Chúa Nhật 17/03/2019 – Chúa Nhật 2 Mùa Chay năm C

Lời Chúa: Lc 9, 28b-36

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện.

Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và áo Người trở nên trắng tinh sáng láng. Bỗng có hai vị đàm đạo với Người, đó là Môsê và Êlia, hiện đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem.

Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang của Chúa và hai vị đang đứng với Người. Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Khi nói thế, Phêrô không rõ mình nói gì.

Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các Ngài và thấy các ngài biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng.

Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Và khi tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu.

Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với ai những điều mình đã chứng kiến.

 

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY C 2019

Lời Chúa: St 15,5-12.17-18; Pl 3,17–4,1; Lc 9,28b-36

 

Biến Đổi Nhờ Cầu Nguyện

Sống trong tâm tình Mùa Chay, người Ki-tô hữu thường lưu tâm đến việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Có nhiều cách thức và thực hành khác nhau để nói về các chủ đề này trong suốt Mùa Chay và cả các mùa khác nữa. Trong Chúa nhật II Mùa Chay này, chúng ta được chiêm ngắm dung nhan của Chúa được biến đổi một cách sáng láng trước mặt các Tông đồ. Nhờ biến cố này, Đức Giê-su đã mặc khải vinh quang của Chúa Cha được thể hiện trong dòng lịch sử con người và được chính các Tông đồ làm chứng. Qua đời sống cầu nguyện, Đức Giê-su được biến đổi và đưa con người vào mối tương quan thân thuộc với Chúa Cha. Nhờ Đức Giê-su, con người cũng được hưởng trước một chớp nhoáng vinh quang ấy. Hôm nay, chúng ta dành chút thời gian để đi vào đời sống cầu nguyện để chiêm ngắm dung nhan rạng ngời của Chúa trên núi Ta-bor cùng với các Tông đồ.

Khi nói đến cầu nguyện, mỗi người có một cách thức và cách thực hành riêng. Thế nhưng cầu nguyện như thế nào cho phải, cho đúng thì không phải ai cũng biết và làm được. Các Tông đồ khi xưa cũng không biết cầu nguyện thế nào cho phải (x. Lc 11,1), chính Đức Giê-su đã dạy các ông khi cầu nguyện phải thưa thế nào (x. Lc 11,2-4). Hôm nay, chúng ta cũng đang trong hành trình bước theo Đức Ki-tô, bước theo con đường mà Ngài đã đi để chúng ta được gặp gỡ Ngài và chính Ngài hướng dẫn và đổi mới từng người chúng ta.

Hôm nay, ta cảm thấy có chút ghen tị với các Tông đồ, vì sao lại có chút đố kỵ này? Thưa là vì: “Chúa Giêsu đưa Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an lên núi cầu nguyện” (Lc 9,28). Cũng là môn đệ, nhưng sao lại chỉ có ba người được đi với Chúa? Câu hỏi dành cho mỗi người chúng ta, nhưng có lẽ trong số ấy cũng có mỗi người chúng ta rồi. Điều quan trọng ở đây không phải là ai được đi với Chúa, ai ở lại, nhưng là Thiên Chúa muốn mặc khải vinh quang của Người trong sự chiêm ngắm cầu nguyện của chúng ta.

Nhìn lại lịch sử dân thánh, dân Ít-ra-en, dân được Thiên Chúa tuyển chọn và dẫn đi theo đường lối Người. Nhưng ai có thể đối thoại, ai có thể chiêm ngắm một chút vinh quang, ánh sáng của Người? Tin Mừng hôm nhắc tới hai nhân vật là Mô-sê và Ê-li-a, người được coi như là thông ngôn giữa Thiên Chúa và dân Người. Trải dài lịch sử dân thánh, Thiên Chúa luôn lựa chọn và có những con người đáp trả đi làm ngôn sứ để giải thích và đưa Lời Chúa tới con người. Vinh quang Thiên Chúa cũng luôn được mặc khải một cách tiệm tiến trong lịch sử dân thánh. Hôm nay, vinh quang ấy lại được thể hiện và các tông đồ không khỏi ngạc nhiên.

Trong hành trình đời sống đức tin, mỗi người chúng ta đều có những cái ngạc nhiên của riêng mình. Những điều bất ngờ xảy ra trong cuộc sống mà ta không giải thích được. Có biết bao phép lạ hay dấu lạ vẫn đang xảy ra xung quanh chúng ta; những phép lạ liên quan đến Chúa, đến Đức Mẹ, đến các thánh, và ngay cả đến con người. Không chỉ nói đến Chúa, đến Mẹ, đến các thánh… mà nói ngay đến con người nhờ tin vào Chúa qua việc cầu nguyện thì phép lạ vẫn đang xảy ra. Gần chúng ta nhất, ai cũng đang nghe và thậm chí theo dõi những chứng nhân về lòng Chúa thương xót tại giáo điểm Tin Mừng do cha Long đang hướng dẫn. Vậy chúng ta thử hỏi, chúng ta ngạc nhiên về điều gì? Về các bệnh nhân được cha Long chữa khỏi bệnh? Về những người được chữa lành do tin vào lòng thương xót của Chúa? Hay về chính Chúa đang thể hiện vinh quang của Người trên nhân loại?...có lẽ sẽ có rất nhiều câu trả lời và suy luận khác nhau để minh chứng cho lý do tin và ngỡ ngàng của mình. Nhưng điều quan trọng mà mỗi người nhận thức hôm nay là việc chúng ta có dám làm chứng về Đức Ki-tô hằng sống và nơi Người phép lạ luôn xảy ra. Giả như, chúng ta có tin cha Long hay bất kỳ cha nào khác thì việc tin đó phải nối kết chúng ta với Chúa, với ơn huệ mà Thiên Chúa luôn dành cho chúng ta.

Vậy chúng ta đã thiết lập mối tương quan như thế nào với Chúa, liệu có phải là mối dây thân thuộc và không thể tách rời, hay là mối tương quan ích kỷ và vụ lợi? Chúng ta hãy nghe Chúa Cha  nói gì: “Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người” (Lc 9,35). Chúng ta nhận ra rằng, giữa Chúa Cha, Chúa Thánh Thần và Đức Giê-su có một mối dây liên kết thật chặt chẽ, nghĩa là trong mọi biến cố trên hành trình thực thi sứ vụ của Đức Giê-su đều có sự gắn kết của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhờ Đức Giê-su luôn cầu nguyện để liên lạc với Chúa Cha mà chúng ta được chiêm ngắm dung nhan rạng ngời của Chúa được thể hiện. Sự biến đổi này minh chứng cho chúng ta thấy, trong mọi lúc mọi nơi, Đức Giê-su không làm việc một mình mà luôn có sự gắn kết mật thiết và không thể tách rời với Chúa Cha.

