Chúa Nhật 21/06/2020 – Chúa Nhật 12 Thường Niên năm A

Lời Chúa: Mt 10, 26-33

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà.

"Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn: Các con hãy sợ Ðấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến.

Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần. "Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời".

 

SUY NIỆM

1. Anh em đừng sợ

Nỗi sợ cứ quấn lấy đời người.

Đứa bé sợ xa mẹ, cô gái sợ già, người già sợ chết.

Nỗi sợ xuất hiện dưới muôn ngàn dáng vẻ.

Sợ cô đơn, sợ bệnh tật, sợ phụ bạc, sợ tương lai.

Sợ thất nghiệp, sợ nghèo đói, sợ thất học, sợ chia ly...

Có những nỗi sợ mang tính đạo đức:

sợ phải sống theo lương tâm, phải làm chứng cho sự thật,

sợ trước sự ác đang hoành hành, sợ tôn giáo bị mai một...

Có khi người ta sợ nhau:

người da đen sợ người da trắng, nước nghèo sợ nước giàu,

bạn bè, anh em, hàng xóm cũng sợ nhau.

Lắm khi chúng ta sợ Chúa, không như con sợ cha,

nhưng như một nô lệ trước một ông chủ khó tính.

Nỗi sợ cứ quấn lấy đời người.

Nỗi sợ làm người ta mất vui, mất bình an và tự do.

Bởi thế Đức Giêsu khuyên các môn đệ đừng sợ.

Đừng sợ người đời, cứ mạnh dạn nói Lời Chúa (c.27).

Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác thôi (c.28).

Đừng sợ vì chúng ta có giá trị trước mặt Chúa (c.23).

Lắm khi Đức Giêsu đến với các môn đệ mà họ lại sợ hãi, tưởng là ma (Mt 14,27; Lc 24,37).

Nhưng sợ hãi cũng là chuyện bình thường của phận người.

Có ai làm người mà không một lần sợ hãi.

Đức Giêsu khuyên các môn đệ đừng xao xuyến (Ga 14,1)

nhưng chính Ngài cũng xao xuyến trước cuộc khổ nạn.

Tin Mừng Gioan hai lần nhắc đến điều đó (Ga 12,27; 13,21).

Đức Giêsu xao xuyến đến tột cùng trong Vườn Dầu:

"Tâm hồn Thầy buồn đến chết được" (Mt 26,37-38),

và có lẽ Ngài cũng bị xao xuyến trên thập giá:

"Lạy Chúa tôi, tại sao Chúa bỏ tôi?" (Mt 27,46).

Sợ hãi, xao xuyến không phải là một tội.

Kitô hữu không phải là người không biết sợ,

hay không dám khiêm tốn thú nhận là mình sợ.

Nhưng họ là người không để nỗi sợ chi phối đời mình,

không vì sợ mà không dám sống cho chân lý.

Đức Giêsu nói tiếng Xin Vâng ngay trong lúc sợ hãi

và đã uống cạn chén đắng Cha trao.

Con người hôm nay an toàn nhờ đủ thứ bảo hiểm,

nhưng bảo hiểm cũng bắt nguồn từ nỗi sợ cái bất trắc.

Mỗi người chúng ta đều có nỗi sợ riêng.

Cần đối diện và vượt qua bằng lòng tín thác, để rồi được an tĩnh và tự do.

Chỉ thắng được nỗi sợ nhờ niềm tin vào Thiên Chúa.

Ngài là Cha chúng ta, chăm lo đến từng sợi tóc cho ta,

và chúng ta có giá trị lớn lao trước mặt Ngài.

Chỉ thắng được nỗi sợ nhờ tin vào đời sau.

Cái chết thân xác không là dấu chấm hết của đời người.

Cuối cùng, chỉ thắng được nỗi sợ nhờ tin vào Đức Giêsu,

Đấng không bị sợ hãi nuốt chửng và đã đi tới cùng.

Đấng phục sinh vẫn mời gọi chúng ta hôm nay:

"Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33).

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn thấy người trẻ hôm nay sợ điều gì hơn cả? Để thắng vượt nỗi sợ cần làm gì? Cầu nguyện thôi, có đủ không? Cố gắng thôi, có đủ không?

Chấp nhận sống ơn gọi Kitô hữu là chấp nhận thiệt thòi ở đời này. Có khi nào bạn đã muốn chọn thiệt thòi để nói lên hay sống một chân lý của Đức Kitô không?

Cầu Nguyện

Lạy Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện:

Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi mọi biển lận tầm thường.

Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.

Xin cho tôi sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.

Xin cho tôi sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.

Xin cho tôi sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.

Và cho tôi sức mạnh tràn trề để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn. (R. Tagore)

 

2. Tuyên xưng Thầy trước thiên hạ - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

Bộ sách Thủy Hử Trung Quốc được chuyển thành phim nhiều tập. Các đài truyền hình Việt Nam đã trình chiếu nhiều lần. Tác phẩm bất hủ này đã tuyên dương 117 vị anh hùng hào kiệt Lương Sơn Bạc. Người anh hùng nổi tiếng nhất là Tống Giang, còn gọi là Tống Công Minh, xuất chúng về đạo đức, công minh, phục vụ chính nghĩa, nhưng bị nhiều quan lại tham ô, gian hùng, ghen ghét, hãm hại. Tống Giang võ nghệ cao cường, sức địch muôn người mà vẫn cam chịu cổ đeo gông, tay mang xiềng xích, đi theo lệnh hai tên công sai áp tải, giải đi lưu đầy. Ông đã chứng tỏ tinh thần thượng tôn pháp luật, dù đó là án lệnh bất công của kẻ nịnh thần bất chính của vua mù quáng nhu nhược.

Phải chăng, phải trải qua bao nhiêu cực hình bất công dưới thời nhà Tống, 117 vị anh hùng đã tuyên dương chính nghĩa thương dân, ái quốc và chứng tỏ chính nghĩa luôn luôn thắng gian tà. Kẻ công chính mãi mãi được lòng dân mên phục, dẫu không thành công, nhưng đã thành nhân, quân tử.

Trước Tống Giang gần ngàn năm, ngôn sứ Giêrêmia đã can đảm tuyên dương chính nghĩa cứu nhân độ thế của Thiên Chúa, bất chấp cực hình của bọn gian ác, tham quyền cố vị hãm hại ông. Suốt ngày, Giêrêmia bị coi là thứ trò hề cho họ nhạo báng, xỉ nhục, đến nỗi ông phải kêu lên: Ôi hành hung, ức hiếp… nhưng Thiên Chúa đã ở với ông như tướng quân oai hùng (Gr. 20, 7-8). Nhờ thế ông càng tin tưởng vững mạnh, cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa … Ông tiếp tục công bố sứ điệp của Thiên Chúa vừa bằng lời nói, vừa bằng đời sống.

+ Bằng lời nói: Ông nói những gì ông đã nghe Thiên Chúa phán, ông kêu gọi mọi tầng lớp Vua quan, đảng phái, dân chúng từ bỏ đường lối gây hấn, hận thù, từ bỏ liên minh với Ai Cập, với tà thần, trở về với Thiên Chúa thì mới được Thiên Chúa giải thoát dân tộc khỏi nô lệ diệt vong.

+ Bằng đời sống: Ông sống cô đơn, bị ruồng rẫy, bị bỏ rơi, một hình ảnh Thiên Chúa bị bỏ rơi. Ông tự đeo gông vào cổ, xiềng xích vào tay để cảnh giác họ đang bị gông cùm nô lệ của ngoại bang (Gr. 38, 6). Vì thế ông đã bị kết án bỏ tù xuống giếng, chìm sâu trong bùn lầy (Gr. 27, 2)

Dưới giếng sâu bùn lầy, ông còn loan báo cho dân tộc, nếu không bỏ đường lối lầm lạc đó, họ sẽ bị lưu đầy trong ô uế, nhơ bẩn hơn ông ở dưới giếng sâu. Còn ông, ông nói: “Thiên Chúa đã siêu độ tôi khỏi âm phủ, cứu sống tôi thoát phận những kẻ xuống mồ” (Tv. 30, 4)

Khi Đức Giêsu sai các môn đệ đi công bố những điều Người dạy, Người đã thấy những cực khốn mà những chứng nhân cho chính nghĩa phải chịu như Giêrêmia. Người đã khuyên các ông: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diêt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”. Đừng sợ vì Cha anh em đã lưu ý đến cả những con chim sẻ chẳng đáng giá gì, cả từng sợi tóc trên đầu anh em, Chúa đã dựng nên, săn sóc, nuôi dưỡng, bảo tồn mọi thứ hèn mọn, nhỏ bé như thế, huống chi đối với anh em, “anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”, lẽ nào Ngài không săn sóc, bảo vệ, hướng dẫn, lo lắng cho anh em sao?

