chúa tới, là để cứu độ con người, để giải phóng toàn diện con người, đưa con người vào hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Vì vậy, Kitô hữu vui biết bao khi biết Chúa đang tới gần. “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi… Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại đón anh em đi với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng được ở đó với Thầy”.

Trong khi chờ đợi Chúa, Kitô hữu hãy sống ôn hòa. Niềm vui phải tỏa rạng trên gương mặt của các Kitô hữu, vì đây là niềm vui lớn vô cùng. Trên đời này, không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui này: Chúa đến để cứu độ con người, để đưa con người tới hạnh phúc viên mãn. Dân ngoại không biết, nên không có niềm vui này được; còn Kitô hữu biết điều này, nên họ vui. Nếu Kitô hữu không biết điều này, thì thánh Phaolô đã nhắc nhở các con cái của Ngài: “hãy vui lên, tôi nhắc lại lần nữa: anh em hãy vui lên trong Chúa”.

III. Đức Giêsu- niềm vui của con người

Đức Giêsu quả thực là niềm vui của con người! Khi được sinh ra tại chuồng chiên cừu nơi làng Bêlem, không ai biết Ngài là nhân vật đặc biệt. Khi sống thời thơ ấu tại Nazarét, cũng chẳng ai biết nguồn gốc thần linh của Ngài ngoại trừ Đức Mẹ và thánh Yuse. Khi Ngài đi rao giảng, Ngài được coi là một tiên tri, là người qua đó Thiên Chúa hiện diện và yêu thương dân Người. Với tư cách là một tiên tri, người của Thiên Chúa, Ngài cũng đã làm cho dân chúng thêm tin tưởng vào Thiên Chúa, làm cho dân chúng vui vì họ cảm nhận Thiên Chúa quan tâm và an ủi dân Người.

Sau biến cố Phục Sinh, các tông đồ nhận biết Đức Giêsu hoàn toàn lấy ý Thiên Chúa làm ý mình, Ngài chấp nhận vâng phục cho đến chết, Ngài hoàn toàn phó thác tất cả trong tay Thiên Chúa, Ngài thuộc hoàn toàn về Thiên Chúa đến độ có thể nói Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Đức Giêsu có nguồn gốc thần linh; điều này là nguyên nhân khách quan làm Kitô hữu vui mừng.

Một khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng đồng bản tính với Thiên Chúa, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành, thì Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng! Thiên Chúa đã yêu thương con người đến cùng cực nên mới cho Con của Ngài nhập thể làm người! Con người thật hạnh phúc dường bao khi nghe Tin Mừng này. Niềm tin này ảnh hưởng trên con người toàn diện, làm con người vui mừng hân hoan. Đâu còn niềm vui nào lớn hơn niềm vui này! Niềm vui này phải lan tỏa và chi phối toàn diện con người, cả về thể lý lẫn tinh thần. Ước gì mỗi Kitô hữu tin tuyệt đối vào Đức Giêsu Kitô, để cuộc đời của mỗi người là dấu chỉ Thiên Chúa yêu thương con người được biểu lộ qua Đức Giêsu Kitô.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Xin chia sẻ niềm vui lớn nhất trong đời bạn.

2. Bạn có kinh nghiệm về nỗi buồn không? Nó là gì? Nó có đáng cho bạn buồn không?

3. Đức Giêsu có ảnh hưởng nhiều trên đời bạn không? Xin chia sẻ!

 

12. Chúng tôi phải làm gì?

MINH HỌA LỜI CHÚA - Nguyễn Hiếu

1. Vẫn luôn hy vọng chờ đợi

Victor Frankl là một bác sĩ tâm thần người Do thái. Ông đã bị Đức Quốc Xã bắt nhốt trong trại tập trụng. Ông có viết cuốn "Tìm ý nghĩa đời người". Trong đó ông mô tả những đau khổ đồng bào ông phải chịu trong trại tập trụng. Trong những đau khổ đó, nỗi đau khổ chờ đợi là chua xót nhất: chờ để biết số phận của người thân và của chính mình, chờ để được giải thoát!...