Nếu chúng ta mở lòng ra và gắn kết với Chúa thì chúng ta cũng được biến đổi và trở nên sáng láng như Người, nghĩa là không thể che giấu được. Thế nhưng, chúng ta lại rất dễ rơi vào tình trạng như Phê-rô hôm nay, ông muốn chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa và cũng muốn giữ lại cho riêng mình. Ông đã có một kế hoạch rất con người, nếu không muốn nói là “ngu xuẩn”: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm; chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Mô-sê, và một cho Ê-li-a” (lc 9,33). Phải chăng ông muốn “nhốt” Chúa lại, hay ông chỉ muốn giữ những giây phút lung linh hạnh phúc cho riêng mình? Nhưng Thiên Chúa đâu có cư ngụ trong nhà, nơi con người làm ra (x. Cv 7, 48-50). Vì vậy, chúng ta cần có một thái độ khác, một sự biến đổi khác để vinh quang Chúa được thể hiện không những cho mình mà còn cho cả nhân loại.

Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con vẫn luôn cầu nguyện và cũng áp dụng nhiều phương pháp cầu nguyện, nhưng chúng con lại ngại biến đổi để nên giống Chúa. Nhiều phép xảy ra, nhưng chúng con cho đó là điều hiển nhiên hay khoa học mà không chấp nhận là do Chúa làm. Xin Chúa giúp chúng con biết ngạc nhiên trước những kỳ công Chúa thực hiện mà tuyên xưng lòng thương xót Chúa;  cũng như xin giúp chúng con thiết lập mối tương quan thân thuộc với Chúa với tha nhân để những hành động của chúng con là đem vinh quang Chúa đến cho mọi người. Amen.

Giuse Trịnh Văn Cung, MF

 

1. Biến hình và đổi đời - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Michel Ange và Raphael là hai kiến trúc sư thiên tài, còn là họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất thế giới, đã được Đức Giáo Hoàng Juliô II trao cho nhiệm vụ thiết kế xây cất và trang trí Đại Thánh đường Thánh Phêrô và địện Vatican ở Rôma.

Suy về đề tài Chúa Biến Hình, Raphael đã thực hiện một bức họa có 3 cấp: Cấp trên là Đức Giêsu đứng giữa cụm mây sáng láng, cấp giữa là Thánh Phêrô, Gioan và Giacôbê, cấp cuối là nhóm các môn đệ và dân chúng vây quanh một thiếu nhi bệnh họan đang nằm chờ chết bên cạnh có 2 môn đệ: một môn đệ đang chỉ tay lên Đức Giêsu, môn đệ kia đang chỉ tay vào bệnh nhân” (ĐGM. Althur Tone). Bức họa đã lột được hết ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay là chỉ có Đức Giêsu mới biến đổi những kẻ bệnh hoạn nên lành thánh. Tin Mừng hôm nay đã giới thiệu Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, đang lúc Người cầu nguyện dung nhan Người bỗng biến đổi sáng láng, chói lòa trong vinh quang. Người cầu nguyện để biến đổi ý mình trọn vẹn theo Thánh ý Chúa Cha, Người cầu nguyện cho cuộc tử nạn của Người sẽ phải hoàn tất tốt đẹp tại Giêrusalem và biến cuộc sống ta nên vinh hiển. Người cầu nguyện cho ánh sáng tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần soi sáng cho khắp nhân loại, từ Adam Eva đến Abraham, Maisen, Êlia, từ Phêrô, Gioan, Giacôbê đến những người đang đứng chờ dưới chân núi được sống lại trong vinh quang nước Chúa. Người cầu nguyện nhất là cho các môn đệ và chúng ta biến thành đồng dạng với Con Chúa Cha và biết vâng lời Người: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người”.

Phải vâng lời Người để “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta, nên giống thân thể vinh hiển của Người”.

Phụng vụ lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến sự biến đổi con người chúng ta nên giống con người của Đức Giêsu Kitô nhờ vâng lời Thiên Chúa.

Bài I: Abraham đã được Chúa biến đổi từ dòng dõi con cháu thành U của tà thần, nên tổ phụ công chính của một dòng dõi đông đảo sáng láng như các vì sao trên trời. Nhưng ông phải biết nhận Thiên Chúa là Đức Chúa của ông, phải biết vâng lời Chúa từ bỏ Candê tới đất Chúa chỉ định. Ở đó ông dâng lễ tạ ơn Chúa và đón nhận giao ước của Ngài, nhờ đó Abraham đã đổi đời: từ kẻ thờ tà thần nên tổ phụ dòng dõi thờ Thiên Chúa.

Bài II: Thánh Phaolô bảo dân Philiphê hãy noi gương đổi đời của ông. Ông đã đổi đời từ kẻ hung ác bắt bớ hành hung các tín hữu của Đức Giêsu trở thành tông đồ hăng hái nhiệt tình nhất rao giảng Đức Giêsu. Nhưng còn nhiều kẻ chưa đổi đời như ông, họ vẫn còn thờ cái bụng, thờ cái ô nhục của thế gian. Thánh Phaolô đã thương khóc họ, vì họ sẽ phải hư vong. Ông cầu nguyện cho họ nhận ra quê hương thật ở trên trời để họ mong đợi Đức Giêsu Kitô đến biến đổi họ nên giống Người, sống kết hợp khăng khít vững vàng với Người. Đó là niềm vui và vinh dự thực sự của họ và của Phaolô.

Bài Tin Mừng cho ta thấy rõ sự biến đổi của Đức Giêsu Kitô: từ xác phàm loài người, Đức Giêsu đã biến đổi sang thân xác vinh quang chói lọi. Maisen và Êlia cũng được biến đổi nên sáng láng rực rỡ khi đến gặp gỡ Đức Giêsu.

Maisen từ một thanh niên hèn nhát chạy trốn đã biến đổi thành một vị lãnh đạo vĩ đại của dân Israel, nhờ Thiên Chúa đã kêu gọi ông, dạy bảo ông phải về thương lượng với vua Pharaon để giải phóng dân đang làm nô lệ nhà vua, được trở về đất hứa. Maisen đã nghe lời Thiên Chúa đến gặp nhà vua, ông không còn khiếp sợ vua nữa. Trái lại vua và cả dân Ai Cập khiếp sợ Maisen và thúc giục Maisen mau mau dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập. Nhờ Maisen vâng lời Thiên Chúa, Pharaon đã đổi lòng và cả dân tộc Israel nô lệ được đổi đời làm dân Thiên Chúa.

