Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội qua Hiến chế “Lumen Gentium” và “Gaudium et Spes”

DẪN NHẬP

Công đồng Vaticanô II do Đức Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập và được Đức Giáo hoàng Phaolô VI khép lại, một Công đồng đón nhận “luồng gió mới” và đưa Giáo hội bước vào một kỷ nguyên mới. Giáo hội đã trải qua hai ngàn năm lịch sử nhân loại, với biết bao biến cố thăng trầm, Giáo hội ấy được Đức Giêsu thiết lập gồm bởi những con người bình thường, không muốn nói là tầm thường, với biết bao yếu đuối và giới hạn. Thế nhưng những con người ấy lại được chính Đức Giêsu mời gọi và quy tụ để xây dựng Giáo hội của Người. Giáo hội ấy lại được ban Thần Khí để tiếp tục quy tụ, thánh hóa, canh tân, thúc đẩy, kiện toàn…21 Công đồng được nhóm họp trong 20 thế kỷ qua đã nói lên rằng chính Chúa Thánh Thần vẫn đang tiếp tục thổi “luồng gió” của Ngài vào Giáo hội trong từng biến cố của thời đại. Vậy có những biến chuyển gì trong giai đoạn này, có điều gì mới trong các văn kiện của Công đồng Vaticanô II, và Chúa Thánh Thần được nhắc tới như thế nào? Hay Chúa Thánh Thần đóng vai trò gì? Chắc chắn sẽ có rất nhiều điểm được đề cập đến, nhưng trong phạm vi của bài viết này, chỉ xin đưa ra những hoạt động của Chúa Thánh Thần qua hai Hiến chế Lumen Gentium (LG) và Gaudium et Spes (GS) của Công đồng Vaticanô II. Hy vọng thông qua hai Hiến chế này, mỗi người sẽ cảm nhận được “luồng gió mới”, dù chỉ là làn gió nhẹ của Chúa Thánh Thần, cũng đủ để ta tăng thêm lòng tin và lòng mến với Giáo hội.

NỘI DUNG

Khi bước vào học môn Giáo hội học, có lẽ mỗi người cũng có một chút hoang mang, bởi lẽ Giáo hội là một mầu nhiệm. Nói vậy để thấy rằng, có điều gì đó khó hiểu ở đây, vì mầu nhiệm là điều kín ẩn mà không phải ai cũng có thể hiểu. Vậy tại sao lại học hỏi và nghiên cứu về Giáo hội? và khoa Giáo Hội học có nghĩa là học hỏi về Giáo hội sẽ giúp ta phần nào hiểu rõ hơn về Giáo hội.

  1. Nét Chung Về Giáo Hội

Kinh thánh không định nghĩa Giáo hội, nhưng dựa trên các hình ảnh và ẩn dụ Kinh thánh, các tác giả đã cố gắng trình tả về Giáo hội. Vậy, Giáo hội được gọi là: “Ítraen của Thiên Chúa”, “Giêrusalem”, “thành trì”, “kiến trúc” hoặc là “vườn nho” của Thiên Chúa, v.v. Và còn có nhiều từ ngữ còn sát với ý nghĩa của bản tính Giáo hội hơn nữa, cũng đã được dùng đến, như “dân Thiên Chúa”, “Mẹ chúng ta”, “Nữ trinh” hay “Hiền thê” v.v. Qua những cách thức miêu tả Giáo hội như thế, có thể thấy được Giáo hội là gì với chúng ta, hay nói cách khác: chúng ta phải làm gì để hiệp thông với Thiên Chúa.[1]

Có rất nhiều ý niệm, nhiều hình ảnh được gắn cho Giáo hội để diễn tả Giáo hội đang hiện diện và ôm trọn con người nhân loại. Khó có thể định nghĩa một cách chính xác là gì mà chỉ có thể nói Giáo hội như là gì. Giáo hội được ví như thân mình Đức Kitô, mà Đức Kitô là mầu nhiệm. Mầu nhiệm lại vượt quá trí hiểu của con người, nên chỉ khi có mặc khải, con người mới phần nào dùng ngôn ngữ để diễn tả thực tại thiêng mà Thiên Chúa muốn ban cho con người.