Đức Giêsu đã đưa ra những chứng cứ cụ thể mà Thiên Chúa đã làm cho muôn loài, muôn vật được sinh sống tốt đẹp, để thúc đẩy các môn đệ và chúng ta tin tưởng mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Có lòng tin mạnh mẽ mới can đảm chiến thắng những đe dọa, những cực khổ tạm bợ ở đời này. Thiếu lòng tự tin vào Thiên Chúa sẽ không thể sống công minh, không thể hy sinh cho chính nghĩa, không thể tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, không dám rao giảng Tin mừng cứu độ muôn dân. Tin mừng của Thầy là sự thật, thế gian sống gian dối, không muốn sống trong sự thật. Tin mừng của Thầy là sự sáng, thế gian sống trong tối tăm, không tiếp nhận ánh sáng vì họ sợ những hành động đen tối bị phơi bày. Tin mừng của Thầy là tình yêu, thế gian sống chia rẽ hận thù, không thể yêu thương kẻ thù. Tin mừng của Thầy là cứu độ, thế gian lại chỉ muốn hãm hại, tranh dành nhau, chém giết nhau để chiếm của cải, danh vọng.

Ai cam đảm theo chính nghĩa, theo Thầy, “tuyên bố Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”.

Ai theo bất chính, bất nhân, sợ không dám theo Thầy, “chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”.

Để giáo đoàn Rôma và chúng ta chọn lựa theo Đức Giêsu Kitô hay theo Adam, tuyên bố nhận Đức Kitô hay nhận Adam, Thánh Phaolô đã chỉ cho thấy: Ai theo Adam, tuyên nhận Adam kẻ bất chính, kẻ tội lỗi đã gây nên sự chết đã đem tội lỗi và sự chết xâm nhập vào trần gian, thì sẽ bị sự chết thống trị.

Ai theo Đức Giêsu Kitô, tuyên nhận Đức Kitô, thì nhờ Đức Kitô, được dồi dào ân sủng của Thiên Chúa ban biết mấy.

Mỗi khi được xem những trận bóng đá thế giới (World Cup), chúng ta thấy nhiều cầu thủ nổi tiếng làm dấu Thánh giá khi chạy vào sân banh và sau khi đá được trái banh vào lưới. Họ đã làm dấu Thánh giá để tuyên bố nhận Đức Giêsu trước mặt thiên hạ. Còn chúng ta, chúng ta có mạnh mẽ tuyên bố nhận Đức Giêsu trước mỗi việc làm, mỗi cuộc họp, mỗi bữa ăn trước mặt thiên hạ không?

“Lạy Chúa Giêsu, Người đã khuyến khích con đừng sợ khi phải tuyên xưng đức tin. Xin cho con can đảm không bao giờ đỏ mặt xấu hổ khi rao giảng Tin mừng. Xin giúp con vui vẻ chấp nhận những hiểu lầm, những thử thách, những cực khổ hãm hại vì danh Chúa. Amen”.

 

3. Đừng sợ - Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ

Đức Yêsu hôm nay dạy các tông đồ đừng sợ gì và đừng sợ ai. Đức Yêsu không chỉ dạy bằng lời, nhưng Ngài đã sống thái độ tự do này, Ngài không sợ gì ngay cả những người quyền thế muốn tiêu diệt Ngài. Đức Yêsu muốn Kitô-hữu có thái độ tự do của con cái Thiên Chúa như Ngài.

1. Trong cuộc sống người ta sợ nhiều điều

Sợ là một giữa những cảm xúc của con người, là một trong “thất tình”: hỉ (vui mừng), nộ (tức giận), ái (yêu thương), ố (ghét), ai (buồn sầu), dục (ham muốn), cụ (sợ).

Có người sợ sâu bọ, rắn rít, chim chuột. Có người sợ khổ, sợ nghèo, sợ vất vả, sợ chết, sợ bệnh tật. Có người sợ dư luận, sợ người ta nghĩ xấu về mình, sợ người ta chê mình dở, sợ bị tiết lộ tật xấu hay tội lỗi của mình. Có người sợ làm phiền người khác, sợ mang ơn người khác, sợ làm khổ người khác. Chưa hết, có người còn sợ bị tình phụ, sợ không còn được thương, không còn được kính trọng nữa. Có người sợ bị hiểu lầm mà mất tiếng tốt. Có những người sợ phạm tội, sợ sa hoả ngục, sợ ma qủy.

Lo sợ, cũng là chuyện “thế gian thường tình”. Tuy nhiên, có những người sợ điều này điều kia tới mức độ mất ăn mất ngủ, mất bình an, tới mức độ như thể bị tê liệt.

2. Chấp nhận sự thật giúp con người thoát sợ

Với những người sợ sâu bọ rắn rít, có thể có một lý do tâm lý nào đó. Nếu đúng như vậy, chuyên viên tâm lý có thể giúp người ta thoát khỏi điều này.

Về những người sợ ma qủy, sợ sa hoả ngục, sợ phạm tội một cách thái quá, một ý kiến cho rằng có lẽ những người này chưa biết và chưa cảm nhận sâu xa Thiên Chúa Tình Yêu. Dĩ nhiên là ma qủy uy lực hơn con người, nhưng Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người vô cùng, Ngài không để ma qủy làm hại con người. “Nếu Thiên Chúa phò ta, ai còn chống lại được ta?” Một người quá sợ phạm tội và sa hoả ngục, là vì họ chưa hiểu biết và chưa tín thác vào Thiên Chúa tình yêu. Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người vô cùng, Ngài tạo dựng con người để con người được chia sẻ hạnh phúc với Ngài. Chỉ khi con người cố tình từ chối tình yêu thương của Thiên Chúa, họ mới phải sa hoả ngục. Hoả ngục là do họ cố tình chọn. Hoả ngục không là nơi con người lầm lỡ mà Thiên Chúa đẩy con người vào đó không thương xót. Phạm tội, là hành vi tự do của mỗi người. Nếu tôi không muốn, tôi không phạm tội. Nếu do yếu đuối, thì Thiên Chúa yêu thương cũng tha thứ lỗi lầm cho con người. Nếu con người cảm nhận Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người vô cùng, con người sẽ sống trong an bình.

Có những người sợ nghèo khổ, sợ bệnh tật, sợ chết, sợ bị người ta hiểu lầm hoặc nghĩ xấu cho mình, sợ phải mang ơn người khác, sợ mất người yêu. Họ như vậy, có lẽ vì họ ích kỷ, họ nghĩ đến họ quá nhiều. Họ không dám sống cho tha nhân, ngay cả  khi tha nhân là những người thân yêu của  họ. “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống vì Đức Kitô, thì sẽ được lại sự sống”. Đây có thể là những người làm cha làm mẹ không sẵn sàng hy sinh cho con cái, nhưng lại bắt con cái hầu hạ mình; đây cũng có thể là những người chồng người vợ không biết sống vì người yêu mà bắt người kia phục vụ mình; đây cũng có thể là những người con “một mẹ nuôi được năm con, nhưng năm con không nuôi được một mẹ”.

“Không có gì kín mà không bị lộ”. Với những người lo sợ lỗi lầm của họ bị đưa ra ánh sáng, họ nên ý thức rằng dù che đậy đến thế nào, vào ngày phán xét, tất cả những gì con người làm cũng sẽ được phơi bày. “Ai trong các ngươi vô tội, hãy cầm đá mà ném chị này trước đi”. Nếu ai cảm thấy mình có tội, họ nên biết rằng, lòng thống hối thật, hàm chứa thái độ chấp nhận sự thật về chính mình, sẵn sàng chấp nhận việc đền tội “bị công khai hoá”, sẽ giúp người đó tìm được bình an. Không dám chấp nhận sự thật về con người của mình, sẽ làm người đó mất bình an, và đôi khi còn thúc đẩy người đó tội phạm lớn hơn. Thí dụ, vua David ngày xưa muốn phủ lấp tội lấy vợ của bầy tôi, và khi không thành công trong việc che đậy tội này bằng việc dụ Uria về nhà thăm vợ, David liền tìm cách giết Uria qua tay của quân thù. Chấp nhận sự thật về chính mình, là thái độ rất quan trọng để sống trong tình nghĩa với Chúa, để sống bình an và hạnh phúc với tha nhân. Trong mọi trường hợp, con người cần cảm nhận Thiên Chúa là tình yêu. Ngài tha thứ mọi lỗi lầm của con người, và giúp con người sống bình an hạnh phúc trong tình yêu của Ngài.

3. Phó thác đời mình cho Thiên Chúa Tình Yêu

Tiên tri Yêrêmia được trao sứ mạng nói cho dân Chúa biết những gì sắp xảy tới, để họ thống hối và trở về với Thiên Chúa. Dĩ nhiên điều tiên tri loan báo không phải là điều dân chúng thích nghe, vì đó là những tai họa sắp xảy tới. Tiên tri cũng lo sợ vì khi loan báo như vậy, tiên tri bị dân chúng ghét và có thể bị giết. Đã có lúc tiên tri bỏ cuộc vì sợ, nhưng Thiên Chúa vẫn trung thành mời gọi, và cuối cùng tiên tri đã phó thác tất cả đời ngài trong tay Thiên Chúa. Yêrêmia trở thành dụng cụ Thiên Chúa dùng, trở thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện cho dân. Khi một người phó thác tất cả mạng sống và tương lai mình trong tay Thiên Chúa tình yêu và toàn năng, họ được tự do và bình an. Sự tự do và bình an này không ai có thể lấy mất được.