Êlia cũng biết nghe lời Chúa, đến giáp mặt vua Akhab và hoàng hậu Israel đang lùng bắt ông. Thiên Chúa bảo Êlia bỏ lối sống ẩn nấp giữa khe suối rừng hoang, ông đã vâng lời Chúa đến gặp Akhab. Thoạt thấy ông, Akhab nói: “Đây chính là kẻ giáng họa cho Israel”. Êlia đáp: “Không phải tôi, nhưng là chính ông giáng họa, vì ông đã bỏ lệnh truyền của Thiên Chúa, bây giờ ông hãy triệu tập dân chúng cùng 450 sư sãi thần Baal và 400 kẻ ăn nơi bàn Esabel tại núi Karmel”. Khi dân chúng đến, Êlia nói: “Cho đến bao giờ nữa, các ngươi còn khập khễnh đi hai giò? Nếu Giavê là Thiên Chúa, thì hãy theo Người; nếu là Baal thì hãy theo đi”. Rồi hai bên lập bàn thờ để chứng tỏ đâu là Thiên Chúa thật, 450 sư sãi đặt con bò trên đống củi và khấn thần Baal đem lửa đến thiêu của lễ, họ kêu suốt ngày vô ích. Còn Êlia bảo dân lấy nước đổ đẫm của lễ và đống củi, rồi ông cầu nguyện: “Lạy Giavê xin nhận lời tôi, khiến dân này nhận biết chính Người là Thiên Chúa thật, xin giáng lửa xuống thiêu của lễ với củi và cả đá bụi nữa”. Thấy thế, toàn dân sấp mặt xuống và nói: Giavê chính là Thiên Chúa. Họ đã từ bỏ Baal, đổi đời trở về tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đâu Abraham, Maisen, Êlia, Phaolô và dân Isarel được biến đổi như thế. Tin Mừng trả lời: Họ đã vâng lời Người.

Tất cả những ai muốn biến đổi sáng láng, muốn như Phêrô khao khát được ở trên núi vinh quang rực rỡ thì: “Hãy vâng nghe lời Người”. Mùa Chay chính là thời thuận tiện để chúng ta tập luyện vâng nghe lời Chúa dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng như Gioan, Phaolô và Giacôbê.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biến đổi xác phàm ra xác thánh, đau khổ ra vinh quang, chết ra sống lại vinh hiển vì Người đã vâng lời Đức Chúa Cha. Xin cho con biết vâng lời Người biến đổi con người tội lỗi ra người thánh, đau khổ thành hy sinh, chúng con mới được Chúa cho đổi đời trong ánh sáng Phục sinh của Chúa.

 

2. Cùng bước theo Đức Giêsu

Chúng ta đang bước vào Mùa Chay, Chúa nhật thứ II. Mùa Chay thánh bắt đầu với ngày Thứ Tư lễ Tro. Trong mùa Chay, Giáo Hội muốn chúng ta trở về với Chúa, nhận ra tình yêu và ân sủng Thiên chúa ban cho để chúng ta can đảm và mạnh dạn chạy đến nương náu lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhờ đó, tâm hồn chúng ta bình an và đời sống chúng ta đi trên đường thánh ý Chúa, yêu mến Chúa và yêu thương mọi người.

Con người luôn khát vọng biết về cùng đích của mình. Biết về cùng đích để chúng ta phân định cuộc sống và đưa ra đường lối sống thích hợp cho cùng đích ấy. Mạc khải cho chúng ta biết, chúng ta có quê hương thật là Nước Trời, nơi đó có Thiên Chúa và những người lành hiện hữu. Đó còn là nơi mà chính Con Một Thiên Chúa đã phục sinh, đi vào và mở lối cho chúng ta đi vào. Đó là nơi cùng đích của con người, là nơi con người được mời gọi "tiến vào". Tuy nhiên để tiến vào hưởng hạnh phúc đời đời trong vinh quang của Nước ấy thì trong cuộc sống thế trần này, mỗi người chúng ta phải can đảm chiến đấu với những thử thách trong thế gian, phải chạy cho hết quãng đường trần gian và giữ vững đức tin.

Khi còn sống tại thế, Đức Giêsu đã loan báo con đường khổ nạn và phục sinh. Ngài cho thấy con người chúng ta phải trải qua gian khổ như Ngài rồi mới tiến vào cuộc phục sinh. Sau khi tiên báo cuộc Thương Khó lần thứ nhất (Mt 16, 21; Mc 8, 31; Lc 9, 22) Đức Giêsu biến hình để cho ba tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan thấy vinh quang phục sinh mà Ngài sẽ đạt được. Vì thế, chúng ta khám phá được một sự thật, Mùa Chay không phải là khoảng thời gian chúng ta phải đối đầu với những cám dỗ, hay cũng không phải là khoảng thời gian để chúng ta phải tự buộc mình chịu đựng những sự đau khổ mà không tìm cách tránh né. Mùa Chay đầu tiên là một sự mạc khải về thân phận, về định mệnh, trong tiến trình tự nhiên của con người, và những kinh nghiệm phải có từ ý chí bề ngoài của cuộc sống. Một trong những kinh nghiệm đó chúng ta có được về việc biến hình của Đức Giêsu, trong bài Phúc Âm theo thánh Luca hôm nay.

Thánh Luca diễn tả, đang khi cầu nguyện, diện mạo của Đức Giêsu biến đổi khác thường, diện mạo chói loà hào quang ánh sáng. Nhưng Ngài vẫn là Ngài. Ngài vẫn là Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa. Một quang cảnh huy hoàng của cuộc đàm đạo giữa Đức Giêsu với Môisê và Êlia, đến nỗi khi được chiêm ngắm, các môn đệ đã phải thốt lên: "Lạy Thầy, nếu chúng tôi được ở đây thì tốt lắm. Chúng tôi xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môisê và một cho Êlia" (Lc 9, 33). Họ muốn ở lại nơi họ đã được chứng kiến. Một Thầy trong vinh quang và ân sủng.

Như chúng ta biết, Môisê và Êlia là hai tiên tri Cựu ước, Môisê là người đã được Chúa tuyển chọn để đưa dân Ngài ra khỏi ách nô lệ của nước Ai Cập. Êlia là tiên tri đã được kêu gọi để làm cố vấn cho giao ước, dân Do Thái muốn chối từ những ơn Chúa. Khi đề cập đến biến cố này, các thánh sử nói rằng: ông Môsê và ông Êlia đàm đạo với Đức Giêsu (Lc 9, 33). Đức Giêsu sẽ thực hiện cái chết tại Giêrusalem. Một cái chết không phải là dấu hiệu kết thúc của công trình cứu chuộc, nhưng là một cái chết mở lối cho sự sống lại trong vinh quang trong nước Ngài. Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, sự chết, sự sống lại và lên trời của Đức Giêsu là một, nó được thể hiện cùng một lúc trong biến cố biến hình này. Sự chết trong thân xác hay chết của nhân tính của Đức Giêsu là một sự chuẩn bị cho sự vinh quang vĩnh cửu của một đời sống khác trong thiên tính của Đức Giêsu.