Giáo hội là một mầu nhiệm; và đã là một mầu nhiệm, thì không danh từ nào, không công thức nào,[2] có thể định nghĩa cho hoàn toàn đúng được. Dẫu vậy, thể theo ý muốn của Ðức Phaolô VI, Công đồng Vaticanô II cũng đã để lại cho chúng ta một vài công thức tương tự như dạng định nghĩa: “Không ai còn có thể do dự được là đã có một ý muốn, một nhu cầu, một bổn phận đòi Giáo hội phải tự định nghĩa về mình một cách xứng hợp hơn” (Diễn văn khai mạc khóa II, ngày 29-9-1963).[3]

Như vậy có thể kể ra một vài danh xưng có thể dễ hình dung và liên hệ để hiểu Giáo hội như thế nào. Giáo hội như là một xã hội. Trong LG số 8 nhắc tới: Giáo hội ấy được tổ chức như một cộng đồng xã hội trên trần gian, được bảo toàn trong Hội thánh Công giáo, được cai quản bởi đấng kế vị thánh Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài. Giáo hội như là Hiệp thông. Như LG số 4 có nói tới: Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo hội và trong tâm hồn các tín hữu như trong đền thờ. Ngài hợp nhất Giáo hội trong sự hiệp thông và trong sứ vụ. Giáo hội như là Nhiệm thể Đức Kitô. Chính Kinh Thánh đã gọi Giáo hội là “thân thể Ðức Kitô”; vậy, khi ghép thêm tính từ “huyền nhiệm” (mysticum), thì một cách nào đó, đã làm ẩn dụ ấy trọn nghĩa. Ðức Piô XII viết: “Ðể định nghĩa, để mô tả khuôn mặt thật của Giáo hội Chúa Kitô, ta không thể tìm thấy thành ngữ nào hay hơn, hoàn hảo hơn, và hoà hợp với khía cạnh thần linh hơn là những thành ngữ “nhiệm thể của Ðức Kitô”. Dù không đưa ra một định nghĩa duy nhất về Giáo hội, Công đồng Vaticanô II cũng đã dành trọn cả số 7 của Hiến chế về Giáo hội để trình bày về thực tại và thực chất của “nhiệm thể”. Giáo hội như là Bí tích. Hiến chế Lumen Gentium của Vaticanô II đã định nghĩa Giáo hội như “một thứ bí tích trong Ðức Kitô, hoặc như dấu chỉ, như khí cụ của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất giữa toàn thể nhân loại” (x. LG, 1). Giáo hội như là Dân Thiên Chúa. Quan niệm Giáo hội như là Dân Thiên Chúa đã được Vaticanô II dứt khoát phê chuẩn trong Chương hai của Hiến chế tín lý về Giáo hội. Quan niệm này nêu rõ vai trò của các tín hữu, sự bình đẳng cân bằng của mọi kitô hữu trong tính tư tế chung và cảm thức đức tin, vai trò tích cực của Giáo hội ở trong thế giới, và sự khác biệt giữa các phận vụ cùng công tác phục vụ chung, nhắm tới cùng một cứu cánh duy nhất.[4]

Những định nghĩa vừa nêu trên đây có vẻ như nói chính xác về Giáo hội. Nói như vậy thì đúng nhưng chưa đủ, bởi như đã đề cập từ đầu, Giáo hội vốn dĩ như một mầu nhiệm thì chỉ có mầu nhiệm mới đủ để định nghĩa về mầu nhiệm. Và nếu Giáo hội là Hội thánh quy tụ mọi thành phần tín hữu dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, thì Hội thánh là HỘI THÁNH.

  1. Nét Chung Về Công Đồng Vaticanô II

Công đồng Vatican II là sáng kiến độc đáo của Đức Gioan XXIII do một ơn linh hứng đặc biệt, khi ngài tham dự lễ bế mạc Tuần lễ Hợp nhất Kitô hữu vào ngày 25/01/1959, tại đền Thánh Phaolô Ngoại Thành. Với tên gọi Vatican II, Công đồng thật sự muốn tiếp tục những vấn đề còn đang bàn luận dang dở của Công đồng Vatican I, vì Công đồng này phải kết thúc đột ngột vào năm 1870, khi giáo phận Rôma bị sáp nhập vào vương quốc Ý.

Sáng kiến của Đức Gioan XXIII không nằm trong chiều hướng nghiên cứu các vấn đề hay lên án các giáo thuyết sai lạc như hầu hết các công đồng trong quá khứ, nhưng từ những nhu cầu thực tế và cấp bách của Giáo Hội trong thế giới đương thời, vì Giáo Hội lúc đó đang phải đối phó với những thách đố vô cùng khó khăn.

Thật vậy, thế giới đổi thay quá nhanh kể từ Vatican I. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cuốn hút loài người vào một viễn ảnh vật chất vô cùng tươi sáng nhưng cũng đầy những âu lo, khắc khoải với thảm hoạ chiến tranh nguyên tử, với cuộc đối đầu giữa thế giới tư bản và cộng sản, với nền văn minh hưởng thụ... Tôn giáo dường như chưa giải đáp được những vấn nạn của con người.