Vào thời Chúa Giêsu, người Do thái cũng đau khổ chờ đợi Đấng Mesia đến giải thoát khỏi nô lệ đế quốc Lamã. Nỗi đau khổ chờ đợi này tác động mạnh trên tâm hồn họ theo nhiều cách khác nhau: một số thất vọng buồn rầu chán nản, số khác mất niềm tin, còn lại nhóm người vẫn hy vọng chờ đợi với lời cầu khẩn, van xin, thỉnh nguyên...

***

Thực sự Chúa đã đến ở giữa họ, mà họ không nhìn nhận, không tiếp rước, vì Người không làm theo ý ho. Họ chỉ nghĩ đến lợi vật chât. Chúa đến đem niềm vui hạnh phúc cho tâm hồn Chúa đến đem tình thuơng cứu rỗi đến cho loài người, dạy con người sống bác ái, công bình với nhau để được "thu vào kho lẫm" là được sống hạnh phúc muôn đời. (Theo "Vision 2000")

2. Anh là kẻ có tội

Bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đã làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông tựa đề: "Điều gì đang xảy đến cho tôi?". Ông bắt đầu bằng câu truyện trào lộng khiến mọi người suy nghĩ Năm 1972, vào một chúa nhật tháng 9, ở một gốc phố đông người qua lại tại Chicago, xuất hiện một nhà giảng thuyết đang khi các nhân viên vội vã đi ăn trựa. Ông chỉ vào người này nói: "Anh là kẻ có tội". Đoạn ông im lặng một lúc rồi chỉ người kia nói: "Anh là kẻ có tội!..."

Khách qua đường thấy thế thì lấy làm lạ, kinh sợ. Họ lấm lét nhìn ông rồi quay đi vội vã, rồi lại lén nhìn nữa.

***

Chắc chắn Gioan Tẩy Giả ngày xưa cũng gây tác động như thế trên dân chúng khi ông xuất hiện ở sông Giođan, khiến mọi người nhận biết tội lỗi mình mà ăn năn thống hối, từ người thu thuế, đến binh lính, và dân thuờng, để đón nhận ơn cứu rỗi của Chúa Cứu Thế. Họ xúm lại nhờ ông chỉ dạy điều gì phải làm, việc chi phải lánh để được Chúa tha tội, để được huởng nhờ ơn cứu độ.

Tôi có tội không? Tôi cần ăn năn sám hối để chờ mong Chúa đến với tôi không?!

Thánh Gioan Tông đồ nói với chúng ta: "Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta... Tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: Đó là Đức Giêsu(1Ga.1,8-2,1) Đấng đang đến cứu độ chúng ta. (Theo Cha M. Link).

3. Được áp dụng vào cuộc sống

Trong sách của Do thái giáo có kể câu chuyện của một nhà chế biến xà bông với một giáo sĩ. Một hôm nhà chế biến xà bông đến gặp giáo sĩ và nói: "Tôi đã hiểu đạo Do thái Ngài đã nói với chúng tôi: mục đích của tôn giáo là đem lại hòa bình, công bằng, bác ái cho thế giới. Nhưng tôi thấy những người theo tôn giáo có thực hiện điều nào đâu!...

Vị giáo sĩ bình thản mời anh đi dạo trong công viên Họ đi ngang một đám trẻ đang chơi lấm lem. Giáo sĩ nói: Quan sát các trẻ này, anh kết luận xà bông không có hiệu quả gì. Anh phản đối: xà bông bao giờ cũng hiệu quả khi nó được sử dụng. Vị giáo sĩ đáp lại: Tôn giáo cũng thế Nó cũng chỉ có giá trị khi những lời giáo huấn và những điều luật được áp dụng vào cuộc sống. (Theo "Minh họa Lời Chúa).

***

Thánh Gioan Tẩy Giả kêu gọi các thành phần dân chúng sống bác ái, thực hiện công bằng để đón rước Chúa Cứu Thế...