Nhờ Phúc âm hôm nay, chúng ta cùng với Phêrô, Giacôbê và Gioan chứng kiến việc Đức Giêsu biến hình. Từ đó, chúng ta gia nhập vào việc khổ nạn và cuộc Phục sinh của Chúa trong những ngày sắp tới. Chúng ta ý thức rằng sự Chết và Phục Sinh, thập giá và vinh quang là hai mặt của cùng một thực tại cứu độ không thể tách rời nhau. Vinh quang mà không có khổ nạn chỉ là vinh quang của thế tục, sẽ nhạt nhòa theo năm tháng; ngược lại, khổ nạn mà không có vinh quang thì vô nghĩa và là một thất bại hoàn toàn. Do đó, sống tinh thần Mùa Chay có nghĩa là gắn bó chặt chẽ với cái Chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô: chết đi cho con người cũ và tội lỗi, chết đi thói hư tật xấu, chết đi cho con người đối nghịch với Thập giá để cùng sống lại với Đức Kitô, Đấng có thể "biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài" (Bài đọc 2). Chắc hẳn, đây chính là một quá trình đầy gian khổ nhưng cũng tràn ngập vinh quang. Có trải qua gian khó, khổ cực thì mới mong có ngày đạt vinh quang. Để có thể trung thành bước theo con đường Đức Giêsu đã sống và đã vạch ra, người Kitô hữu không thể coi nhẹ hay dửng dưng với tâm tình cầu nguyện. Chính trong giây phút cầu nguyện, chìm sâu trong cuộc gặp gỡ ân tình với Chúa Cha, Đức Giêsu đã đón nhận kế hoạch cứu độ của Cha như lẽ sống của đời mình, đây cũng là lúc Ngài biến hình vinh quang, được tỏ lộ khi Ngài chấp nhận cái chết như một phương thế tuyệt hảo để tỏ lòng vâng phục Cha và yêu thương nhân loại đến nỗi hiến dâng chính mạng sống mình. Vì thế, trong cuộc sống còn lắm vất vả và không hề thiếu vắng những cạm bẫy thử thách, chỉ có sự chuyên cần cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa và nhờ sức mạnh ơn Chúa đỡ nâng, chúng ta mới mong an tâm, không hoang mang sợ hãi nhưng chủ động và mau mắn chu toàn trách nhiệm phải thi hành. Vì thế, quê hương vĩnh cửu khởi đi ngay từ mặt đất nay, ngay hôm nay, trong chính từ cuộc sống này đòi buộc chúng ta phải xây dựng và làm cho phát triển mỗi ngày. Như thế, chúng ta hãy đi theo Đức Giêsu trên con đường khiêm tốn phục vụ anh em và can đảm kiên vững bước theo Chúa trên các nẻo đường đau thương và tử nạn thập giá với Ngài, với niềm xác tín rằng Đức Kitô Phục Sinh sẽ chia sẻ vinh quang cho các tín hữu trung thành.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con can đảm bước theo Chúa đến cùng, trên đường gian khổ của Thập giá và cũng được tham dự vào vinh quang phục sinh với Ngài. Amen.

 

3. Biến hình

Mùa Chay không phải chỉ là thời gian sám hối ăn năn mà còn là thời gian nhận biết bản tính và vận mạng đích thực của chúng ta ở bên kia những sự vật hữu hình, đó chính là ý nghĩa của việc Chúa biến hình hôm nay.

Thực vậy, Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi, trong lúc Ngài biến hình thì các ông có lẽ đang ngủ và câu chuyện hình như xảy ra vào ban đêm. Đêm thường là biểu tượng của sự tối tăm khiến chúng ta không còn nhận ra cách trực tiếp những thực tại siêu nhiên.

Rồi Ngài nói chuyện với Maisen và Elia. Sự hiện diện của hai vị này cũng như câu chuyện trao đổi liên kết một cách mầu nhiệm trong thân phận con người và vinh quang của cuộc đời mai hậu. Điều này chứng tỏ rằng giữa những đau khổ ở đời này, con người sẽ được sống lại và được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.

Sau đó tầng trời mở ra và có tiếng nói: Này là con Ta. Cảnh tượng giống như lúc Ngài chịu phép rửa bên bờ sông Giođan. Vì thế, Chúa Giêsu chịu phép rửa cũng là Chúa Giêsu biến hình. Ngài là người đầy tớ thực hiện ý định của Chúa Cha, cho nên chúng ta phải tin tưởng, lắng nghe và thực thi những điều Ngài truyền dạy.

Sự kiện biến hình trên đây cho chúng ta thấy được ý nghĩa đích thực của con người là phải qua đau khổ và sự chết để được thông phần vinh quang của Thiên Chúa. Đồng thời nó còn là bảo chứng thần linh của con người và sứ mạng của Đức Kitô, thắp lên cho mỗi người chúng ta niềm hy vọng, bởi vì sự kiện trên cho chúng ta thấy được ý nghĩa của mầu nhiệm sự chết và sống lại, cả hai liên kết mật thiết với nhau, vì trong sự chết, chúng ta sẽ tiến tới quê trời, cái chết chính là khung cửa hẹp dẫn chúng ta vào quê hương vĩnh cửu.

Lúc bấy giờ thân xác khổ đau của chúng ta sẽ được mặc lấy vinh quang của Thiên Chúa, như một con sâu cắn chiếc kén để trở thành một cánh bướm xinh đẹp. Sự thay đổi này được thực hiện nhờ vào tâm tình sám hối. Với tâm tình sám hối, thân xác tội lỗi này sẽ được chế ngự và đổi mới bởi đời sống trong ơn sủng và tình thương của Chúa.

Vì vậy, sống sự biến hình là một đòi hỏi hằng ngày của người Kitô hữu. Nói cách khác, từng ngày sống, người Kitô hữu chúng ta không ngừng lột xác, không ngừng đổi mới để được trở nên giống Đức Kitô hơn. Đây cũng là ý tưởng câu thánh Phaolô, ngài nói: Đức Kitô sẽ biến đổi thân xác khốn hèn của chúng ta cho nên đồng hình đồng dạng với thân xác vinh quang của Ngài. Đồng thời ngài rất đau buồn khi nhận thấy có những kẻ sống thù nghịch với thập giá. Hãy góp phần vào sự biến hình của chính thân xác mình bằng cách khử trừ tội lỗi, uốn nắn sửa đổi lại những thói hư tật xấu, để trong ngày sau hết chúng ta sẽ được mặc lấy ánh vinh quang của Thiên Chúa.

 

4. Theo Chúa đến núi Tabor - Nguyễn Hiếu

MINH HỌA LỜI CHÚA

1. Biến hình đổi dạng

Trong cuốn phim “Mặt nạ,” có chuyện cậu Rocky Dentris. Cậu mắc chứng bệnh khác thường. Do đó gương mặt cậu trông thật kinh dị lạ thường, không giống ai. Dù vậy, Rocky vẫn bằng lòng chấp nhận, không bao giờ tủi thân than oán.

Ngày nọ, Rocky đi công viên chơi với bạn. Họ vào nhà kính (nhà có bọc kính xung quanh). Họ nhìn vào kính và cười đùa chế giễu nhau về thân hình và gương mặt của nhau. Bỗng Rocky giật mình trông thấy trong kính gương mặt kỳ dị của cậu đã biến đổi thành một gương mặt đẹp đẽ lạ thường. Đây là lần đầu tiên các bạn của cậu mới thấy con người thực sự xinh đẹp bên trong của cậu được bộc lộ ra bên ngoài.