Trong nội bộ Giáo Hội, những xung đột, chia rẽ không ngừng xảy ra giữa các xứ Kitô giáo lâu đời. Công cuộc truyền giáo không còn đạt được những kết quả lớn lao vì chính Kitô hữu dường như an thân và thoả mãn với đời sống đạo thụ động của mình. Do đó, cần một công đồng để thực hiện cuộc đổi mới sâu xa trên toàn thể đời sống Giáo Hội, đem lại giá trị thật sự cho tư tưởng con người cũng như cho đời sống nhân loại, trong tinh thần tìm về nguồn và vâng theo Chúa Thánh Thần.[5]

Công đồng Vaticanô II khác hẳn các Công đồng trước về quy mô, tính quốc tế, về phạm vi và những vấn đề Công đồng bàn thảo. Công đồng này đã cho phép người ngoài Công giáo tham dự với tư cách là các quan sát viên. Các phương tiện truyền thông, báo chí cũng đóng góp phần không nhỏ trong việc dưa tin đến quần chúng. Việc đọc Kinh thánh không còn dè dặt như trước kia. Khuyến khích người Công giáo đối thoại đức tin và các vấn đề tôn giáo…Đó chỉ là một ít điểm độc đáo của Công đồng Vaticanô II . Còn rất nhiều vấn đề hấp dẫn khác mà với tư cách là Kitô hữu, ta không thể không biết.[6]

Công đồng nhóm họp bốn giai đoạn khác nhau vào mùa thu của mỗi năm, từ 1962-1965. Mỗi giai đoạn trong những giai đoạn ấy kéo dài khoảng mười tuần, đều có những tính chất riêng. Giai đoạn đầu tiên dưới thời Đức Gioan XXIII, ba giai đoạn còn lại dưới thời người kế vị ngài, Đức Phaolô VI. Công việc được làm trước Công đồng năm 1959-1962, và suốt thời gian giữa các phiên họp cũng làm việc quan trọng gần như phiên họp thực sự, cũng có khoảng 2.200 Giám mục và các chuyên viên thần học thực hiện[7].

Công đồng Vaticanô II đã đưa đến kết quả: 4 Hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn. Hiến chế mang tính tín lý; các sắc lệnh là những bản văn áp dụng những nguyên tắc do các hiến chế đề ra; tuyên ngôn là những đường hướng chỉ đạo nói lên trong quan điểm của Công đồng. Nếu nhìn 16 tài liệu này, chúng ta sẽ thấy có hai Hiến chế trực tiếp nói về bản chất và sứ vụ của Giáo hội; trong 9 sắc lệnh, thì có 8 sắc lệnh nói về các thành phần của Giáo hội, hoạt động của các thành phần này.[8]

Như vậy, trong hơn 2 năm chuẩn bị và 4 năm làm việc miệt mài với các bản văn, các nghị phụ đã phải rất vất vả trong việc làm mới lại Giáo hội. Thành quả mà Công đồng đạt được vẫn còn ảnh hưởng lớn lao và vẫn tiếp tục định hướng cho Giáo hội hôm nay. Đã trải qua hơn 50 năm sau khi Công đồng Vaticanô II kết thúc, các văn kiện mà Công đồng đã đúc kết vẫn đang như luồng gió mới thổi vào các Giáo hội địa phương. Điều này chẳng gì khác hơn, đó chính là hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần đã gieo hạt giống, và chính Ngài giúp chúng nảy mầm.

  • Chúa Thánh Thần Trong Giáo Hội qua hai Hiến Chế LG và GS

Số đầu tiên của Hiến chế tín lý về Hội thánh viết: “Chúa Kitô chính là ánh sáng muôn dân, vì vậy, Thánh Công Đồng được quy tụ trong Chúa Thánh Thần, tha thiết muôn muốn soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Người, đang chiếu tỏa trên khuôn mặt Giáo hội, để Tin mừng được loan báo cho mọi loài thụ tạo (x. Mc 16,15)”.[9] Nhờ vậy, suốt thời gian Công đồng diễn ra và mọi lĩnh vực được đưa ra bàn thảo, trong niềm tin, ta luôn có thể khẳng định Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn và luôn ở cùng mọi biến cố của Giáo hội.