Tôi có muốn đón rước Chúa Cứu Thế không? Tôi có sống bác ái công bình không?

4. Nhìn thấy Chúa...

Ở quần đảo nọ, có hai nông phu luôn kình địch cải vã nhau, cương quyết không đội trời chung. Đời sống hai người ngày càng bất hạnh, kéo theo cả hai gia đình thù hằn xô xát nhau, làm cho bầu khí trong vùng ngày càng thêm nặng nề khó sống...

Các trưởng lão trong vùng thấy vậy, cố sức giải hòa hai người. Các ông đề nghị một anh nên đi gặp Chúa. Anh sẵn sàng, nhưng hỏi lại:

- Gặp Chúa ở đâu?

Các trưởng lão dẫn anh đến nhà người anh thù ghét, giải thích cho anh hiểu kẻ mà anh thù hận là Chúa đó, vì mỗi người là hình ảnh Thiên Chúa, là anh em với nhau vì là con một Cha trên trời.

Nghe các trưởng lão giải bày chí tình chí lý, hai người ôm nhau hòa lên khóc nức nở, vì nhớ lại từ trước đến giờ mưu mô hại nhau và thù ghét đến Chúa nữa!...

***

Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người sám hối, đón rước Chúa Cứu Thế. Ai nấy xúm lại hỏi ông: "Chúng tôi phải làm gì?..."

Hai người nông dân trên đây cũng sẵn sàng nghe các trưởng lão, ăn năn sám hối lỗi lầm của mình, tha thứ cho nhau, trở lại thương yêu đùm bọc nhau, vì họ thấy Chúa trong anh em mình: "Chúa đã đến ở trong mọi người. Muốn đón rước Chúa, phải tiếp nhận anh chị em mình..."

5. Sống bác ái công bình

Dưới thời vua Cảnh Công nước Tề, có lần bão tuyết 3 ngày liên tiếp. Vua Cảnh Công ngồi trong cung điện, mặc áo lông áo kép. Ánh Tử vào hầu, Cảnh Công bảo:

- Lạ thay, mưu tuyết 3 ngày rồi mà trời không rét nhỉ.

Ảnh Tử hỏi lại:

- Ngài không rét ư?

Cảnh Công cười. Ánh Tử nói tiếp:

- Ánh Tử này vẫn thuờng nghe nói các bậc vua hiền:

Lúc no biết người khác đói.

Lúc ấm biết người khác rét.

Lúc nhàn hạ biết người khác vất vả.

Nay vua lại không biết thế.

Cảnh Công đáp:

- Ánh Tử nói có lý. Cảnh Công này có lỗi. Xin nghe lời.

Rồi vua cho điều tra ai đói rét để phân phát cơm gạo quần áo. (Theo "Phút Cầu nguyện", tập III)

***

Nghe lời cảnh cáo, vua Cảnh Công biết sửa mình, từ bỏ thói ích kỷ bất công, trở lại sống công bình bác ái.

Mùa Vọng, Thánh Gioan Tiền hô cũng mời gọi mọi người sống bác ái công bình để đón nhận Chúa Cứu Thế.

Ước gì mỗi người chúng ta biết vâng nghe thực hành theo lời Thánh nhân, để được Chúa đến cứu thoát chúng ta khỏi lầm than khốn khổ hồn xác.

 

13. Thay đổi

"Chúng tôi phải làm gì?"

Hôm nay là Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, chủ tế mặc phẩm phục màu hồng, sắc màu của niềm vui.

Hoà cùng niềm vui của phụng vu, mỗi người chúng ta hãy ý thức thay đổi trạng thái tâm hồn mình cho phù hợp với ý nghĩa phụng vụ mà Giáo Hội mời gọi. Gác lại chuyện cơm áo gạo tiền, tạm hoãn những ưu tư nghề nghiệp, vơi đi những lo âu bệnh hoạn, lau khô những giọt nước mắt tang chế u sầu của đời tạm. Và bây giờ, hỡi những ai có niềm tin vào Chúa Kitô, hãy vui lên, hãy thay đổi đời mình.