Để thi hành sứ mạng Đức Yêsu trao phó, các tông đồ cũng phải tin tưởng và phó thác tương lai đời mình cho Thiên Chúa. Quên mình, bỏ mình, để sống cho Thiên Chúa và tha nhân, sẽ làm con người vượt thắng được mọi sợ hãi.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Bạn có sợ điều gì hoặc ai không? Nếu được xin chia sẻ.

2. Sâu xa trong lòng bạn, tại sao bạn sợ điều đó hoặc người đó?

3. Làm sao để hết sợ? Làm sao để an bình và hạnh phúc? Đức Yêsu giúp gì cho bạn?

4. Niềm tin vào Thiên Chúa giúp gì cho bạn?

 

4. Đừng sợ hãi

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Một mục sư nọ có kể câu chuyện sau: hai người bộ đội chạy vào một giáo đường để trốn các cuộc truy lùng. Khi bước vào giáo đường, họ đe doạ: “Ai không bỏ đạo sẽ bị bắn ngay tại chỗ, ai bỏ đạo đứng sang bên phải”. Có một số người đứng sang bên phải và được thả về nhà ngay. Những người còn lại vẫn hiên ngang chờ đợi cái chết. Khi những kẻ nhát đảm ra khỏi nhà thờ, hai người lính mới hạ súng xuống và ôn tồn nói: “Chúng tôi cùng là Kitô hữu, sở dĩ chúng tôi làm như thế là vì chúng tôi muốn biết ai là người thật sự sẵn sàng chết cho đức tin của mình. Vì chỉ có những người đó mới đáng tin cậy”.

Anh chị em thân mến,

Sống đức tin có nghĩa là sống cho Đức Kitô và vì Đức Kitô. Đó là đức tin được minh chứng bằng cuộc sống can đảm, không sợ tuyên xưng trước mặt người đời, như Chúa Giêsu đã nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Anh em đừng sợ người ta… Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn… Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”.

Tin Mừng hôm nay là một phần của diễn từ về sứ vụ truyền giáo, trong đó Chúa Giêsu tiên báo cho các môn đệ về những bách hại đang chờ đợi. Chắc chắn các ông không tránh khỏi lo âu xao xuyến. Hiểu rõ tâm trạng của các ông, Chúa Giêsu đã đưa ra những hình ảnh để các ông so sánh: hình ảnh về người Thầy, Thầy đã bị ngược đãi, thì môn đệ cũng không tránh khỏi. Bị ngược đãi sẽ làm cho môn đệ khiếp sợ, nhưng cũng khiến họ vui mừng, vì là dấu cho thấy họ được nên giống Thầy, đang bước đi trên con đường của Thầy. Cũng vì thế, chẳng có gì khiến họ không dám rao giảng công khai: “điều nghe trong bóng tối, hãy nói ra nơi ánh sáng; điều nghe rỉ tai, hãy rao trên mái nhà”. Các môn đệ không phải sợ hãi, vì công việc họ làm đang được Đấng có quyền trên cả xác lẫn hồn quan tâm. Ngài còn để ý tới chim sẻ ngoài đồng, đến sợi tóc trên đầu, huống nữa là con người đã được tạo dựng nên giống hình ảnh Ngài.

Thưa anh chị em,

Hình ảnh được trưng dẫn cho các môn đệ cũng là hình ảnh Chúa Giêsu muốn gởi đến cho các kẻ tin theo Ngài ngày hôm nay. Ba lần Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Đừng sợ!”Ngài không nói đến cái sợ chung chung. Ngài nói về một loại sợ đặc biệt mà người Kitô hữu cảm thấy khi được mời gọi nói hay làm điều gì tỏ ra mình là người tin theo Chúa Kitô. Chúng ta thường do dự nói những lời giống như Chúa Kitô, làm như Chúa Kitô, vì chúng ta sợ người khác chê cười, châm chọc, sợ bị gọi là người lên mặt đạo đức, sợ mất bạn bè, mất ghế ngồi, mất nồi cơm, thậm chí bị trù dập, bị ngược đãi. Nhìn vào hiện tình Giáo Hội, có lẽ nhiều người muốn thúc thủ an phận: bảo vệ ngọn đèn đức tin của bản thân còn khó khan, huống chi là nói đến chiếu giãi đức tin cho kẻ khác.

Sử gia Tertullianô đã viết: “Những người tin theo Chúa Kitô được mệnh danh là Kitô hữu. Kitô hữu nghĩa là thuộc về Chúa Kitô, nên họ đã và phải có một tâm tình như Chúa Kitô. Họ không sợ chết. Họ không sợ hình khổ. Họ không sợ bách hại, bởi vì họ đã đi cùng một đường với Chúa Kitô. Lời Chúa nói: “Ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mình mà theo Thầy”đã thấm nhập vào tâm hồn các Kitô hữu, nên mỗi khi phải đau khổ cũng như bị bách hãi, cấm cách, lời nói đó lại văng vẳng bên tai như chính Chúa Kitô hiện diện nói với họ. Vì thế, trên pháp trường, họ coi gươm giáo nhẹ như lông hồng, coi lý hình như bạn hữu. Họ chỉ sợ một Thiên Chúa, Đấng sẽ phán xét họ, nếu họ đi trệch đường, nếu họ chối bỏ Chúa. Họ đã hưởng ứng Lời Chúa: “Anh em đừng sợ kẻ chỉ giết chết thân xác, nhưng phải sợ Đấng có quyền giết chết cả xác lẫn hồn”.

Cái phi lý của con người ngày nay là chỉ sợ loài người mà không sợ Thiên Chúa. Người có đức tin vững mạnh có thể chấp nhận hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ chấp nhận làm điều xấu, trái ngược lương tâm, hay phạm tội ác. Họ không sợ một thân xác tàn phế, họ chỉ sợ một lương tâm hoen ố, nhơ bản. Họ không sợ loài người trả thù, họ chỉ sợ Thiên Chúa trừng phạt. Ngày nay, tuy chúng ta không có dịp hy sinh mạng sống để chứng mình lòng tin như các Thánh Tử Đạo ngày xưa. Nhưng chúng ta có hàng trăm dịp để chúng ta liều mạng, bảo vệ lòng liêm khiết, thực thi công bằng và tình bác ái yêu thương.

Ngày nay, nhiều người Kitô hữu còn bị cám dỗ chối bỏ Chúa một cách tế nhị hơn: Phải chăng là một cách chối bỏ Chúa khi im lặng sống trong một xã hội đầy bất công, tham nhũng, hưởng thụ; một xã hội muốn loại bỏ tôn giáo ra ngoài hay lợi dụng tôn giáo để bênh vực một ý thức hệ phản lại Tin Mừng? Im lặng trong những trường hợp ấy là đồng loã. Hãy can đảm hành động. Vì mệnh lệnh của Chúa Giêsu không hạn chế trong bất cứ hoàn cảnh nào và lời hứa của Ngài cũng không gì làm thay đổi. Có mạnh dạn tuyên xưng Chúa trước mặt người đời, thì mới được Ngài tuyên xưng trước mặt Cha Ngài, Đấng ngự trên trời. Bách hại làm cho những kẻ theo Chúa Giêsu phải đau kho, nhưng đó lại là những cắt tỉa cần thiết để trổ sinh nhiều hoa trái.

Anh chị em thân mến, nếu có những lúc chúng ta lo sợ không muốn đón nhận sứ mạng Chúa trao, xin cho chúng ta biết rằng có thể chúng ta trốn chạy được lúc này, nhưng không thể trốn chạy luôn mãi. Đến lúc diện kiến Chúa, chúng ta sẽ trả lời thế nào về những lần đã chối bỏ Chúa trước mặt người đời? Xin cho chúng ta nhận ra dấu chỉ quan tâm của Chúa để vững mạnh tuyên xưng Danh Thánh Ngài.

Giờ đây, chúng ta sắp được hiệp thông với Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể. Ngài là sự sống của chúng ta. Chúng ta không có gì phải sợ hãi những khó khăn và các vấn đề của cuộc sống hằng ngày. Chúa Kitô mạnh thế hơn, Ngài không bao giờ chối bỏ những kẻ nhận Ngài trước mặt người đời. Ngài cũng sẽ nhận chúng ta trước mặt Cha Ngài, Đấng ngự trên trời.

 

5. Đừng sợ

Có một y sĩ đã phát biểu rằng:”Lo sợ là một điều rất tai hại và phá hoại nhiều hơn cả”. Trong quan điểm của vị y sĩ này thì lo sợ là kẻ giết người. Bởi vì sợ hãi giết chết niềm tin, niềm hy vọng và sự lạc quan làm cho con người tê liệt và tự hủy hoại chính mình.