  1. Chúa Thánh Thần thánh hóa Giáo hội

Chúa Thánh Thần luôn làm việc trong Giáo hội và nơi mỗi tín hữu. Điểm quan trọng là ta có thức tỉnh để nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Ngài hay không. Chúa Thánh Thần đóng vai trò then chốt trong đời sống của Kitô hữu cũng như trong lúc diễn ta Công đồng chung. “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa trừ khi người ấy ở trong Thần Khí” (1Cr 12,3).[10]

Lumen Gentium số 4 khẳng định rằng:

Khi công trình Chúa Cha trao phó cho Chúa Con thực hiện trên trần gian đã hoàn tất (x. Ga 17,4), Chúa Thánh Thần được cử đến vào ngày lễ Ngũ Tuần để không ngừng thánh hoá Giáo Hội, và như thế, những kẻ tin sẽ đến với Chúa Cha qua Chúa Kitô trong cùng một Chúa Thánh Thần (x. Ep 2,18). Chính Ngài là Thần Khí sự sống, là mạch nước vọt lên đến sự sống vĩnh cửu (x. Ga 4,14; 7,38-39), nhờ Ngài, Chúa Cha tác sinh những kẻ đã chết vì tội lỗi, cho đến khi Ngài phục sinh thân xác phải chết của họ trong Đức Kitô (x. Rm 8,10-11). Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như trong đền thờ (x. 1 Cr 3,16; 6,19).[11]

Chúa Thánh Thần là linh hồn của sáng tạo mới là Giáo hội: từ những con người sợ sệt, bỏ trốn khi Thầy mình bị bắt và bị giết, nay bước ra thế giới với một sự can đảm để tuyên xưng: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng ban tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết… Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng… Vậy toàn thể Ítraen phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người là Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2, 23-36).[12] Từng lời khẳng định và tuyên xưng của các Tông đồ xưa sau khi đã đón nhận Thánh Thần càng cho thấy rằng, Chúa Thánh Thần không ngừng thánh hóa các ông, điều này cũng có nghĩa là, Ngài không ngừng thánh hóa Giáo hội.

Bởi vậy, Người đã sai Thánh Thần đến với mọi người, để từ bên trong Ngài thôi thúc họ yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn cùng hết sức họ (x. Mc 12,30), và yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu thương họ (x. Ga 13,34; 15,12). Ðược Thiên Chúa kêu gọi và được công chính hóa trong Chúa Giêsu, không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định và ân phúc của Ngài, các môn đệ Chúa Kitô, trong khi lãnh nhận phép Thánh Tẩy nhờ đức tin, đã thực sự trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào bản tính Ngài, và do đó, thực sự đã trở nên thánh. Cho nên với ơn Chúa họ phải luôn gìn giữ và hoàn thành trong đời sống sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận. Họ được Thánh Tông Ðồ khuyên sống “xứng đáng là những người trong dân thánh” (Ep 5,3) và mặc lấy “lòng thương xót, nhân hậu, khiêm nhường, tiết độ và nhẫn nại như những người đã được Thiên Chúa chọn lựa, thánh hóa và yêu thương” (Cl 3,12), và dùng hoa trái của Thánh Thần để thánh hóa mình (x. Gl 5,22; Rm 6,22).[13]

Lời khẳng định trên đây của Công đồng như muốn xác tín hơn nữa đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc thánh hóa Giáo hội, Ngài đến với mọi người và biến đổi tận căn từ bên trong. Qua đó, mọi thành phần được ơn thánh hóa và sinh được nhiều hoa trái của Thánh Thần.

  1. Chúa Thánh Thần dạy bảo Giáo hội

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ: khi Ngài về cùng Chúa Cha, Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống. Và đúng như vậy, sau khi Đức Giêsu về trời thì Chúa Thánh Thần đã tiếp tục vai trò của mình một cách cụ thể qua những việc làm cụ thể trên các Tông đồ, đó là hướng dẫn là dạy bảo các ông biết những việc phải làm, và khi làm chính Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn. Như vậy, Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn các Tông đồ thì Ngài cũng hướng dẫn và sẽ dạy bảo Giáo hội luôn mãi. Điều này cũng được làm rõ hơn trong Công đồng Vaticanô II, khi thánh Công đồng khẳng định:

Đây là Công đồng gồm những con người được quy tụ trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về nước Cha và đã đón nhận Tin mừng cứu rỗi được trao ban cho mọi người (x. GS, 1). Chúa Thánh Thần đã luôn hướng dẫn các Tông đồ và làm cho các ông trở nên trụ cột cho Giáo hội, qua việc giảng dạy và giúp Giáo hội đứng vững dọc dài lịch sử của nhân loại. Những vị kế nhiệm các Tông đồ và những Công đồng diễn ra qua thời gian đã chứng minh điều ấy. Lời giảng dạy của các Tông đồ cùng các giáo huấn của Giáo hội luôn có sự hướng dẫn dạy bảo của Chúa Thánh Thần (x. Mt 10,20).