Hãy thay đổi đời mình! Đây là điều mà Gioan Tẩy giả kêu gọi mọi người thực hiện qua đoạn Phúc Âm hôm nay. Đó cũng là thái độ sống mà phụng vụ mùa vọng mời gọi từng người. Nhưng gần gũi hơn, thiết thực hơn, thay đổi đời mình, sống bác ái là tiếng gọi tha thiết của những người bên cạnh chúng ta: vợ chồng, con cái, hàng xóm, bè bạn, thầy cô, bạn bè...

Sự thay đổi hôm nay của bạn có ý nghĩa quan trọng cho cuộc đời bạn. Bạn thay đổi cho sự thăng tiến của bản thân. Bạn thay đổi vì hạnh phúc của người bên cạnh. Bạn thay đổi để chứng tỏ bạn gắn bó và lắng nghe lời Giáo Hội mời gọi. Bạn thay đổi để nói lên rằng bạn tin vào Tin Mừng Đức Kitô. Và hơn thế, giờ đây bạn thay đổi vì bạn yêu mến Đức Kitô và không muốn làm phiền lòng Người.

Hài Nhi Giêsu rất cần sự anh tân của từng người trong nhân loại. Ai cũng biết Chúa Giêsu sinh ra trong thời tiết khắc nghiệt của đêm đông lạnh giá. Nhưng cái lạnh Ngài sợ hơn cả là cái lạnh của lòng người. Bạn đang lạnh nhạt, hờ hững với những người thân trong gia đình, sống vô trách nhiệm, chỉ lo cho riêng mình. Bạn sống vô tình với tha nhân, dù họ đang cần sự giúp đỡ. Chúa sợ cái lạnh đó nhiều lắm. Không phải Chúa sợ cho Chúa mà Chúa đang lo sợ cho bạn. Chúa lo cái lạnh ấy diễn tiến lâu ngày sẽ đóng băng con tim bạn, sẽ làm mất dòng chảy yêu thương nơi tâm hồn bạn. Giáng sinh năm nay Chúa không đến được vì máng cỏ lòng bạn không còn hơi ấm.

Bạn ơi! Hãy ý thức rằng đối xử tệ bạc với mọi người trong đức ái là giết chết trái, là ngăn chặn hành trình giáng lâm của Đức Kitô nơi tâm hồn, là huỷ hoại công cuộc cứu chuột của Thiên Chúa.

Bạn là người Kitô hữu: Hãy vui lên, hãy thay đổi để chuẩn bị cho Chúa một máng cỏ lòng; lòng tin, lòng cậy, lòng mến.

 

14. Công chính – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Chương trình cứu độ của Thiên Chúa ban cho loài người được hình thành qua rất nhiều thời kỳ. Thiên Chúa đã mặc khải ý định qua từng biến cố vui buồn của một dân tộc. Người đi vào thời gian để thực hiện ý định của Người. Đọc lịch sử dân Do-thái, chúng ta nhận ra bàn tay quan phòng của Người qua từng giai đọan. Thiên Chúa không rút bớt thời gian và không dùng sự lạ để đạt tới mục đích ngay, nhưng chờ đợi chuẩn bị của từng thế hệ con người. Mỗi thế hệ, Chúa lại chọn gọi một số những ngôn sứ và chứng nhân. Người mong muốn cải đổi từng tâm hồn để đón chờ Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa sai các tiên tri để loan báo tin vui ngày xum họp trở về. Mỗi biến cố xảy đến cho dân là một dấu chỉ lòng thương xót. Tiên tri Sophonia đã cất tiếng: Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on, hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi (Soph 3, 14).