Câu chuyện đó cũng đã xảy ra cho Chúa Giê-su trong Tin Mừng hôm nay. Lần đầu tiên các tông đồ trông thấy Chúa hoàn toàn mới mẻ, sáng láng đẹp đẽ lạ thường, khiến thánh Phê-rô phấn khởi thốt lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây hay quá!...”

Tại sao cuộc biến hình sáng láng vinh hiển của Chúa Giê-su lại được chọn làm bài Tin Mừng trong Mùa Chay, là mùa buồn sầu ảm đạm, mùa của sám hối, chay tịnh, mà không được xếp vào bài Tin Mừng của mùa Phục Sinh, mùa mừng Chúa sống lại vinh hiển sáng láng?

 

Có hai lý do:

Trước hết, Chúa giúp cho các tông đồ nhận biết giá trị của mầu nhiệm từ thập giá của Người, vì các ông không hiểu, cũng chẳng chấp nhận. Chúa có chết đau khổ mới sống lại vinh quang. Có thập giá mới có ơn cứu rỗi.

Kế đến, Giáo hội chọn đọc bài Tin mừng về cuộc biến hình của Chúa Giêsu trong mùa chay, để cho chúng ta thấy rõ mối dây liên kết chặt chẽ giữa cuộc biến hình với cơn hấp hối của Chúa. Người chịu hấp hối, tâm hồn buồn rầu đến chết được" (Mt.26,38) trong vườn Cây Dầu để được biến hình sáng láng vinh hiển trên núi Ta-bor. Có hấp hối đau khổ mới có ngày biến hình đổi dạng vinh quang. Đó là bài học Chúa muốn dạy các Kitô hữu của Chúa thực hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa Chay. Có "bỏ mình vác thánh giá hằng ngày" mới xứng đáng làm môn đệ, làm con yêu dấu và đồng thừa tự với Chúa Giêsu (Theo "Sunday Homilies").

2. Thập giá Chúa Kitô

Ở Hoa Kỳ, một trong những phi trường quốc tế lớn nhất và đầy đủ tiện nghi nhất là phi trường Pensylvania. Gần phi trường này có một ngôi thánh đường đồ sộ cao vút, nhất là có cái tháp chuông chọc trời, khiến cho mọi người sợ nguy hiểm cho máy bay mỗi khi bay lên đáp xuống. Để giúp mọi người thoát khỏi nỗi lo sợ đó, giáo dân trong xứ đã gắn trên ngọn tháp chuông một ngọn đèn ne-on thật to theo hình thánh giá. Từ đó, mỗi lần bay lên đáp xuống phi đạo, các phi công đều nhắm vào Thánh giá đó như một tiêu chuẩn bảo đảm an toàn chắc chắn...

***

Thập giá Chúa Kitô đã trở thành dấu chỉ của an toàn, của giải thoát, của hy vọng, và của sự sống cho con người. Ai muốn khỏi chết, phải nhìn lên thập giá. Ai muốn được sống, phải nhờ thập giá. Ai muốn được cứu rỗi, phải vác thập giá hằng ngày. Đó là những cuộc biến hình cao quý và cần thiết của mỗi người. (Theo "Như lòng Chúa khoan dung").

3. Cởi bỏ con người cũ

Thời lập quốc, Hoa Kỳ có ra một đạo luật: ai bị bắt quả tang trộm cắp, phải bị hình phạt khắc hai chữ S.T lên trán, để răn dạy mọi công dân. Ngày nọ có hai anh em bị bắt quả tang ăn trộm cừu. Cả hai bị xử phạt khắc hai chữ S.T. lên trán, có nghĩ đây là kẻ ăn trộm.

Một trong hai người anh em đó không chịu nỗi sỉ nhục nên trốn sang vùng đất khác. Nhưng anh không thể xóa đi hai chữ khắc trên trán. Ai nhìn thấy anh cũng tra hỏi ý nghĩa của hai chữ đó. Nhục nhã quá, anh không sống nổi nữa. Anh đã kết liễu cuộc đời mình!...

Ngược lại, người em của anh tự nhủ:

- Dù đi đâu, tôi cũng mang danh là kẻ trộm xấu xa. Tôi vẫn ở lại đây, cương quyết tái tạo lại niềm tin cho mọi người...

Với quyết tâm đó, ngày ngày anh cố gắng sống công bình chính trực, cặm cụi làm ăn sinh sống, không nhờ vả ai cũng chẳng làm thiệt hại ai, mà còn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhất là những người bệnh hoạn cùng khổ chung quanh.

Chẳng bao lâu, anh được mọi người trong xứ mến phục. Nhiều người thấy anh sống công bình bác ái hơn mọi người như thế mà sao trên trán có khắc hai chữ S.T. Họ thắc mắc hỏi một cụ già về ý nghĩa hai chữ đó. Cụ trầm ngâm một lúc rồi đáp:

- Tôi cũng không rõ ý nghĩa của hai chữ đó. Nhưng nhìn vào cuộc sống của anh, tôi nghĩ hai chữ đó có nghĩa là "Thánh thiện".

***

Thế là người em trong câu truyện trên đây đã biết lột xác, thay hình đổi dạng, cởi bỏ con người cũ tội lỗi, mặc lấy con người mới hoàn hảo. Phải chăng đó là tấm gương sáng chói cho chúng ta? Phải chăng đây cũng là một cuộc biến hình sáng láng mà Chúa kêu gọi chúng ta thực hiện hằng ngày, nhất là trong mùa Chay thánh?...

4. Khu ổ chuột ở Ấn Độ

Một đêm nọ, ký giả Trey Ketler đi bách bộ xuyên qua một khu ổ chuột tại thành phố Calcutta, Ấn Độ. Thình lình ông nghe một âm thanh kỳ lạ. Ông quay lại và thấy một cậu bé ăn xin tàn tật đang lết về phía ông. Người ký giả lấy tiền lẻ trong túi và trao cho cậu bé. Không đầy một phút sau, ông lại nghe một cuộc chửi rủa inh ỏi. Ông quay lại, thấy cậu bé ăn xin tàn tật bị đám ăn xin tàn tật khác trấn lột!...

Ngày nọ, một người nữ khác cũng đến khu ổ chuột đó. Bà thấy cảnh quá nghèo khổ của khu này, bà dốc hết những gì bà có biến đổi khu này. Đầu tiên, bà chỉ cất được một phòng học cho trẻ. Tấm bảng là nền nhà, bàn ghếcũng là nền nhà. Ít năm sau tức là năm 1997, khi bà qua đời, khu ổ chuột đã có 100 trường học trang bị đầy đủ: 750 phòng phát thuốc miễn phí, 150 nhà dành cho những kẻ bị bỏ rơi, và trên 40 ngàn thiện nguyện từ khắp nơi đến trợ giúp. Người nữ đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.