Như đã đề cập, Công đồng Vaticanô II khác với các Công đồng trước đây về nhiều mặt. Điều này không có nghĩa nói là các Công đồng trước không có sự hoạt động của Chúa Thánh Thần, mà là Chúa Thánh Thần trong thời đại mới này đã có một cách dạy bảo mang tầm cỡ rộng lớn hơn. Tuy mỗi Công đồng đều có những nét độc đáo mà Chúa Thánh Thần dạy bảo, nhưng nay Công đồng Vaticanô II đã vươn xa hơn với quy mô trên toàn thế giới. Điều này cũng phù hợp với chức năng huấn quyền của Giáo hội.

  1. Chúa Thánh Thần canh tân Giáo hội

Trở lại với hiến chế LG số 4, Công đồng nhấn mạnh: Nhờ sức mạnh Tin Mừng, Chúa Thánh Thần không ngừng canh tân và làm cho Giáo Hội luôn tươi trẻ, dìu dắt Giáo Hội đi đến sự kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình. Thật vậy, Chúa Thánh Thần cùng Hiền Thê nói với Chúa Giêsu: “Xin Ngài ngự đến” (x. Kh 22,17).[14] Điều này càng chứng mình cho thấy, Giáo hội ngày này đã mở ra rất nhiều hướng mục vụ mới, cũng có nghĩa là mở ra với tất cả mọi thành phần, mọi đối tượng như Đức Giêsu đã sống. Việc canh tân này cũng luôn đòi hỏi tính cấp thiết là trở về hiệp nhất với chính Người.

Hiến chế LG, số 7 khẳng định chính Chúa Thánh Thần, khi làm cho toàn thân được hợp nhất nhờ chính Ngài, với sức mạnh của Ngài và do sự liên kết nội tại của các chi thể, cũng làm phát sinh và thôi thúc đức ái giữa các tín hữu. Vì thế, nếu một chi thể đau, tất cả các chi thể đều chịu đau chung; và nếu một chi thể được vinh dự, tất cả các chi thể khác cùng vui chung (x. 1 Cr 12,26).[15] Như vậy, trong đời sống Giáo hội cũng như thân mình, hay trong lịch sử đời người thì không thiếu những rạn nứt tương quan, những đau đớn về sự chia rẽ, thì chính Chúa Thánh Thần lại là Đấng hàn gắn và canh tân. Nhìn vào lịch sử, Giáo hội cũng không ít lần cố bảo thủ với tính toán của con người, làm cho Giáo hội mò mẫm trong đêm tối và chia rẽ. Các Công đồng chung mở ra như lại một lần nữa Chúa Thánh Thần tác động để bảo vệ và canh tân Giáo hội.

Đứng trước các trào lưu chống đối Giáo hội, nhiều nhà tư tưởng muốn loại Thiên Chúa ra khỏi thế giới con người, điều này cũng có nghĩa là muốn xóa bỏ Giáo hội. Nhiệm vụ của Giáo hội là làm sao cho Thiên Chúa Cha và Chúa Con nhập thể được hiện diện và như thể trở nên hữu hình bằng cách chính Giáo hội tự đổi mới và không ngừng thanh luyện chính mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. (x. GS, 21).

Như vậy, Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng điều khiển dòng thời gian và canh tân bộ mặt trái đất với sự quan phòng kỳ diệu, đang hiện diện trong cuộc tiến hóa này. Men Tin Mừng đã và đang làm dậy lên trong lòng con người một đòi hỏi bất khả chống cưỡng về phẩm giá con người. (x. GS, 26). Mỗi người trong Giáo hội cũng luôn được canh tân, việc làm này của Chúa Thánh Thần mang lại điều mới mẻ cho toàn thể Giáo hội.

  1. Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội

Nếu Giáo hội chỉ nguyên là một cơ chế của loài người thì ai là người có đủ thẩm quyền để duy trì và thúc đẩy Giáo hội tiến bước trong hai ngàn năm qua. Nếu Đức Giêsu được coi là Đấng sáng lập, khi ngài qua đi thì môn sinh có đủ khả năng để duy trì và thúc đẩy phát triển như ngày nay không? Những điều giả sử này tưởng chừng như vẫn còn đang được đặt ra cho thế hệ hôm nay. Như vậy hẳn phải có một tư tưởng cao siêu nào đó vẫn âm thầm dẫn dắt và thúc đẩy Giáo hội đi về phía trước trong sự tin tưởng phó thác hoàn toàn.