Các nhà tâm lý học đã nói nhiều về sự lo sợ, nhưng không ai tìm ra nguồn gốc của nó. Về điều này kinh thánh cho chúng ta biết: Khi Adong, con người đầu tiên lỗi lệnh truyền của Chúa, ông đã lo sợ và đi ẩn mình. Kể từ đó sự lo sợ cứ ám ảnh mãi trong dòng giống loài người. Nhưng thật vui mừng cho nhân loại là Adong thứ hai đã xuất hiện, đó là Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế. Thánh Phaolô đã viết:”Chúa Giêsu là Adong thứ hai, nghĩa là một khởi đầu mới. Nhân loại lầm lạc vì Adong thứ nhất. Nhưng Chúa Giêsu đến để cứu chuộc và lập lại một dòng giống mới. Và Chúa Giêsu không ngừng mời gọi mọi người “Đừng sợ”. Chẳng hạn như bài Tin mừng hôm nay, có tới ba lần Chúa nói đừng sợ.

Phản ứng tự nhiên của con người trước khó khăn, bách hại, là lo sợ. Chúa Giêsu khuyên các tông đồ can đảm làm chứng cho Ngài, và Ngài khuyên họ đừng sợ. Đừng sợ những kẻ vu oan, vì không có gì ẩn khuất mà không bị lộ, trung thành với sự thật đôi khi cũng khiến chúng ta phải trả giá, có khi bằng chính mạng sống của mình, Chúa Giêsu cũng nhắc chúng ta đừng sợ những kẻ chỉ có thể làm hại thân xác, mà không thể giết được linh hồn. Thân xác có thể bị thiệt thòi, nhưng linh hồn sẽ không hề hấn gì, nếu chúng ta vững tin vào Chúa. Lần thứ ba Chúa nhắc chúng ta đừng sợ là vì chúng ta quí trọng hơn nhiều, nếu Thiên Chúa đã chăm lo cho chim sẻ ngoài đồng, thì huống hồ là con người. Ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương chăm sóc, chúng ta sẽ dấn thân nhiều hơn để làm chứng cho Chúa.

Nếu chúng ta hỏi bất cứ ai: họ sợ gì? Hết thảy đều sẽ trả lời giống nhau: sợ bệnh tật, sợ mất tài sản hoặc việc làm, sợ sống một mình, sợ mất tiếng tốt, sợ gặp tai nạn, sợ bị xa cách người thân, sợ chết… Những mối lo sợ đó là chính đáng, bởi vì chúng ta có thể làm chúng ta bị tổn thương, hoặc cướp mất của chúng ta những gì chúng ta sở hữu, hoặc làm cho chúng ta nên yếu kém, tàn tật, hoặc làm chúng ta không còn sống ở trần gian nữa…

Nhưng có nhiều điều đáng lẽ phải làm cho người ta sợ, nhưng người ta lại không để ý hay không sợ, chẳng hạn chúng ta hỏi người ta: có sợ không mến Chúa yêu người đủ không? Có sợ không chia sẻ tài sản của mình đủ không? Có sợ đã không coi Tin mừng là quan trọng đủ, đã không cầu nguyện đủ, đã không nói đủ về Chúa Giêsu không?... Có lẽ những người được chúng ta hỏi như thế sẽ tỏ ra rất ngỡ ngàng. Thường những cái sợ như vậy không hề xảy ra trong tâm trí họ.

Chúng ta thường sợ những điều không đáng sợ và không sợ đủ những gì đáng lẽ thực sự phải làm cho chúng ta sợ. Làm cho chúng ta sợ! Nói như thế hẳn là không đúng, vì Chúa Giêsu không muốn chúng ta sống trong sợ hãi, nhưng sống trong sự tin tưởng sâu xa vào tình thương của Ngài.

Có người đã cố công tìm những chi tiết trong Kinh thánh và đã đếm được 365 tiếng “đừng sợ” trong toàn bộ Kinh thánh. Như thế là mỗi ngày trong một năm chúng ta đều được kêu gọi và nhắc nhở đừng sợ. Sống ở đời có lẽ ai trong chúng ta cũng đã có nhiều lần trải qua một nỗi lo sợ nào đó hay kinh qua những giờ phút đen tối trong cuộc sống. Bởi vì cuộc đời này luôn có những cam go, gian truân, thử thách, nguy hiểm, đau thương… Đứng trước những hoàn cảnh như thế, ai cũng lo lắng, sợ hãi. Lắm khi chúng ta giống như những con chim non, ngỡ ngàng sợ hãi trước bổn phận làm người, trước ơn gọi làm Kitô hữu. Nhưng Chúa Giêsu không ngừng mời gọi chúng ta đừng sợ. Chúng ta không sợ vì chúng ta tin rằng bên cạnh chúng ta luôn có Đấng phù trợ che chở. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương luôn quan tâm săn sóc chúng ta. Với niềm tin đó sẽ giúp chúng ta có thái độ lạc quan hơn trước cuộc sống và bình tĩnh để đối phó với những khó khăn thử thách. Nếu niềm tin không đem lại cho chúng ta sự an bình, thanh thản thì đó là dấu chỉ cho thấy niềm tin của chúng ta chưa mạnh mẽ đủ, chúng ta phải xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta.

 

6. Đừng Sợ - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Trên đời con người có nhiều thứ bủa vây, một trong những thứ đó là cái “sợ”. Càng văn minh con người càng có nhiều nỗi sợ mới. Nỗi sợ làm người ta mất tự do, mất bình an, mất vui… Nỗi sợ có vẻ gắn liền với sự mong manh của phận người. Người ta sợ nhiều thứ: sợ đau khổ, sợ thử thách, sợ bệnh hoạn, sợ thiếu thốn và nhất là sợ chết… Xem ra, nỗi sợ hãi luôn ám ảnh con người và dù muốn dù không con người vẫn bị bủa vây bởi trăm ngàn mối hiểm nguy. Thấu hiều điều đó, nên khi dạy dỗ cho các môn đệ, Chúa Giêsu khuyên: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn... Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (x. Mt 10, 28-31).

Lời căn dặn “Đừng sợ” của Chúa Giêsu đã trở thành sức mạnh cho Giáo Hội. Hai mươi thế kỷ sau, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lập lại lời Thầy Chí Thánh: “Đừng sợ”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã không ngừng kêu gọi toàn thể Hội Thánh và mọi người trên thế giới “Đừng sợ”:

“Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.

“Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.

“Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ “mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng – Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô).

Thái độ “không sợ” được Thánh Giáo hoàng Đức Gioan Phaolô II nói đến vượt trên ý nghĩa thông thường là sự bất khuất, không nao núng trước bạo lực, bạo quyền. Không sợ là thái độ vượt thắng sự thủ thế, co về mình, không dám mở ra đón lấy sự cao cả, siêu việt, linh thánh của Tin Mừng Cứu độ và cũng không đủ nghị lực và sự kiên trì đưa Tin Mừng trở thành hiện thực nơi trần gian, xây dựng Nước Chúa ngay trong thực tại trần thế.

Từ “Đừng sợ” lại vang lên trong bài giảng thứ hai trên cương vị giáo hoàng, khi cử hành việc tiếp nhận ngai tòa giám mục giáo phận Rôma, ngày Chúa nhật 12-11-1978, tại nhà thờ Chánh tòa Gioan Latêranô, Đức Gioan Phaolô nói rõ thêm về lời kêu gọi “Đừng sợ”.

Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng. Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình: “Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được. Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài giảng lễ nhận nhà thờ Chánh tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma)

Đừng sợ sống yêu thương trong thế giới còn đầy tràn lòng thù hận. Đó là tín thư của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Một tín thư xụất phát từ sứ điệp Tin Mừng Cứu độ của Đức Kitô. Sứ điệp của niềm Hy vọng:“Hãy làm cho những Lời hằng sống của Đức Kitô đến được với mọi người để họ nghe được Lời của Chúa, sứ điệp của niềm Hy vọng” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng – Bài giảng lễ khai mạc sứ vụ Tông đồ Phêrô).

Tiếp nối đường hướng của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày lên ngôi, Đức Bênêđictô XVI đã thắp lên lời hy vọng: “Hãy tiến lên phía trước, vì có Chúa ở cùng”. Nếu một phần tư thế kỷ trước là “Đừng sợ”, thì một phần tư thế kỷ sau lại là: “Hãy tiến lên phía trước, Thiên Chúa sẽ giúp đỡ chúng ta. Mẹ Chí Thánh của Người ở ngay bên cạnh chúng ta…”. Và trong Sứ điệp nhân Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XXVII, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ phải liều mạng mình cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Đó là phương cách tìm được bình an nội tâm và hạnh phúc đích thực”.

Đức Thánh Cha Phanxicô sau khi được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 13-3-2013, Ngài đã là cho nhiều lần dùng kiểu nói “đừng sợ”.