***

Phải chăng đó là một cuộc biến hình Chúa dùng con cái Người thực hiện.

Mùa Chay Chúa muốn chúng ta thực hiện nhiều cuộc biến hình như thế. (Theo "Ánh Sáng thế gian")

5. Nhận lỗi

Liszt là một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng khắp nước Hungary vào cuối thế kỷ 19. Nhưng càng nổi danh ông càng bị người ta mạo danh.

Một hôm tại một thành phố bên Đức, một thiếu nữ quảng cáo buổi độc tấu dương cầm và cô ta là học trò của nhạc sĩ Liszt. Nhưng một ngày trước khi biểu diễn, cô hoảng hốt hay tin nhạc sĩ đại tài đó đến thành phố. Như thế sự mạo danh của cô sẽ bị khám phá và tương lai cô sẽ tiêu tan. Nhưng thay vì bỏ cuộc, cô đã can đảm đến gặp nhạc sĩ và thú nhận việc mạo danh của cô. Nhạc sĩ ôn tồn lắng nghe cô và dịu dàng nói:

- Cháu đã phạm một lỗi lầm. Nhưng trong đời không ai tránh được lầm lỗi. Cháu đã biết lỗi và hối hận. Điều đó tốt lắm rồi. Bây giờ cháu hãy biểu diễn thử cho bác nghe.

Cô liền ngồi lên dương cầm, biểu diễn cho ông ta nghe. Nghe xong, ông ta sửa lại những sai sót rồi nói:

- Dù bác dạy cho cháu rất ít, nhưng cháu cũng là học trò của bác. Ngày mai cháu cứ đi trình diễn và loan báo: Bác sẽ trình tấu bản cuối cùng.

***

Cách cư xử của nhạc sĩ Liszt trên đây nhắc chúng ta cách đối xử của Chúa đối với chúng ta. Những vấp váp lỗi lầm của chúng ta luôn được Chúa tha thứ sửa đổi lại cho tốt đẹp. Tất cả những thất bại khổ đau và ngay cả những vấp ngã của chúng ta cũng được Người biến đổi thành những cơ may để mời gọi chúng ta tiến bước theo Người, cùng vác thánh giá theo Người để được cùng Người sống lại vinh quang.

Mùa Chay chính là thời gian đặc biệt để chúng ta thực hiện điều đó.

(Theo "Phút cầu nguyện cuối ngày", tập II).

6. Một cuộc hoán cải lạ lùng

Trong một nhà giam các tù nhân trọng án, có một tù nhân khét tiếng hung ác tên là SITA ĐÊLI (Starr Daily). Anh ta vào tù ra khám nhiều lần vì tội say sỉn đánh lộn làm mất an ninh trật tự xã hội. Trong lần tuyên án thứ năm, quan tòa đã tuyên bố: “Chúng tôi biết rằng có bắt anh ở tù thêm cũng chẳng có kết quả. Phải nói thật là: chúng tôi hoàn toàn thất vọng về anh! Nhưng chúng tôi không thể không tuyên án cho anh. Lần này anh bị phạt tù giam 10 năm”.

Sau khi vào nhà tù, Đêli vẫn tỏ thái độ ngoan cố và còn coi thường kỷ luật nhà tù hơn trước. Anh thường hay đánh đập các bạn tù và phản đối lại cai tù, đến nỗi anh bị biệt giam trong một căn hầm tối dơ bẩn đầy gián hôi và lũ chuột cống... Một hôm, khi đang nằm ngủ trên nền gạch lạnh giá, đột nhiên Đêli nghe có tiếng nói như sau: “Hỡi Đêli, tại sao mi lại bị nhốt riêng trong căn hầm khủng khiếp này? Tại sao mọi người đều thù ghét mi? Tại sao mi không dùng sức khỏe để phục vụ mà cứ tiếp tục làm điều ác chống lại kẻ khác như thế? ”... Tư tưởng này đã đánh động tâm hồn khiến Đêli nhiều phen suy nghĩ. Rồi một đêm kia Đêli đã gặp được Đức Giêsu trong giấc mơ, Đấng mà anh đã xua đuổi ra khỏi cuộc đời anh từ khi mười hai tuổi. Cũng từ đây, hình ảnh của Đức Giêsu thường xuyên xuất hiện trong tâm trí anh. Anh mơ thấy Người đến bên âu yếm nhìn và nói với anh những lời mà anh đã từng thuộc lòng khi còn bé: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng”, “Hãy yêu thương kẻ khác như yêu chính mình ngươi”... Anh cảm thấy tâm hồn được bình an mà từ trước đến nay chưa khi nào được hưởng. Rồi khuôn mặt của những kẻ đã từng bị anh hãm hại lần lượt xuất hiện trong tâm trí khiến anh rất hối hận. Lần đầu tiên, anh đã mở miệng cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13).

Cảm nghiệm ấy đã biến Đêli từ một người hung ác gian tham và thù hận, trở thành một người đầy độ lượng nhân ái! Sự biến đổi nội tâm khiến Đêli không còn la hét đập phá như trước, Các nhân viên cai ngục đã nhận ra có sự thay đổi rõ rệt xảy ra nơi anh, họ cho phép anh được trở lại trại giam thường phạm. Tại đây anh bắt đầu đối xử tốt với các bạn tù: Anh luôn bênh vực những người mới đến, nên dần dần anh được mọi người trong trại quý mến. Rồi anh được giảm án tù từ mười xuống còn 5 năm. Mãn hạn tù, anh gia nhập vào “Nhóm cải thiện chế độ lao tù”. Cùng với cha tuyên úy và các bạn, Đêli đi thăm và động viên các tù nhân còn bị giam và khuyên họ hãy học tập cải tạo tốt. Nhờ đó nhiều bạn tù đã sớm được về đoàn tụ với gia đình. Linh mục Pitơ Mácsôn (Peter Marshall) đã bình luận về sự hóan cải của Đêli như sau: “Đây là một bằng chứng sống động cho thấy: Sita Đêli không chỉ là một người cũ được tân trang lại, nhưng chính là một tạo vật hoàn toàn mới của Thiên Chúa!”

Biến hình lời nói

Biến hình việc làm, lối suy nghĩ

Biến hình tình thương # ghen ghét

Biến hình tránh tội lỗi

Biến hình là năng chịu bí tích nhất là phép giải tội.

Biến hình là không lân la đến dịp tội (LeoV)

 

5. Từ đau khổ đến vinh quang

Chúng ta đang sống trong một xã hội văn minh hiện đại. Thời buổi của một lối sống bị ảnh hưởng bởi nền công nghiệp hóa. Người người tranh nhau chạy để vật lộn với cuộc sống. Do đó, người ta chuộng những gì đó mau lẹ và gọn nhẹ. Ðến nỗi thức ăn người ta cũng chỉ muốn cái gì có liền chứ không cần phải khổ cực nấu nướng nữa.