Thật vậy, người tín hữu được sinh ra trong Giáo hội, họ được tháp nhập vào Giáo hội nhờ bí tích Thánh tẩy, họ được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, họ tuyên xưng đức tin đã lãnh nhận từ Thiên Chúa qua Giáo hội. Nhờ bí tích Thêm sức, họ liên kết với Giáo hội một cách hoàn hảo hơn, được ban cho sức mạnh đặc biệt của Chúa Thánh Thần, nên họ được thúc đẩy dùng lời nói, việc làm  để loan truyền và bảo vệ Đức tin như những chứng nhân đích thực của Đức Kitô. (x. LG, 11). Giáo hội vì thế mà luôn có những người, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, dám hiên ngang hy sinh tính mạng của mình để làm chứng cho sự hiện diện của Giáo hội giữa trần gian.

Hiến chế LG số 17 cũng ghi nhận:

Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội cộng tác thực hiện trọn vẹn ý định của Thiên Chúa là Đấng đã đặt Đức Kitô làm nguyên lý cứu độ cho toàn thế giới. Bằng việc rao giảng Tin mừng, Giáo hội chuẩn bị tâm hồn những người nghe để họ đón nhận và tuyên xưng đức tin giúp họ sẵn sàng đón nhận bí tích Thánh tẩy, đưa họ ra khỏi cảnh nô lệ của sự lầm lạc, nhập hiệp họ vào Đức Kitô, để nhờ đức ái, họ tăng trưởng trong Người cho tới khi đạt đến tầm vóc viên mãn.[16]

Cụ thể nữa, các giám mục là  những người loan truyền đức tin để đem nhiều môn đệ mới về vởi Đức Kitô, là những thầy dạy đích thực, nghĩa là được ban quyền bính của Đức Kitô, để rao giảng cho đoàn dân đã được trao phó cho các ngài đức tin họ phải nhận lãnh, và để soi tỏ Đức tin ấy dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, khi rút ra những cái mới cái cũ từ kho tàng mặc khải (x. Mt 13,52), các ngài làm cho đức tin trổ sinh hoa trái, và luôn tỉnh thức loại bỏ mọi lầm lạc đang đe dọa đoàn chiên mình (x. 2 Tm 4,1-14).[17] Như vậy, Giáo hội chưa khi nào thiếu những chứng nhân để giúp Giáo hội sống trong mầu nhiệm hiệp thông để làm vinh danh Chúa.

  1. Chúa Thánh Thần kiện toàn Giáo hội

Khi nhìn vào Giáo hội, người ta vẫn thường thấy Giáo hội vẫn còn những đổ vỡ những tổn thương ở một “bộ phận” nào đó. Những Công đồng trong qua khứ diễn ra cũng nhằm hàn gắn những vết thương và tự chữa lành mình. Phải chăng Giáo hội mà Đức Kitô thiết lập không hoàn hảo, không vững bền? Xin thưa rằng, Giáo hội luôn vững bền, vì chính Đức Giêsu đã xây dựng trên nền Đá Tảng và quyền lực tử thần sẽ không thắng được (x. Mt 16,18). Như vậy, Giáo hội thì luôn hiện diện, nhưng những con người trong Giáo hội thì chưa kiện toàn. Chính vì thế, Chúa Thánh Thần được sai phái đến để kiện toàn, kiện toàn những chi thể trong Giáo hội, cũng có nghĩa là kiện toàn Giáo hội.

Điều này đã được Hiến chế LG số 10 trưng dẫn:

Nhờ sự tái sinh và việc xức dầu Thánh Thần, những người đã nhận ơn Thánh tẩy được thánh hiến trở nên ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh, để qua mọi hoạt động của đời sống Kitô hữu, họ dâng những hy tế thiêng liêng và loan báo quyền năng của Đấng đã kêu gọi họ ra khỏi tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của Người (x. Pr 2,4-10). Vì thế, tất cả những môn đệ Đức Kitô, trong khi kiên tâm cầu nguyện và cùng nhau ca tụng Thiên Chúa (x. Cv 2,42-47), phải chứng tỏ mình là hy tế sống động, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa (x. Rm 12,1).[18]

Yếu tố đẹp lòng Thiên Chúa đã khiến cho các chi thể của Giáo hội ý thức việc kiện toàn bản thân mình hơn, nhờ ánh sáng soi của Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ biết bổn phận loan truyền và bảo vệ đức tin của mình như những chứng nhân đích thực của Đức Kitô (x. LG, 11).