Dân Chúa đã trải qua nhiều gian nan thử thách. Chúa ban cho Dân thật nhiều hồng phúc, nhưng họ cũng phải đối diện với nhiều thách đố thường ngày. Chúa để mắt đoái nhìn và dẫn dắt Dân trong nẻo chính đường ngay, nhưng rất nhiều lần họ đã đi lạc xa và rời bỏ Chúa. Chúa phạt họ lưu đầy, nhưng rồi Chúa lại qui tụ họ về. Tiên tri Sophonia diễn tả: Như trong ngày lễ hội. Những kẻ tản lạc được hồi hương Ta đã cất khỏi ngươi tai hoạ khiến ngươi không còn phải ô nhục nữa (Soph 3, 18). Ơn cứu độ được cưu mang qua nhiều dòng dõi nối tiếp sứ mệnh chuẩn bị. Chúng ta không thể tách rời các biến cố nhỏ to trong chương trình cứu độ. Thời gian là trường huấn luyện và là thuốc chữa lành tâm linh. Biết bao nhiêu kinh nghiệm xương máu để gìn giữ kho tàng châu báu niềm tin của cha ông. Đó là tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất.

Bài phúc âm của Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng, Gioan Tẩy Giả xuất hiện giữa đám đông mở đường hoán cải. Gioan bắt đầu sứ mệnh rao giảng sám hối ngay giữa nơi quần chúng. Mọi cấp bậc và mọi giới đã chạy đến ngài và xin ý kiến làm sao có thể đổi đời. Cả các binh lính cũng đến hỏi: "Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?" Ông bảo họ: "Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình." (Lc 3, 14). Lời kêu gọi của ông Gioan vẫn vang vọng qua mọi thời. Hôm nay đây mỗi người chúng ta cũng hỏi: Tôi phải làm gì để nên trọn lành? Cũng chính những việc cần thi hành mà Gioan đã nói về lòng bác ái, sự công bằng, sống ngay chính và thái độ chấp nhận. Niềm vui trong tâm hồn sẽ dâng trào khi sự ích kỷ, gian tham và kiêu căng bị xóa nhòa.

Cuộc sống xã hội tạo nên hình dạng nếp sống con người. Người ta nói gần mực thì đen, gần đền thì rạng. Cách sống và suy tư hành xử của chúng ta cũng bị ảnh hưởng khi sống trong xã hội một xô bồ, gian dối và lừa đảo. Những sai lạc và lầm lỗi nho nhỏ trở thành thói quen hằng ngày, chúng ta không còn nhận diện sự chính thật. Thánh Gioan Tẩy Giả đã khơi dậy và nhắc nhở mọi người sống tinh thần mới lấy đức ái làm cột trụ dẫn đường. Việc làm cấp bách là hãy chia sẻ áo quần, cơm bánh cho những người nghèo khó đói ăn, thiếu mặc. Niềm an vui của ơn cứu độ không cao siêu xa vời, nhưng hòa nhập ngay trong cuộc sống đời thường. Chúng ta sẽ nhận được niềm vui hoan lạc khi biết chia sẻ, cho đi và hiến thân.

Mùa Vọng mang ý nghĩa gì cho mỗi người chúng ta trong giai đoạn này. Chúng ta có thực sự cảm nhận được niềm vui trào dâng khi đón nhận lời mời gọi của thánh Gioan không? Chúng ta có thật sự muốn canh tân đời sống và dọn đường đón nhận Chúa vào tâm hồn không? Chúng ta cần tu thân, phải tích đức và đổi mới cách suy tư sống đạo. Biết bao nhiêu cơ hội đã đi qua trong cuộc đời bị bỏ lỡ. Những ràng buộc của bản ngã và của tham sân si cuốn quyện trong cách sống. Chúng ta khó vượt ra khỏi vòng bao quanh ứng xử thường tình của người đời. Đôi khi chúng ta cũng đua đòi và hãnh diện về những thói hư tật xấu của mình. Nghĩ rằng mình hiểu đời, điệu đời, chịu chơi và thích ứng được với những đua chen xã hội. Chúng ta cảm thấy thỏa mãn cuộc sống và dần rời xa những ràng buộc luân lý đạo đức.