Dường như tâm thức muốn nhanh lẹ này cũng đã có nơi thánh Phêrô khi ngài và hai vị Tông đồ được cùng với Chúa Giêsu cầu nguyện trên núi. Một sự kiện lạ thường xảy ra lạ thường trước mắt các ông. Ðó là dung mạo của Chúa Giêsu trở nên rực rỡ chói ngời. Trông thấy cảnh vinh quang ấy của Chúa Giêsu, thánh Phêrô đã nhanh chóng không chút e ngại mà thưa rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." (Lc 9, 33)

Thiết nghĩ với lời thưa này, Phêrô chỉ muốn mình và hai vị Tông đồ kia được ở mãi trong tình trạng như thế. Bởi lẽ, đây là tình trạng không còn phải đau khổ nữa. Chúa Giêsu được trở về tình trạng vinh quang như chính Người là. Dầu vậy, vì thương loài người mà Người sẵn sàng sống trong thân phận con người như bao nhiêu con người khác.

Lời phán bảo của Chúa Cha: "Ðây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!" (Lc 9, 35b) là lời nhắn nhủ với ba Tông đồ và cũng là lời nhắn nhủ cho mọi người chúng ta. Muốn đến được vinh quang phải trải qua đau khổ thử thách.

Ông bà chúng ta nói: Dục tốc bất đạt nghĩa là có nhiều chuyện làm trong hấp tấp vội vàng sẽ không mang đến kết quả tốt. Cũng vậy, đối với tình trạng vinh quang cao cả này cần phải có thời gian. Mặc dù, tình trạng vinh quang ấy là tình trạng hiển nhiên của Người nhưng Người vẫn chu toàn tốt sứ mạng cứu rỗi loài người trong sự tiệm tiến.

Cho nên, Chúa Cha đã kêu mời hãy biết vâng nghe lời của Người. Vâng nghe trong sự kiên nhẫn và vâng nghe trong sự noi gương bắt chước cách sống của Người. Nhiều khi trong đời sống đạo chúng ta thường hay đòi buộc Chúa và Giáo hội ban ngay cho mình những điều mình muốn. Ðang khi đó việc hy sinh sống đạo theo lời dạy của Chúa và Giáo hội thì chúng ta bỏ qua. Ði dự lễ thì muốn cho mau lẹ thậm chí bỏ đầu bỏ đuôi. Ðối với các giới răn thì yêu cầu Giáo hội phải nới lỏng cho hợp với thời đại. Ðó là chúng ta thiếu sự hy sinh, thiếu sự đón nhận gian nan đau khổ. Chính những sự hy sinh và đón nhận gian nan đau khổ trong đời sống đức tin sẽ là hành trang cho chúng ta đạt được vinh quang trong Nước Trời.

 

6. Biến đổi

Hãy biến đổi là một chủ đề nổi bật trong toàn bộ Tin mừng. Lời rao giảng trước tiên của Chúa Giêsu khi Ngài đi rao giảng Tin mừng là "Hãy ăn năm sám hối và tin vào Tin mừng" (x. Mc. Ăn năn và sám hối thật sự chính là biến đổi, là chuyển từ tình trạng xấu nên tốt hơn).

Tin mừng hôm nay cũng nói đến một sự biến đổi. Chúa Giêsu biến đổi hình dạng trước mặt các Tông đồ thân tín của Ngài. Chúa đã bày tỏ vinh quang vốn có của Ngài cho các tông đồ thấy để các ông thêm lòng tin mà tiến bước theo Chúa, nhất là khi Chúa đi vào cuộc tử nạn và Phục sinh của Chúa. Chúa biến đổi hình dạng là Chúa đã để cho thiên tính được tỏ bày ra. Và điều đáng chúng ta lưu tâm là khi nhìn thấy thiên tính của Chúa Giêsu được tỏ hiện, các tông đồ đã ngất ngây và say đắm. Tôi thiết nghĩ, chúng ta cũng có chung thái độ như thế nếu chúng ta được diễm phúc nhìn thấy vinh quang của Chúa được tỏ hiện vì đó là phần thưởng mà chắc ta vẫn hằng mong ước: diện kiến tôn nhan Chúa. Chắc chắn chúng ta cũng sẽ được nhìn thấy vinh quang ấy nếu như hôm nay, trong từng ngày sống của chúng ta, chúng ta không ngừng cùng với Chúa biến đổi để làm cho cuộc sống chúng ta nên" hoàn hào như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo". Khi chúng ta làm cho những cái xấu nên tốt, những điều tốt được nên tốt hơn, những cái chưa hoàn hảo nên hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa. Đó là cuộc biến hình mà Chúa đang mời gọi ta và đang chờ đợi ta thực hiện với Chúa.

Cuộc biến đổi đích thật nào cũng đòi hỏi một thái độ độ anh hùng và dứt khoác để chối từ những quyến luyến đang vây kéo chúng ta. Abraham ngày xưa đã rất can đảm khi ông làm cuộc thay đổi trong cuộc đời của ông. Ông đã quyết tình chọn Chúa và theo Chúa dù ông đã cao niên, cơ ngơi đã ổn định... Ông quyết đi theo tiếng Chúa gọi vì ông tin vào Thiên Chúa quyền năng và tình yêu luôn làm điều tốt đẹp cho ông. Khi hành động như thế Abraham sẽ bị người khác cho là kẻ lắm tham vọng và tin hão huyền: bỏ cái đang có, đi tìm cái viển vông; bỏ ruộng vườn và nhà cửa theo ơn gọi để tìm sự vất vả, sống thiếu thốn và khó khăn; lùa đàn vật và dẫn gia nhân vào chốn vô định. Trước mặt Abraham là giải sa mạc mênh mông, đất cày lên sỏi đá... Nhưng vì tin yêu Thiên Chúa, Abraham đã tiến bước ra đi và đã thành công, nêu gương sáng muôn đời cho chúng ta và trở thành người được chúc phúc!

Phaolô cũng làm một cuộc biến đổi ngoạn mục: từng là người hăng say bắt bớ những người tín hữu Chúa Kitô trở thành người sống chết vì Tin mừng của Chúa! Phaolô đã vui vẻ đón nhận thử thách và trung thành đến giọt máu cuối cùng vì Đức Kitô và Thập Giá của Ngài. Phaolô đã được lột xác và biến đổi, một cuộc biến đổi không thể ngờ, thậm chí khó tin nếu nhìn theo khía cạnh loài người.

Lịch sử Giáo hội đánh dấu nhiều cuộc biến đổi lạ lùng, cụ thể:

Một Agustinô: từ say rượu đến say Chúa.

Một Maria Mađalêna: từ gái giang hồ thành thánh và là chứng nhân nhiệt thành cho việc Phục sinh của Chúa.

Một Inhaxiô Loyola: từ trai chinh chiến trở thành đấng lập dòng.