Như vậy, Chúa Thánh Thần chỉ kiện toàn Giáo hội, những người đã tháp nhập vào Giáo hội lâu năm, đã có đức tin bền vững, hay Ngài còn làm gì hơn? Chắc chắn, ta không thể giới hạn ơn Chúa Thánh Thần và kế hoạch kiện toàn của Ngài. Như những người dự tòng, nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, họ có ý định rõ ràng xin gia nhập Giáo hội, thì do chính ước muốn ấy, họ đã kết hiệp cùng Giáo hội rồi; và Giáo hội là Mẹ hiền yêu thương sẽ săn sóc họ như những người con của mình. (x. LG, 14). Việc này cho thấy rằng, Chúa Thánh Thần không chỉ kiện toàn trong phạm vi thuộc Giáo hội mà còn mở rộng phạm vi cho những ai ước muốn thuộc về Giáo hội.

  1. Chúa Thánh Thần nơi các Tín hữu

Trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa, mọi thụ tạo được dựng nên không phải để sống riêng rẽ mà là sống bổ túc cho nhau. Cũng vậy, khi sáng tạo con người, Thiên Chúa không để con người cô độc mà mời gọi họ sống trong tình hiệp thông và liên kết. Như vậy, ngay từ khởi đầu lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã chọn gọi con người không phải với tư cách cá nhân mà là những phần tử của một cộng đoàn. Thiên Chúa đã tuyển chọn, cho họ biết ý định của Ngài, và gọi họ là “dân riêng của Ngài” (x. Xh 3,7-12).[19] Không dừng lại ở “dân riêng” ấy mà công trình của Chúa vẫn cứ tiếp tục, và cho đến thời Đức Giêsu thì mặc khải về dân này được hoàn tất. Điều này nghĩa là không chỉ một dân nào được cứu độ mà là toàn dân. Hiểu được điều này, chính Đức Giêsu đã mặc khải về Chúa Thánh Thần, Đấng được gửi đến (x. Ga 16,7) để ở cùng Giáo hội của Người.

Thật vậy, Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần được ca tụng là “Đấng thánh duy nhất”, đã yêu dấu Giáo hội như hiền thê của mình, đã hiến thân để thánh hóa Giáo hội (x. Ep 5,25-26), đã kết hiệp với Giáo hội như với thân mình Người và đổ tràn ơn Thánh Thần cho Giáo hội để làm vinh danh Thiên Chúa.[20] Chính đức Giêsu, thầy dạy và mẫu mực thần linh của mọi sự trọn lành, đã dạy cho tất cả và cho từng môn đệ, Người mời gọi họ: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Thật vậy, Người đã sai Thánh Thần đến với mọi người, để từ bên trong, Thánh Thần thôi thúc họ yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn (x. Mc 12,30), và yêu thương nhau như Đức Kitô yêu thương họ (x. Ga 13,34; 15,12).[21]

Nơi các tín hữu là cộng đoàn Dân Chúa, Công đồng chỉ rõ và cho thấy Chúa Thánh Thần đang hoạt động giữa họ như thế nào. Hiến chế LG số 12 ghi nhận:

Chúa Thánh Thần không chỉ thánh hóa, dẫn dắt Dân Chúa nhờ các bí tích và những tác vụ của Giáo hội và trang điểm Dân Chúa bằng những nhân đức, nhưng còn phân phát những ân sủng đặc biệt cho các tín hữu thuộc mọi cấp bậc, khi trao ban ân huệ “cho mỗi người theo ý Ngài muốn” (1 Cr 12,11), nhờ đó, Ngài làm cho họ nên thích hợp và sẵn sàng đảm nhận các công việc và chức vụ khác nhau để canh tân và xây dựng Giáo hội như lời các thánh Tông đồ: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12,7).[22]

Như vậy, Dân Chúa trong hành trình đức tin của mình luôn có Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn dắt chở che. Hẳn là vai trò của Chúa Thánh Thần đã được ban cho Giáo hội ngay từ khi bắt đầu khai sinh. Điều đó cũng có nghĩa là Chúa Thánh Thần được ban cho mỗi người tín hữu. Vì thế, khi đã được thánh hiến cho Đức Kitô và được Chúa Thánh Thần xức dầu, người giáo dân được kêu gọi và chuẩn bị cách kỳ diệu để trổ sinh ngày càng phong phú hơn những hoa trái của Thánh Thần (x. LG, 34).