“Thật vậy, sống ở đời làm sao tránh khỏi những căng thẳng, lo âu, sợ hãi khi gặp khó khăn, nguy hiểm. Chính Chúa Giêsu cũng có những lúc bàng hoàng xao xuyến. Khi bảo “anh em đừng sợ” Chúa Giêsu muốn ta đừng để cảm xúc sợ hãi làm tê liệt đời sống chúng ta. Người bảo chúng ta: đừng sợ”. “Đừng sợ” ngay trong mọi biến động, “đừng sợ”, vì “Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ” (Gr 20,13). “Đừng sợ”, khi phải đối diện với đau khổ hay sự chết bởi vì Thiên Chúa, Đấng yêu thương quan tâm chăm sóc chúng ta, vì Ngài là Cha nhân từ, trung tín, thấu hiểu chúng ta cần gì, vì đối với Ngài, chúng ta “quý hơn muôn vàn chim sẻ” (x. Mt 10,31). Ta hãy sống như con thơ phó thác cách đơn sơ trọn vẹn cho Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, trong mọi công việc.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm sống thật, hành động thật và tin tưởng phó thác nơi Chúa. Đừng sợ những khó khăn thử thách trong đời sống đạo. Đón nhận con đường khổ giá như là điều kiện cần cho phần rỗi của mình. Luôn nhớ rằng khi chúng ta tin và sống đạo, hẳn chúng ta không thể thoát khỏi sự hiểu lầm, chống đối và đôi khi cả cái chết nữa. Tuy nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra ý nghĩa của đau khổ và ngang qua đó, chúng ta sẽ thấy cùng đích của cuộc đời nằm ở nơi Thiên Chúa chứ không phải những thứ mau qua, chóng hết ở đời này.

Lạy Chúa, nỗi sợ làm cho con chùn bước, rụt rè trong đời sống đức tin của con, xin cho con thêm sức mạnh để con không còn sợ hãi Chúa ơi. Amen.

 

7. Sự hăm dọa gây ra sợ hãi - Charles E. Miller, C.M.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)

Sợ hãi có thể làm tê liệt chúng ta. Nó có thể làm cho chúng ta cứng đờ và trở nên bất động. Nó có thể ngăn cản cả việc suy nghĩ lẫn hành động theo niềm tin Công Giáo của chúng ta. Một hình thức thiệt hại nghiêm trọng của sợ hãi đến từ hăm dọa. Đo là một loại sợ hãi mà nó liên quan đến Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay. Khi Chúa Giêsu nói: “Đừng để cho người ta hăm dọa ngươi”, có lẽ Người đang nghĩ đến vị tiên tri cao cả là Giêrêmia. Con người của Thiên Chúa này bất chấp sự đe dọa bằng cách tấn công những âm mưu làm hại mạng sống của ông, vì thế ông không sợ phát ngôn nhân danh Thiên Chúa.

Giêrêmia tố cáo tội lỗi của dân tộc ông, cho biết họ đã chống lại Chúa đang ở trên họ. Ông nhấn mạnh rằng tội chống đối nhau giữa họ cũng là chống đối lại Thiên Chúa. Ông kết án việc trông cậy vào sức mạnh quân đội hơn là vào sức mạnh Thiên Chúa và ông tiên báo thành Giêrusalem sẽ bị phá huy (điều này đã xảy ra vào năm 578 B.C).

Giêrêmia đã bị kẻ thù cưỡng bách đi lưu đày ở Ai Cập. Theo truyền thống, ông đã bị giết chết bởi chính những người đồng hương của mình. Những kẻ xấu thì không còn nhớ Giao Ước với Thiên Chúa nữa, nhưng Giêrêmia vẫn nhớ. Ông sống không phải chỉ trong những trang Thánh Kinh nhưng với Chúa Giêsu ở trên thiên đàng, Đấng Mêsia mà ông chưa hề biết khi ở trần gian này nhưng ông đã trung thành với Đấng ấy mặc dù không biết điều ấy.

Những người khác đến sau Giêrêmia đang hiểu biết và yêu mến Chúa Giêsu cũng đã đạt đến chiều cao lớn lao của hành động anh hùng là sinh lại trong niềm tin sâu xa. Chỉ trong một thế kỷ XX này ma thôi cũng có rất nhiều mẫu gương như thế. Tổng giám mục Oscar Romero ở E Salvador là một vị tử đạo vì sự công bình xã hội. Ngài đã bị những kẻ vô lương giết chết khi thấy sự bảo vệ người nghèo của vị Tổng giám mục là một đe dọa cho những tham vọng của họ. Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, thánh Maximilian Kolbe, một linh mục Balan bất chấp sự đe dọa của những người lính phát xít đã hiến mạng sống mình để đổi mạng cho một người bạn tù, là người chồng và là cha của nhiều đứa con, và người sĩ quan chỉ huy của trại tập trung đã cho thi hành án.

Một cô gái trẻ ở Ý đã bất chấp sự đe dọa của một người đàn ông, khi ông đe dọa sẽ giết cô ta nếu cô từ chối quan hệ tình dục với ông ta. Và ông đã giết cô vì cô đã chống cự mãnh liệt, hôm đó là ngày 6 tháng 6 năm 1902. Maria Goretti đã được Đức Thánh Cha Piô XII phong thánh vào năm 1950. Mẹ của cô và Alexander Sereneli, người đàn ông đã giết thánh nhân, cùng hiện diện trong cuộc lễ tuyên phong hiển thánh này.

Những người dâng hiến và vô số những người nam và người nữ giống như họ đã có mặt suốt chiều dài của lịch sử, đã tin vào lơi của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời thì Ta cũng sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời cũng như vậy”.

Ngày hôm nay chúng ta đang bị đe dọa bởi những phong trào trong xã hội chúng ta. Chọn trước những người ủng hộ sẽ làm cho chúng ta cảm thấy rằng chúng ta xâm phạm quyền bình đẳng của người phụ nữ khi chúng ta nhấn mạnh phá thai là một tội ác không thể nào chịu nổi. Chủ nghĩa cá nhân đang ăn mòn và là sưc mạnh chống lại sự quan tâm đến những người nghèo khổ, những người không nhà và những người đói khát. Chủ nghĩa bài ngoại và tham lam sẽ trút cơn giận dữ của họ lên những người nhập cư, chính vì những điều đó mà Giáo Hội luôn bênh vực cho những quyền lợi của con người.

Chúa Giêsu nói với chúng ta khi chúng ta họp nhau lại để thờ lạy Người: Thầy thấy các con đang hiện diện nơi đây trong nhà thờ này như là dân Thiên Chúa. Thầy sẽ tiep tục tuyên xưng các con trước mặt Cha Thầy trên trời bao lâu các con còn tiếp tục theo sát giáo huấn của Thầy, chứ không theo những người chống đối Phúc Âm. Cũng đừng để họ đe dọa các con.

 

8. Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Đức Giêsu đã nhiều lần báo trước về cuộc khổ nạn của Ngài với các môn đệ rằng: “Con Người phải đau khổ nhiều, bị các vị Kỳ lão, các Thượng tế, và các Luật sĩ khai trừ và giết chết, nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (Lc 9,22).

Ngài cũng báo cho các môn đệ và những người đi theo Ngài biết rằng: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta” (Lc 9,23); “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi” (Mt 10,23-24); “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16)… Nhìn lại lịch sử Giáo hội cho chúng ta thấy những lời loan báo của Đức Giêsu đã hoàn toàn ứng nghiệm. Chính Đức Giêsu đã bị bắt, chịu khổ hình, chịu đóng đinh và chịu chết trên thập giá. Các Tông đồ cũng đồng số phận với Đức Giêsu, đã chịu chết tử vì đạo (trừ Thánh Gioan). Giáo hội sơ khai bị bách hại liên tục 300 năm. Giáo hội Việt Nam cũng vậy. Và hằng ngày đây đó trên thế giới người kitô hữu vẫn bị bách hại. Tại Ba Lan, Giáo hội vừa phong thánh cho linh mục Jerzy Popiełuszko, người bị mật vụ cộng sản giết năm 1984. Gần đây, Đức Giám Mục Jean Marie Benoît Bala, giám mục Bafia, Camerun bị sát hại một cách dã man trước khi xác Ngài bị quăng xuống sông. Lý do các Ngài chịu đau khổ, chịu chết là vì các Ngài rao giảng chân lý, rao giảng Tin mừng.

Bài đọc I hôm nay, trích sách tiên tri Giê-rê-mi-a, cũng cho chúng ta biết: Vì rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa cho dân và vì thẳn thắng cảnh cáo dân về tội lỗi của họ sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt, mà tiên tri Giê-rê-mi-a đã bị dân chúng hãm hại. Nhưng Thiên Chúa luôn ở bên cạnh ông “như người lính chiến hùng dũng” (x. Gr 20,11). Nhờ thế, ông tin tưởng cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa. Đặc biệt, ông can đảm tiếp tục sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó cho ông.

Cũng thế, sỡ dĩ các Tông đồ và các thành phần trong giáo hội qua mọi thời đại vẫn can đảm chấp nhận đau khổ, tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin mừng chính là nhờ vào sức mạnh đến từ Thiên Chúa. Thật vậy, đi liền với những lời loan báo đau khổ, Đức Giêsu cũng thường trấn an các môn đệ bằng những lời lẽ hết sức thuyết phục như: “Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Chúa Cha nói trong anh em” (Mt 10,19-20); “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5,11-12); “Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ” (Mt 10,22); “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Đặc biệt bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nhắc nhở các môn đệ “đừng sợ” những người bách hại các con.

Tại sao Đức Giêsu bảo các môn đệ đừng sợ?