Không phải ngày một, ngày hai là chúng ta thoát được khỏi vòng cuốn hút đam mê cuộc đời. Người ta thường nói rằng con người thì chứng nào tật ấy. Đúng thật, một tật xấu đã nhiễm, không dễ gì thay đổi. Việc xấu đã thành thói, khó bề sửa chữa. Có người khoe rằng tính tôi là vậy đó. Ai chịu thì chịu, không chịu thì thôi. Đây chỉ là cách cãi chầy và nói cối. Cần khiêm hạ trong ý thức với cả ý chí quyết tâm để có thể tránh xa và loại trừ những thói xấu. Thuốc nhẫn nhục chữa bệnh tham sân si. Ai cũng cần phải tu thân và tu tâm để nên người hoàn thiện. Nếu chúng ta tu được trong nghịch cảnh mới gọi là chân tu. Khi gặp những sự trái tai, gai mắt và thị phi, mà chúng ta cầm lòng được mới gọi là tu. Nếu không đối diện với nghịch cảnh thì khó biết sức tu của mình. Khi đụng truyện, chúng ta mới biết kẻ dữ, người hiền. Nếu chúng ta không tu tập sửa đổi thì ngày qua tháng lại, tuổi đời chồng chất và tóc bạc răng long, các thói hư tật xấu vẫn còn đó.

Hãy vui lên vì ơn cứu độ đã gần kề. Hãy vui với những giây phút hiện tại, chúng ta không phải đợi đến ngày mai. Chúng ta hãy bắt đầu ngay ngày hôm nay những gì có thể làm. Chân thành nhận diện những gốc rễ của sự sai xót, yếu đuối và lầm lạc để hồi đầu. Chúng ta chấp nhận sự thật về mình và đứng trên đôi chân của mình. Bỏ đi được một thói hư hay một tật xấu là chúng ta đã bước lên một nấc thang của sự hoàn thiện. Như ông Gioan, tuy dù mọi người kính phục Gioan, nhưng không màng dư luận thị phi. Ông trả lời thẳng thắn: "Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa (Lc 3, 16). Gioan khiêm hạ trong lòng để chu toàn sứ vụ được trao. Nhận mình là tiếng kêu trong hoang địa để dọn đường cho Chúa. Là những thừa tác viên của lời Chúa, chúng ta hoàn tất mọi công việc như người đầy tớ phục vụ.

Niềm vui của ngày trở về quê hương xứ sở là biến cố hân hoan. Thánh Phaolô viết thơ cho tín hữu thành Philipphê cũng loan báo tin vui: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!(Phil 4, 7). Phaolô đã đón nhận niềm vui ngập tràn bởi chính nguồn ơn cứu độ là Chúa Kitô phục sinh. Ngài không quản ngại gian khó trên bước đường truyền giáo. Phaolô đã chịu trăm ngàn đắng cay để làm nhân chứng cho Chúa Kitô. Ngài khuyên lơn các tín hữu khởi đầu là hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa: Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện (Phil 4, 7). Tin vui cần được loan truyền. Phaolô đã lãnh nhận nhưng không, nên ngài cũng đem tin mừng biếu không bằng mọi giá.

Lạy Chúa, nếu không có ơn Chúa, chúng con chẳng làm được gì. Hãy luôn gắn bó với Chúa Giêsu là nguồn cội để lãnh nhận sự sống. Chúa phán: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được (Ga 15, 5). Xin cho chúng con biết tận dụng mọi thời gian để tu tâm và luyện tính để nên hoàn thiện hơn. Không tu luyện, kiềm chế và tiết độ thì không thể thay đổi tính tình. Cuối cuộc đời nhìn lại đời mình, có khác gì như con dã tràng xe cát biển đông.