Một Têrêsa Avial: từ kẻ khô khan đến người sốt mến

Một Giakêu: từ người tham lạm, hà khắc trở thành kẻ rộng lượng và khoan nhân...

Đó là công việc của Chúa và con người hợp tác nhờ sức mạnh tình thương của Chúa. Đó là những cuộc canh tân và biến hình đã, đang và còn tiếp tục diễn ra trong lòng Giáo hội. Những điều cụ thể đó đủ chứng minh rằng ơn Chúa luôn tràn trề trong lòng mọi người dù cho họ có thể nào đi nữa, có ở trong hoàn cảnh và tình trạng nào đi nữa! Bất cứ khi nào, con người quyết tâm làm lại cuộc sống, biết đứng lên sau những vấp váp, sau những té ngã thì "Ơn Ta vẫn đủ cho ngươi". Chúa đang ở cùng ta và giúp chúng ta chiến thắng ma quỉ, xác thịt và thế gian nơi cung lòng mỗi chúng ta. Chúa đã nói với chúng ta rằng: "Thầy đã thắng thế gian!" và "Các con đừng sợ!". Chúng ta đừng bao giờ thất vọng về chính mình, nhưng hãy biết can đảm đứng lên làm lại cuộc sống mỗi ngày và nhiệt tâm giúp đỡ những ai đang chán chường vì những thất bại và vấp ngã trên đường đời. Hãy lôi kéo họ đến với lòng thương xót của Chúa để họ được ơn biến đổi và trở thành kẻ chiến thắng thế gian nhờ sứac mạnh của Thánh Thần Chúa.

 

7. Nhìn vào mặt tốt – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Khi Chúa Giêsu tỏ cho các môn đệ biết Ngài phải lên Giê-ru-sa-lem để chịu thương khó và chịu chết, các môn đệ cảm thấy rúng động tâm hồn. Không lẽ cuộc đời của Thầy Giêsu lại kết thúc cách bi đát như thế? Đã bao lần họ mơ tưởng một ngày nào đó được ngồi bên tả bên hữu vua Giêsu trong vương quốc vinh hiển của Ngài, lẽ nào giấc mộng vàng đó lại sớm tan thành mây khói? Nếu Chúa Giêsu mà còn phải chịu số phận oan nghiệt như thế thì số phận các ông rồi sẽ ra như thế nào đây?

Không thể chấp nhận viễn ảnh đen tối ấy, ông Phê-rô kéo riêng Chúa Giêsu ra và lên tiếng trách móc, tìm cách ngăn cản Ngài đừng chấp nhận con đường đau thương ấy (Mc 8, 32).

Để củng cố tinh thần các môn đệ đang sa sút trước tin chẳng lành vừa loan báo, tám ngày sau, Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình lên núi cao để cầu nguyện. "Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia. Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem."

Bấy giờ tinh thần ba môn đệ hết sức phấn chấn "ông Phê-rô thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a."

Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông... Và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!"

Thế là nhờ chứng kiến sự vinh hiển của Chúa Giêsu trong giờ phút vinh quang của Ngài ở đây, ít nữa là có môn đệ Gioan đã vững bước theo Chúa Giêsu đến cùng trên đường khổ nạn.

* * *

Cuộc đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu.

Cuộc đời Chúa Giêsu cũng có mặt sáng mặt tối. Mặt tối là đêm vườn Dầu đau thương ảm đạm, mặt sáng là cuộc biến hình sáng láng trên núi Tabor. Nếu các môn đệ chỉ nhìn thấy mặt đen tối, mặt u ám của đêm vườn Dầu, lúc Chúa Giêsu bộc lộ nhân tính hèn yếu của mình, tỏ ra kinh khiếp hãi hùng trước cuộc khổ nạn sắp tới đến nỗi phải đổ mồ hôi máu và phải van lơn cầu khẩn với Chúa Cha xin cho khỏi uống chén đắng... mà không thấy được mặt sáng của Ngài trên núi Tabor thì các ông sẽ ngã lòng thất vọng. Và biết đâu, các ngài đào tẩu hết, lấy ai làm chứng nhân cho biến cố phục sinh! Lấy ai loan báo Tin Mừng cứu độ?

Vì thế, Chúa Giêsu cho các ông thấy mặt sáng của đời Ngài trước, qua việc tỏ cho các ông thấy dung mạo sáng láng vinh hiển của Ngài, tỏ cho họ thấy Ngài là "Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha, Người được Thiên Chúa Cha tuyển chọn" (câu 35) để động viên tinh thần các ông khỏi sa sút, thất vọng trong đêm vườn Dầu sắp đến.

* * *

Ngôi nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Nếu người ta chỉ nhìn mặt sau của ngôi nhà mà không nhìn mặt tiền của nó, người ta sẽ đánh giá thấp về nó, sẽ thất vọng vì nó.

Tấm huy chương nào cũng có mặt trái mặt phải. Nếu chỉ nhìn mặt trái sần sùi và trơ trọi của tấm huy chương mà không nhìn mặt đẹp của nó, thì chẳng ai thèm nhận huy chương.

Hoa hồng rất đẹp rất kiêu sa nhưng cũng đầy gai. Nếu người ta chỉ chú trọng đến những gai nhọn của hoa hồng mà không để ý đến vẻ đẹp của bông hoa thì thật là đáng tiếc! Nhờ giá trị của những bông hoa hồng đẹp rực rỡ kiêu sa và hương thơm dịu dàng của nó, người ta quên đi những gai nhọn đáng phàn nàn của nó.

Đối với người anh em chung quanh cũng thế. Mỗi người đều có mặt sáng và mặt tối, mặt tốt và mặt xấu, không ai hoàn toàn tốt, chẳng ai hoàn toàn xấu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào mặt đen tối của một con người, mà quên đi mặt sáng của họ, nhìn vào nhược điểm mà quên đi ưu điểm của họ, thì chúng ta sẽ rất thất vọng về người đó. Chúng ta đánh giá người đó chẳng ra gì.

Sự kiện Chúa Giêsu tỏ cho ba môn đệ thân tín thấy mặt sáng láng vinh hiển của Ngài trên núi cao để chuẩn bị tinh thần cho các ông đón nhận mặt đen tối của đời Ngài trong đêm vườn Dầu và đêm khổ nạn, cũng là bài học cho chúng ta trong tương quan với người khác.

Một người dù có bị xem là xấu xa đến đâu chăng nữa cũng có những điểm sáng, những nết tốt tiềm ẩn bên trong. Ước gì chúng ta biết nhìn vào điểm sáng, điểm tốt, nhìn vào ưu điểm của họ để dễ dàng thông cảm với những mặt trái, mặt xấu của họ. Nhờ đó, chúng ta cảm thấy những người quanh ta dễ thương hơn, tương quan của ta với người khác được cải thiện tốt đẹp hơn và đời sống giữa chúng ta với nhau sẽ hạnh phúc hơn.