Lý do thứ nhất Ngài bảo đừng sợ: “Vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Ðiều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà”(Mt 10,26-27). Ý Đức Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng: dù bị bách hại, giết chết thì cuối cùng sự thật cũng sẽ thắng “sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32). Biết bao nhiêu Kitô hữu đã bị giết chết vì Chúa, vì Tin mừng, vì sự thật…nhưng cuối cùng cũng được lịch sử ghi nhận, Giáo hội suy tôn. Vì thế, chúng ta đừng sợ khi phải dấn thân rao giảng Tin mừng, đừng sợ khi phải tranh đấu, đừng sợ khi phải lên tiếng đòi công lý cho người bị áp bực, lên án sự bất công.

Lý do thứ hai Ngài bảo đừng sợ: “Vì họ giết được thân xác chứ không giết được linh hồn”(Mt 10,28). Lịch sử Giáo hội cho chúng ta thấy, lời khẳng định này của Đức Giêsu đã trở thành hiện thực. Bởi vì biết bao nhiêu thời kỳ bách hại đạo đã qua, biết bao nhiêu chế độ bách hại đạo không còn, biết bao nhiêu người giết các kitô hữu đã chết. Thế mà Giáo hội vẫn tồn tại và phát triển. Giáo phụ Tertuliên nói rằng: “Máu của các vị tử đạo là hạt giống sinh ra nhiều kitô hữu.” Và đa số những người bị giết chết trong các cuộc bách hại đó đã được Giáo hội tôn vinh. Con số các vị tử đạo trong Giáo hội, trong đó Việt Nam chúng ta có 118 vị cho chúng ta thấy điều đó.

Lý do thứ ba Ngài bảo đừng sợ: Vì “các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần”(Mt 10,31). Ý Đức Giêsu muốn các môn đệ và mỗi người chúng tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Ngài đưa ra ví dụ về con chim sẻ và sợi tóc trên đầu, mặc dầu không đáng giá gì nhưng vẫn được Thiên Chúa quan phòng chăm sóc giữ gìn: “Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi” (Mt 10, 29-31).

Không những Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta “đừng sợ” mà chính Giáo hội cũng luôn mời gọi chúng ta “đừng sợ” trước những bách hại, bắt bớ của những người ghét đạo, trước những bất công của xã hội, trước những bạo lực của cường quyền. Giáo hội còn mời gọi chúng ta hãy can đảm đi ngược lại với các trào lưu, các tệ nạn của xã hội. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi giới trẻ rằng: “Các con đừng sợ đi ngược dòng đời, khi mà các giá trị bày ra cho chúng ta là những giá trị xấu muốn cướp đi hy vọng của chúng ta.” Đi ngược dòng đời, tức là khước từ các nhu cầu ích kỷ, gọt bỏ các thói hư tật xấu…làm được như thế cũng đồng nghĩa với sống đạo hằng ngày, mà “sống đạo cũng cam go không khác gì chết vì đạo.”

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không sợ bất cứ ai hay bất cứ điều gì. Trong cuộc sống có những cái sợ đến từ bản tính tự nhiên như sợ đói, sợ khát, sợ bệnh tật, sợ tai nạn, sợ chết, sợ ma…Những cái sợ này có thể không bao giờ đến. Còn trong đời sống đức tin, có một điều đáng sợ nhất đó là sợ phải sa hỏa ngục. Trong đoạn Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng: “Các con hãy sợ Ðấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục”(x. Mt 10,28). Thật vậy, không sợ Chúa khi chúng ta biết tuyên xưng Ngài: “Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 10,32). Đó là những khi chúng ta xưng mình là kitô hữu trước mặt mọi người bằng cả lời nói và cách sống. Đó là khi chúng ta sống đúng với giáo huấn của Tin mừng. Đó là khi chúng ta thà chết chứ không phạm tội, thà chết chứ không chối Chúa, không bước qua thập giá. Đó là khi người đời nhận ra chúng ta là người của Chúa của Giáo hội.

Còn chúng ta sợ Chúa khi cố tình từ chối Chúa trước mặt người đời: “Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 10, 32-33). Đó là khi chúng ta chối từ bản chất kitô hữu của mình như: không dám làm dấu thánh giá vì sợ người khác đạo, không sống đúng với giáo huấn của Tin mừng. Đó là khi chúng ta từ chối làm chứng cho Chúa cho Giáo hội…

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người chúng con luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa để trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng con vẫn không sợ, nhưng can đảm tuyên xưng và làm chứng cho Chúa. Amen.

 

9. Can đảm lên đường loan báo Tin Mừng - Huệ Minh

Sợ hãi là một trong những thất tình của con người. Có lẽ trong đời người, không ai mà không phải sợ hãi trước một điều gì. Vì vậy, để vượt lên trên nỗi sợ hãi luôn là một khát vọng của ý chí con người. Thế nhưng, trong thực tế ta thấy nếu bảo rằng rèn luyện ý chí đến độ không còn biết sợ bất cứ điều gì thì lại là hành vi thái quá, có khi dẫn đến thái độ ngang tàng, kiêu ngạo. Vậy, vấn đề là người ta phải biết sợ điều gì và không nên sợ điều gì.

Trang Tin Mừng hôm nay ở trong bối cảnh sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu.

Sau khi tuyển chọn các môn đệ, Chúa sai họ đi với định hướng duy nhất là loan báo Nước Trời đã đến gần trong thái độ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Chúa cũng tiên báo cho họ về những cuộc bách hại họ sẽ phải trải qua như bị nộp, bị thù ghét vì danh Chúa và họ sẽ đồng số phận bị loại bỏ như Chúa. Chúa biết điều đó làm cho các ông rất sợ hãi nên Chúa đã trấn an và khuyến khích: “Đừng sợ!” vì Chúa luôn hiện diện bên họ. Chúa trấn an họ: một khi đã đặt niềm tin vào Chúa, họ sẽ được yêu thương chăm sóc vì mạng sống con người còn quí hơn chim trời và hoa cỏ đồng nội.

“Đừng sợ!”, là lời Thiên Chúa đã nói hơn 365 lần trong Thánh Kinh để trấn an dân Chúa trong lịch sử cứu độ; và cũng là lời Chúa Giêsu liên tục củng cố niềm tin cho các môn đệ của Người. Vì thế, là những Kitô hữu trong ơn gọi bước theo sứ mạng của Chúa Giêsu giữa lòng thế giới đầy tràn những biến động hiện nay, chúng ta hãy tin rằng: Chúa Giêsu cũng đang nói với mỗi người chúng ta: Đừng sợ! “Lòng anh em đường xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14,1). Đây là một lời trấn an rất cần thiết và có sức nâng đỡ tuyệt vời nhất cho thân phận yếu hèn của mỗi người chúng ta.

Chúa Giêsu tỏ lộ cho các môn đệ thấy những khốn khó các ông sẽ phải chịu, khi kiên vững tin vào giáo huấn của Người và thực thi sứ mệnh Người trao cho. Tuy nhiên Người cũng khích lệ các ông: “anh em đừng sợ …”; Người biết rõ những điều Người rao giảng và truyền cho các ông loan báo cho mọi người là Chân lý Cứu Độ mà Chúa Cha muốn con người đón nhận để được giải thoát; do đó, Đức Giêsu cũng muốn các ông phải mạnh dạn loan báo cho dân chúng nơi các thành thị, thôn làng được biết và các ông phải can đảm đương đầu với những gian truân và bách hại do những kẻ chống đối Tin Mừng gây ra, vì đó là diễm phúc của những người đặt trọn niềm tin vào Người, và nhờ đó các ông chứng thực đức tin và lòng yêu mến Thiên Chúa của mình.

Chúa Giêsu nhấn mạnh đến điểm yếu kém nhất nơi con người đó là sự sợ hãi: Sợ hãi trước quyền lực thế gian, ma quỷ và đam mê, hưởng thụ vật chất; sợ bị gian khổ, bị người đời chê cười, có người sẵn sàng đánh đổi lương tâm, đánh đổi sự công chính để chiều theo những điều độc ác, gian tà. Còn với các môn đệ, cũng có thể vì không vượt thắng được nỗi sợ hãi nên chần chừ, hoặc không dám thể hiện niềm tin của mình.

Chúa Giêsu một lần nữa nhấn mạnh đến đối tượng của đức tin nơi người môn đệ là: “Thiên Chúa”, Đấng luôn quan tâm bảo vệ, gìn giữ những kẻ Ngài yêu thương và trao ban hạnh phúc cho họ. Thiên Chúa quan phòng yêu thương những kẻ thuộc về Ngài vì Ngài nhân từ, độ lượng và hay thương xót; Ngài đòi hỏi những ai yêu mến Ngài phải hết lòng tin tưởng, cậy trông nơi quyền năng và tình thương của Ngài. Đồng thời Ngài mời gọi phải can đảm, mạnh mẽ tuyên xưng Con chí ái của Ngài là Đức Giêsu Kitô, dung mạo của lòng thương xót và thứ tha Ngài đã dành cho nhân loại.