 

15. Niềm vui trong Chúa

Chúa nhật thứ 3 Mùa vọng được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Nếu con người luôn sống trong niềm vui, họ sẽ cảm thấy mọi người và mọi vật thật đáng yêu! Bởi đó, thánh Phaolô tông đồ khuyên bảo mọi người hãy vui lên: "Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi. Chúa đã gần đến!". Quả thực, người Kitô hữu đích thực phải là người sống trong niềm vui, vì chúng ta đang mang trong mình niềm hy vọng về một tương lai huy hoàng và chắc chắn. Đó chính là hạnh phúc Nước Trời mai sau. Đó là niềm vui được sống kết hiệp với Chúa trong tình yêu vĩnh cửu. Như vậy, ai sống trong chán chường, thất vọng và buông trôi thì người ấy chưa phải là người Kitô hữu đích thực. Vì đó là lối sống của những người không có niềm tin và niềm hy vọng.

Lời Chúa trong những Chúa Nhật Mùa vọng phát hoạ cho chúng ta thấy rất rõ nét hình ảnh của một người sống niềm niềm vui và niềm hy vọng đích thực.

- Đó là người luôn biết hoán cải tâm hồn bằng đời sống tỉnh thức và cầu nguyện: ý thức mình là người tội lỗi nên luôn nép mình bên Chúa, chiến đấu trong sức mạnh của Chúa. Không liều lĩnh làm quen và tiếp cận với những dịp tội vì biết thân phận mình yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội. Có nhiều người lý luận nghe ngon lành lắm: con đi uống bia ôm cho vui vậy thôi chứ có ôm ai đâu! Con chơi đánh bài để giải trí vậy thôi chứ có sát phạt gì đâu! Con coi phim sex cho biết vậy thôi chứ có bao giờ làm chuyện ấy đâu! Có chắc vậy không? Đừng tưởng mình là mình đồng da sắt nên miễm nhiễm với mọi thú vui bất chính trong cuộc đời này! Thái độ khôn ngoan vẫn là biết giữ mình tránh xa các dịp tội. Khôn ngoan là biết mình, là không liều lĩnh hoặc nghĩ rằng: "có vào hang mới bắt được cọp". Ma quỷ luôn giăng mắc mưu kế đầy tràn xung quanh chúng ta.

- Người sống niềm hy vọng đích thực là người cảnh tỉnh mình luôn luôn để khỏi chè chén say sưa và ham hố sự đời. Con người hôm nay sống trong một thế giới văn minh và đề cao vật chất, nên chúng ta dễ dàng bị cuốn hút vào vòng xoáy ham thích hưởng thụ. Hưởng thụ càng nhiều càng tốt. Vì thế, họ lao mình vào những cuộc vui không bờ bến như những con thiêu thân tội nghiệp!

- Người sống niềm hy vọng sống động nhất là người biết sống chia sẻ: Thánh Gioan Tẩy giả khuyên người ta rằng: " Ai có hai áo thì chia cho người không có, có gì ăn cũng hãy làm như vậy". Đây là việc làm cụ thể, việc làm của tình yêu. Nó thể hiện tinh thần: "lá lành đùm lá rách", hoặc "Một miếng khi đói bằng một gói khi no". Nó rất thực tế và thắm tình thương của con người từ ngàn xưa đến nay. Nói đến đây, tôi không thể nào quên câu chuyện mà Mẹ Têrêsa Calculta đã kể lại như sau: Khi Mẹ đến cứu trợ cho một ngôi làng nghèo lắm ở Ấn độ. Mẹ Têrêsa gặp một bà mẹ có 5 đứa con mà đứa nào cũng gầy còm, đen đúa, xấu xí vì thiếu ăn. Mẹ cho ta bà ta một bao gạo 50 kilô. Điều lạ lùng là liền sau khi nhận bao gạo từ tay Mẹ Têrêsa, thì người phụ nữ này vội vàng sớt bao gạo ra làm hai, rồi nhanh chóng ôm nửa bao gạo ấy đi nhanh đến cái chòi gần đó để chia cho một người chị em của mình. Khi trở lại, Mẹ Têrêsa hỏi bà: "Sao chị không để dành gạo ăn mà đem đi đâu vậy?" Chị liền nói: "Thưa Mẹ, người đàn bà ấy cũng có 5 người con như con vậy mà mấy ngày nay họ không có gì để ăn cả". Mẹ Têrêsa nghe những lời nói ấy thì quá xúc động. Mẹ liền cho bà ấy một bao gạo khác. Mẹ Têrêsa nhớ mãi hình ảnh đẹp ấy trong cuộc đời của Mẹ và thường kể lại câu chuyện cảm động ấy cho những người khác nghe. Đó là thái độ anh hùng vì người ta dám chia sẻ ngay trong sự thiếu thốn của mình. Phải chăng, đó là hình ảnh của những con người đang sống niềm hy vọng mà Thánh Gioan Tẩy Giả hôm nay kêu mời mọi người đi vào lối sống ấy.