KẾT LUẬN

Khi nghiên cứu về Giáo hội, có rất nhiều đề tài có thể được đặt ra và chất vấn mỗi người. Ai sống trong Giáo hội là sống trong mầu nhiệm thân mình Đức Kitô. Đức Kitô đã thiết lập Giáo hội, đặt Giáo hội giữa trần gian để nhân loại nhờ Giáo hội mà được cứu độ, điều này cũng có nghĩa là nhờ Đức Kitô mà con người được đón nhận Chúa Thánh Thần một cách rõ ràng, được biết đến lòng thương xót của Chúa Cha một cách gần gũi. Nhưng trong thực tế, người ta có thể đề cập nhiều đến Đức Giêsu đến lòng thương xót của Chúa Cha, còn Chúa Thánh Thần thì có vẻ mờ nhạt, Ngài là một ngôi vị rất dễ bị lãng quên trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong bài viết này, gợi lại hình ảnh Chúa Thánh Thần trong Giáo hội, cụ thể hơn là trong Công đồng Vaticanô II trong hai Hiến chế LG và GS để thấy vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần âm thầm hoạt động một cách kỳ diệu trong Giáo hội. Có thể nói rằng Chúa Thánh Thần là sự sống của Giáo hội. Nếu Giáo hội là thân mình Đức Kitô thì Chúa Thánh Thần là sự sống của thân mình ấy. Đạo lý này đã được Công đồng Vaticanô II trình bày một cách xuyên suốt. Đặc biệt Hiến chế LG và GS làm nổi bật vai trò của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội. Một Giáo hội được Chúa Thánh Thần thánh hóa, dạy bảo, canh tân, thúc đẩy và kiện toàn chắc chắn Giáo hội ấy sẽ bền vững và phát triển trong Chúa Thánh Thần. Vì chỉ trong Chúa Thánh Thần, Giáo hội được liên kết mật thiết với Đức Kitô và với lòng thương xót của Chúa Cha. Do đó, không thể sống trong Giáo hội mà không có Đức Kitô, cũng không thể sống trong Đức Kitô mà không có Chúa Thánh Thần.

Giu-se Trịnh Văn Cung, MF

 

[1] Felipe Gómez, Giáo Hội học, Antôn & Đuốc Sáng, 2017, tr. 219.

[2] Chẳng hạn: “các thánh,” “Kitô hữu,” “tín hữu,” “môn đồ của người Galilêa,” “khách lữ hành,” “dân được tuyển chọn,” “dân thánh,” “dân Thiên Chúa,” “huynh đệ,” “Ítraen mới, hoặc của Thiên Chúa, hoăc Ítraen thực,” “đền thờ Thiên Chúa,” “nhà Thiên Chúa,” “dòng dõi Abraham,” “Nước Trời,” “Thân mình Ðức Kitô,” “vườn nho,” “đàn chiên...” v.v, và nhiều hơn chúng ta có thể đọc được trong Tân Ước.

[3] Ibid., Felipe Gómez, tr. 219.

[4] Ibid., Felipe Gómez, tr. 221-225.

[5] Phần này trích từ bài viết: “Vài nét khái quát về Công đồng chung Vatican II”, http://www.tonggiaophansaigon.com/baiviet-tintuc/20121017/18802, truy cập ngày 14/12/2017.

[6] x. John W. O’ Malley, Những điều đã xảy ra tại Công đồng Vaticanô II, Nd. Nguyễn Đức Thông, Phương Đông, 2015, tr. 6.

[7] Ibid., John W. O’ Malley, tr. 14.

[8] Nguyễn Văn Trinh, Giáo hội học, Phương Đông, 2015, tr. 12.

[9] x. CĐ Vaticanô II, LG, 1.

[10] x. Trần Đình Khả, Sống tâm linh Kitô giáo, Người tín hữu, 1999, tr. 237.

[11] CĐ Vaticanô II, LG, 4.

[12] Ibid., Nguyễn Văn Trinh, tr. 45.

[13] CĐ Vaticanô II, LG, 40.

[14] x. CĐ Vaticanô II, LG, 4.

[15] x. CĐ Vaticanô II, LG, 7.

[16] CĐ Vaticanô II, LG, 17.

[17] x. CĐ Vaticanô II, LG, 25.

[18] CĐ Vaticanô II, LG, 10.

[19] x. CĐ Vaticanô II, GS, 32; LG, 9.

[20] CĐ Vaticanô II, LG, 39.

[21] x. CĐ Vaticanô II, LG, 40.

[22] CĐ Vaticanô II, LG, 12.