Chúa Giêsu cũng khẳng định: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Như vậy hạnh phúc Nước Trời hoàn toàn lệ thuộc vào lòng yêu mến “Con Thiên Chúa làm người” và những ai can đảm sống và thực thi giáo huấn của Người.

Hẳn mọi người con nhớ khi đăng quang trong ngôi vị giáo hoàng, cả hai Đức Thánh Cha: Gioan Phaolô II và Bênêđitô XVI đều nhận lãnh sứ vụ trong thái độ nương tựa vào lời Chúa: “Đừng sợ!”

Vâng, chính niềm xác tín vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo Hội như Đầu nhiệm thể của Người, mà Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trở nên một nhân vật xây dựng hòa bình được toàn thế giới mến phục và Đức Bênêđictô XVI mới dám can đảm nhận chức Giáo Hoàng khi đã cao niên. Từ kinh nghiệm này, trong vai trò đại diện cho Chúa Kitô, các ngài lại tiếp tục trấn an các tín hữu: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô” (ĐTC GP II), và “Hãy mở rộng ra những cánh cửa cho Chúa Kitô, và các con sẽ tìm thấy sự sống thật.” (ĐTC Bênêđictô XVI).

Tâm tình này nhắc nhớ người tín hữu biết chắc chắn mình ở trong tay Chúa Cha và đừng sợ bất cứ điều gì. Người tín hữu cũng nên ý thức rằng mình thuộc về Đức Giêsu, Đấng Mêsia. Chính xác tín này giúp họ chấp nhận mọi sự, kể cả việc tử đạo, một cách thanh thản.

Tin tưởng vào Thiên Chúa không phải là chắc chắn rằng mình sẽ được giải cứu khỏi thử thách, nhưng là biết vững vàng rằng chuyện mình bị kết án sẽ được biện minh và được đánh giá đúng mức. Ý thức rằng mình thuộc về Đức Giêsu làm cho họ vững vàng và can đảm.

Ngày nay, người ta ít tin tưởng vào việc Chúa quan phòng, nên họ cũng không chấp nhận những giá trị và ý nghĩa của đau khổ. Họ mang tâm trạng bất mãn và muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa.

Chúa Giêsu mong muốn nơi các môn đệ trong khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, là phải mạnh dạn can đảm trước những đe dọa của người đời. Phải tin tưởng vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Vì Người hằng quan tâm săn sóc chúng ta. Chúng ta không sợ hãi, thất vọng trước những bắt bớ của người đời. Chỉ có Thiên Chúa là Ðấng chúng ta phải sợ vì Người có quyền lấy mất sự sống đời đời khỏi chúng ta. Nhưng Người cũng là người Cha đầy lòng nhân ái, thế nên chúng ta cứ an tâm.

Là những người tin và đi theo Chúa Giêsu, mỗi tín hữu chúng ta phải nối tiếp sứ mệnh làm chứng nhân cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Cho dù cuộc sống còn nhiều khó khăn thử thách. Chúng ta hãy can đảm tin tưởng vì Chúa luôn ở bên chúng ta.

Ta cùng xin Chúa thêm ơn cho ta để ta can đảm tuyên xưng Đức Giêsu Kitô trong lời nói và trong mọi việc làm; và Loan báo Tin Mừng Cứu Độ cho mọi người đang sống chung quanh ta.

 

10. Hãy ca tụng Chúa; hãy ngợi khen Người

(Trích trong ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’ của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

"Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác".

Suy Niệm:

Chúa nhật trước chúng ta đã thấy quá khứ, hiện tại, tương lai của Dân Chúa cũng như của từng người trong chúng ta được bao trùm trong lòng nhân nghĩa của Chúa. Người thương chúng ta vô vàn, đã giải thoát chúng ta trong quá khứ, đang phù trợ chúng ta trong hiện tại và sẽ làm cho tương lai chúng ta được hạnh phúc.

Nhưng đó là cái nhìn đức tin. Còn con mắt nông cạn và xác thịt có lẽ chỉ thấy đời nhiều đắng cay. Lời Chúa hôm nay muốn soi sáng chúng ta về phương diện này, để chúng ta thấy lòng nhân nghĩa Chúa bao trùm cả những nét buồn thảm bi đát trong cuộc đời chúng ta.

A. Trước Hết, Lời Chúa Chẳng Bao Giờ Che Giấu Các Ðau Khổ

Cựu Ước cũng như Tân Ước không những mô tả mà còn tìm hiểu khía cạnh cam go trong đời sống con người một cách sâu sắc.

Bài sách tiên tri Yêrêmya hôm nay tuy vắn tắt nhưng gợi lên hình ảnh của một đời người nhiều nước mắt. Vị ngôn sứ ấy đã được chọn ngay từ trước khi thành hình trong lòng mẹ để đảm nhiệm một sứ vụ gay go bạc bẽo. Yêrêmya đã muốn chối nhưng không được. Ông phải ra đi tiên báo những hoạn nạn sẽ xảy tới. Nghe ông nói nhiều, người ta đã dần dần đồng hóa ông với kẻ mang tai ương vạ gió. Người ta tránh ông như tránh dịch, Nhưng đâu được phép rút lui, ông phải theo lệnh Chúa đến phản đối thái độ bất trung của nhà cầm quyền đối với giao ước. Người ta bắt ông, nhốt ông, kết án ông là tên phản bội, bán nước. Ngay họ hàng thân thích cũng khử trừ ông. Vì ông thuộc dòng tư tế, mà muốn cải cách theo Yosyas, chủ trương hủy bỏ hết các nơi tế tự bất xứng ở địa phương để tập trung tất cả phụng vụ trang nghiêm về Yêrusalem.

Xã hội bắt bớ, họ hàng tẩy chay, ông một thân một mình chịu bao đau khổ. Những tiên tri khác còn được hạnh phúc có vợ có con, Yêrêmya được lệnh Chúa sống độc thân để tuyên sấm cho toàn dân biết: tai họa sắp giáng xuống, đừng dại gì mà dựng vợ gả chồng kẻo vợ con sẽ chết đói, chết chém và chẳng được chôn cất. Dân chưa bị chiến tranh và đi đày lê thê... nhưng vì là tiên tri của những biến cố đó, Yêrêmya đã phải sống trước ở nơi bản thân tất cả số phận cay đắng của dân bội bạc. Ông là vị ngôn sứ khổ sở, là hình ảnh của Ðấng sẽ đến gánh tội thiên hạ, là người được chọn để đi vào con đường hẹp. Ông là người đi trước chúng ta về phương diện đau khổ ở đời.

Vì đời chúng ta không phải chỉ mang theo những khổ đau như mọi người, nhưng còn có những gánh nặng khác mà ta có thể gọi chung là thánh giá. Ðó là những đau đớn vì Danh Chúa, dành cho chúng ta là những người được chọn. Ðức Kitô đã nói với các môn đệ của Người: vì Danh Thầy, thế gian sẽ ghét bỏ các con và người ta sẽ giải các con đến các tòa án. Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay còn gợi lên cả nỗi lo sợ quằn quại không ngừng: tội lỗi chúng ta hằng phạm có khiến chúng ta mất tin tưởng vào hạnh phúc đời sau không? Ðây là lo sợ cuối cùng, lo sợ ở trước mặt Chúa, đang khi những tai họa và bất hạnh nói trên nằm trong tương quan đối với người khác, với gia đình và xã hội.

Thật, mọi vấn đề đau khổ ở đời đã được Sách Thánh liệt kê và nghiên cứu. Yêremya đã sống giữa cảnh thù nghịch. Ông tiên báo về con người đau khổ của Ðức Kitô; rồi Ðức Kitô lại báo trước cho chúng ta biết thân phận khổ sở của những người theo Chúa. Cuối cùng thánh Phaolô nói lên nỗi lo sợ phập phồng dày vò tâm trí những kẻ biết mình tội lỗi.

B. Nhưng Ðồng Thời Lời Chúa Cũng Dọi Sáng Trên Các Ðau Khổ

Yêrêmya bị ghét bỏ và tấn công tứ phía, nhưng không nao núng, vì như lời ông nói hôm nay: Chúa luôn luôn ở với ông như người chiến sĩ vô địch. Ông sống ở thời Cựu Ước, nên lối diễn tả niềm tin của ông chưa được tế nhị. Ông tin rằng kẻ thù của ông sẽ lao đao, thất bại; sẽ hổ ngươi và nhục nhã. Và niềm tin ấy đã biến thành lời cầu nguyện: xin cho con được thấy kẻ thù của con bị báo thù.