- Sống niềm vui và niềm hy vọng đích thực còn là sống tử tế với mọi người cùng với việc sống đức công bằng với mọi người trong tình huynh đệ anh em. Thánh Gioan tẩy giả đã chỉ thị cho những người thu thuế và binh lính rằng: "đừng đòi hỏi quá mức ấn định, đừng ức hiếp ai". Bởi lẽ, khi mình có quyền cao chức trọng, con người rất dễ dùng uy thế của mình để hà hiếp kẻ dưới tay mình. Đó là tinh thần của thế gian. Còn những người con cái Chúa luôn được dạy bảo rằng: "Hãy dùng quyền bính của mình để phục vụ người khác." Chúa Giêsu đã nêu gương sáng tuyệt vời cho chúng ta về đời sống yêu thương và phục vụ ấy.

Như vậy, khi con người biết sống theo những giá trị của Tin mừng thì họ trở thành những con người sống trong niềm vui của Chúa. Và bất cứ ai đã mang trong mình niềm vui của Chúa rồi thì họ sẽ sống hiền hoà và bình an vô cùng dẫu cho cuộc đời có phủ phàng đối với họ, có gán ghép cho họ những điều xấu xa tồi tệ cách nào đi chăng nữa.

Có một câu chuyện kể như sau: Hakuin nổi tiếng là một vị thiền sư trong sạch, thánh thiện. Gần chùa Hakuin trụ trì có một cô gái rất xinh đẹp. Thế rồi bất ngờ, cha mẹ phát hiện ra cô có thai. Tra hỏi mãi, sau bao nhiêu dằn vặt, đau đớn, cô gái thú nhận đang mang trong mình giọt máu của Hakuin. Ngay lập tức, cha mẹ cô đến gặp nhà sư và trút lên người vị thiền sư mọi nỗi phẫn uất, tức giận của họ. Hakuin điềm đạm, bình tĩnh chỉ thốt lên hai tiếng "Thế à!?" và với gương mặt bừng sáng, vị thiền sư dang hai tay đón sinh linh bé nhỏ. Đứa bé lớn lên mạnh khoẻ trong vòng tay ấm áp của Hakuin. Một năm trời trôi qua, cô gái không chịu đựng được sự cắn rứt lương tâm của mình, đành nói ra sự thật về quan hệ của mình với anh chàng bán cá ngoài chợ. Cha mẹ cô vội vàng đến chùa xin lỗi vị thiền sư và xin phép được nhận lại đứa bé về cho bố mẹ nó nuôi. Vẫn gương mặt bình thản, điềm tĩnh, Hakuin thốt lên vẻn vẹn hai tiếng: "Thế à!?

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng: trong hoàn cảnh bị tước đoạt hết danh dự, phẩm giá, Hakuin không hề buồn, không giải thích, phân trần, chỉ có im lặng, sự im lặng đáng giá ngàn vàng và tình yêu thương con người vô bờ bến đã minh chứng cho tất cả. Cách ứng xử của Hakuin biểu lộ thái độ của một con người sống có niềm hy vọng và có niềm tin vào một hạnh phúc lớn hơn và trỗi vượt hơn.

Chúng ta cũng hãy chứng tỏ niềm vui trong Chúa, niềm tin và hy vọng của mình qua cuộc sống hiền hoà và nhân ái trong cách đối xử với mọi người để xứng đáng trở thành những người môn đệ của Chúa Kitô nơi trần thế này. Amen.