Ngày nay chúng ta không được cầu nguyện như thế vì Chúa Yêsu đã dạy chúng ta phải yêu mến kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ghét bỏ mình. Nhưng chúng ta phải có niềm tin chắc chắn như Yêrêmya. Giữa bao nghịch cảnh và mọi khổ đau, Chúa vẫn ở với chúng ta, không những như người chiến sĩ vô địch, nhưng hơn nữa như một người cha săn sóc đếm từng sợi tóc trên đầu người con, để không một cái tóc nào rụng xuống mà không có ý của Người. Hai con chim sẻ chỉ đáng giá một đồng xu thôi, thế mà Cha trên trời vẫn săn sóc đến chúng. Còn chúng con, chúng con đáng giá ngàn ngàn lần hơn tất cả loài chim sẻ. Nói một cách đơn sơ hơn, những đau khổ rủi ro ở đời không bao giờ được làm chúng ta quên lòng nhân nghĩa Chúa. Chúng ta phải nắm vững niềm tin đã trình bày Chúa nhật trước: quá khứ, hiện tại và tương lai chúng ta được bao bọc trong tình yêu trung tín của Cha trên trời. Yêrêmya đã thâm tín như vậy. Chúa Yêsu nhắc lại cho chúng ta nhớ. Và chân lý là ánh sáng chiếu soi vào các khổ đau mà chúng ta gặp để hiểu rõ chúng là gì.

Chúa Yêsu trong bài Tin Mừng hôm nay nói: chúng không có gì đáng sợ. Thử thách và khổ đau ở đời thoạt nhìn vào thì thấy sợ, thấy ghê. Nhưng chiếu ánh sáng của Chúa vào, và nhìn chúng bằng con mắt đức tin, chúng ta dường như sẽ thấy chúng đang dần dần tan biến. Bản chất của chúng đâu có vững bền? Cuối cùng, tức là chung cuộc thử thách chỉ là những mây mù phải tan để làm tỏ hiện bộ mặt thật của thực tại. Có gì che giấu mà không bị bại lộ; có gì thầm kín mà lại không được công bố ra? Rồi đây Ðức Kitô sẽ ở trên Thánh giá, Người sẽ chiến thắng tử thần, dọi ánh sáng phục sinh vào việc làm của mọi kẻ thù địch Ngài; thế gian sẽ bẽ bàng trong tội lỗi và kẻ tin Ngài sẽ hân hoan. Rồi đây Ðức Kitô cũng sẽ lại xuống trong vinh quang. Ánh sáng vinh hiển Người sẽ phán xét hành động và ý nghĩ thâm sâu của mọi người; thử thách và đau khổ của những kẻ được Người chọn sẽ biến mất như đêm tối tan biến trước ánh sáng mặt trời. Thế nên, nếu con cái Chúa không có gì phải sợ khi đã tin ở sự săn sóc của Cha trên trời, thì các môn đệ của Người cũng chẳng có gì phải hãi khi bị bắt bớ vì tòa án loài người cũng sẽ qua đi khi ngày chung thẩm của Chúa đến. Người ta có thể giết các môn đệ của Chúa, nhưng có nên sợ những kẻ chỉ giết được xác mà không giết được hồn không? Dĩ nhiên người môn đệ muốn được sự bình tĩnh chắc chắn trong mọi thử thách, thì phải có sự tự tin ở trong hồn mình, tức là có thể tin vào giá trị đạo đức của mình ở trước tòa Chúa sau này và bây giờ nơi lương tâm của chính mình.

Nhưng ai dám tự hào thâm tín như vậy? Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay đoán được tâm trạng của chúng ta. Người sợ chúng ta nao núng khi nghĩ đến tội lỗi của mình. Và nguời chiếu ánh sáng tin tưởng vào lương tâm lo lắng ấy khi đề ra chân lý sau đây:

Phải, tất cả chúng ta đều đã phạm tội. Từ Ađam cho tới nay, tội lỗi đã thống trị và tràn ngập. Nhưng chính sự kiện phổ quát của chế độ tội lỗi khiến chúng ta suy đến thời đại phổ quát của ân sủng. Một người đã du nhập tội lỗi vào thế gian để đến nỗi không ai không tội lỗi; thì Thiên Chúa là Ðấng nhân nghĩa và trung tín đã mở màn thời đại ân sủng phổ quát khi ban Con Một Người đến chịu chết vì tội lỗi chúng ta.

Và không thể Ðức Yêsu chỉ giống như Ađam. Người phải trổi vượt ông vô vàn. Thế thì chế độ ân sủng mà Người đã khai mạc cho thời sau hết này phải vượt xa thời kỳ tội lỗi xưa đã bắt đầu với Ađam. Chúng ta có kinh nghiệm về thời đại tội lỗi xấu xa này, thì chúng ta càng phải có lòng tin sâu xa hơn nữa về thời kỳ ân sủng do Ðức Kitô sáng lập.

Tin như vậy, không ai còn có thể nghĩ mình không được chan chứa ân sủng. Và đời sống tuy nhiều khổ đau và tội lỗi, tuy nhiên nước mắt như đại dương và đầy bất công bất hạnh, đức tin bảo chúng ta phải quả quyết ân sủng của Ðức Kitô còn mênh mông dư đầy bội phần. Và những gì chúng ta đã nói về lòng nhân nghĩa của Chúa đối với con người, vẫn còn đúng mãi, mặc dầu đời người có thể là bể khổ.

C. Thế Thì, Thái Ðộ Của Chúng Ta Phải Thế Nào?

Yêrêmya đã kết thúc bài nói về đau khổ mình gặp bằng một lời kêu gọi tin tưởng. Ông nói: hãy ca tụng Chúa; hãy ngợi khen Người vì Người sẽ cứu mạng sống kẻ khó nghèo khỏi tay kẻ cường bạo. Lòng tin tưởng của ông không phải vô điều kiện. Chúa sẽ cứu người nghèo khổ. Tin Mừng của Người sẽ chỉ được rao giảng cho những con người ấy. Nói đúng ra, chỉ hạng khó nghèo mới đón nhận Tin Mừng của Chúa và do đó mới được cứu độ. Mà khó nghèo hay nghèo khó Phúc Âm, trước hết là tin tưởng tín nhiệm hoàn toàn vào Chúa và chỉ cậy dựa trông cậy vào Người mà thôi, tức là phải lấy nhân nghĩa đáp trả nhân nghĩa.

Và lòng tín nghĩa chân thật ấy phải được chứng tỏ rõ ràng, đặc biệt khi bị thử thách. Chính Chúa Yêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã tuyên bố rõ ràng: ai xưng Ta ra trước mặt người đời thì Ta cũng xưng kẻ ấy ra trước mặt Cha Ta; còn ai chối Ta trước mặt người đời thì Ta cũng chối kẻ ấy trước mặt Cha Ta.

Ðiều kiện này có thể khiến lòng nhiều người áy náy. Thế nào là xưng Chúa ra trước mặt người đời? Ðeo ảnh, làm dấu đọc kinh trước khi ăn cơm, đi dự lễ ngày Chúa nhật, là những hành vi tuyên xưng Chúa? Bao giờ cũng phải làm? Và có khi nào được miễn không?

Ở đây, không ai có thể đưa ra một câu trả lời gãy gọn áp dụng cho hết mọi trường hợp. Muốn có câu giải đáp phổ cập này, có lẽ chúng ta phải vươn lên trên mọi vấn nạn cụ thể. Và hãy hỏi thế nào là tuyên xưng Chúa ra trước mặt người đời?

Ảnh đeo nhắc người ta nhớ đến Chúa; nhưng chưa chắc người nào đeo ảnh cũng tuyên xưng Chúa ra. Ðã có những người đeo Thánh giá vàng để trang trí và có thể có những người mang thập tự lớn để phản chứng, không phải vì Danh Chúa nhưng vì mình và vì quan niệm của riêng mình. Và chúng ta cũng có thể nói tương tự về việc làm dấu, đọc kinh, đi lễ v.v… Nói tóm, giá trị không nằm ở việc làm, nhưng ở niềm tin. Thánh Phaolô đã nói như vậy. Ðiều quan trọng là mỗi người phải tự hỏi về niềm tin của mình. Và chính niềm tin ở trong mình sẽ phán đoán các hành vi của chúng ta. Và chắc chắn người có đức tin mạnh mẽ sẽ biết cư xử đúng với sự tự do của con cái Thiên Chúa, nghĩa là luôn luôn biết phải làm gì và không cần làm gì để tuyên xưng Chúa ra trước mặt người đời.

Giờ đây cũng vậy, Thánh lễ sẽ cử hành ở giữa chúng ta. Lẽ ra mọi người sẽ tuyên xưng niềm tin một cách hết sức chân thành. Nhưng biết đâu và không ý tứ thì sẽ có những kẻ xem lễ mà không dự lễ. Vì xem lễ thì chỉ cần mắt nhìn vào, nhưng dự phần thì phải dấn thân, đem tâm hồn mình đến thông phần Mình Máu Ðức Kitô.

Ai thật sự tham dự lễ tế này mà không thấy Thiên Chúa yêu thương mình, đến nỗi ban Thịt Máu Người cho chúng ta? Và ai thật sự đáp trả tình yêu của Người lại có thể lo sợ các thử thách trong đời sống? Vì cả khi sống giữa đau khổ, người yêu Chúa vẫn cảm thấy sâu xa mình được Chúa yêu. Và với tình yêu ấy Thánh Thần đã đổ được đổ xuống trong lòng chúng ta để một sự an ủi ngọt ngào vẫn tràn ngập tâm hồn của những thân xác đang bị đau khổ. Ðó là niềm tin, là lẽ sống của chúng ta. Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng.