Đặc Tính Chiêm Niệm Và Hoạt Động Của Người Thừa Sai Đức Tin Tại Việt Nam

Dẫn nhập

Ngày 11/10/2014, tổng tu nghị dòng Thừa Sai Đức Tin (TSĐT) tại Roma đã kết thúc với phần thông qua bản tu chính linh đạo và hiến pháp. Bức chân dung người TSĐT được các nghị phụ phác họa như là người được kêu gọi để sống cách đặc thù và sâu xa niềm tin, thậm chí đến mức hiến dâng mạng sống. Trọn cuộc sống của họ là để làm vinh danh Chúa, để gia tăng việc nên thánh và để rao giảng tình yêu Chúa cho mọi người. Họ kết hiệp mật thiết với Người trong Đức Giêsu Kitô qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, để luôn sẵn sàng cho sứ vụ, và hiến dâng bản thân cho những hoạt động tông đồ trong hân hoan và nhiệt thành. Do đó, người TSĐT khao khát sống kế hoạch huyền nhiệm này, và giúp anh chị em khác cũng sống kế hoạch này. Họ ý thức việc sống ân sủng để vui mừng trong đức tin, nhờ đức tin và vì đức tin.[2] 

Vậy đâu là cốt lõi và nguồn mạch để người TSĐT có thể làm được việc này? Câu trả lời nằm ngay ở bản chất của đặc sủng sáng lập dòng. Bên cạnh đó, bối cảnh xã hội Việt Nam là một quốc gia thuộc vùng châu Á, vốn chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo và Lão giáo rất sâu đậm qua nhiều năm. Một cách cơ bản, bối cảnh sống người dân Việt Nam, vốn ưa thích chiêm niệm,[3] nói với người TSĐT rằng, từ nơi sâu thẳm của hiện hữu, họ cũng rất khao khát những giá trị Tuyệt đối, những khát vọng hướng thượng. Chính điều kiện đặc thù này thôi thúc những người TSĐT thực thi việc đáp trả ơn gọi của mình cho tiếng gọi ngôn sứ giữa lòng dân tộc,[4] để góp phần xây dựng Giáo hội của Đức Kitô trong bối cảnh đất nước Việt Nam.[5] Bài viết này xin chia sẻ một vài suy tư sơ khởi về đặc tính chiêm niệm – hoạt động của người TSĐT trong lòng Giáo hội Việt Nam.

Hiện hữu để trở thành người TSĐT

Đối với Kierkegaard,[6] hiện hữu nghĩa là nhận ra bản thân qua một cuộc dấn thân cho những chọn lựa như một chủ thể tự do. Nếu đời sống chiêm niệm là nguồn mạch để một hữu thể có ý nghĩa, thì hiện hữu để trở thành người TSĐT có nghĩa là “đốt cháy” đời mình qua việc hiến dâng bản thân để trở thành món quà của sự sống.[7] Đề cập đến vấn đề này, Kiekegaard cho rằng, sự dấn thân đó phải là một chủ thể hoàn toàn và cá vị qua cái gọi là “khát vọng nội tại” (passionate inwardness), vốn phát xuất từ kinh nghiệm chiêm nghiệm của từng cá nhân. Trên thực tế, để trở thành một cá thể độc lập, họ phải có những chọn lựa. Họ phải trở thành cá vị để trở thành một Kitô hữu, và trở thành một Kitô hữu để trở thành người.[8] Một thái độ “khát vọng nội tại” chính là cách thức người TSĐT khám phá ra bản thân mình hiện diện giữa lòng thế giới, để trở thành chứng nhân (x. Cv 1,8) rao giảng về lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa,[9] về một tình yêu luôn mời gọi và về một dấu chỉ hiện diện của Thiên Chúa. Từ kinh nghiệm của hành trình nội tâm qua đời sống chiêm niệm, người TSĐT phải cảm nhận được mời gọi trở thành chứng nhân về niềm tin cách mạnh mẽ và can đảm cho con người thời nay để giúp họ quay về cùng Chúa Cha nhờ chính Đức Giêsu là Đấng cứu độ, Đấng là nguồn sung mãn của sự sống và nguồn mạch của niềm vui.[10] Bằng cách thế hiện hữu này, người TSĐT sẽ tìm được chính mình và trở nên có ý nghĩa và sẽ sinh hoa trái giữa lòng giáo hội. Họ sẽ đặt câu hỏi: “Tôi là ai?” thay vì phải hỏi: “Tôi là gì?” Câu hỏi này sẽ dẫn dắt họ khám phá ra sự hiện diện của mình trên trần gian này, đồng thời giúp họ đi vào lộ trình của sự chuyển đổi trong đời sống từ tình trạng bản chất sang tình trạng hiện hữu.

Qua việc thánh hiến bởi các lời khấn, người TSĐT được giải thoát khỏi mọi thứ phù phiếm của thế gian để trở nên chính mình. Họ sẽ chỉ ước muốn điều độc nhất, và điều độc nhất đó không thể là thứ gì đó khác ngoài điều thiện hảo.[11] Tâm trí họ chỉ hướng tới và ước muốn điều thiện hảo, và cái bản ngã chỉ còn tập trung vào điều thiện hảo tối thượng là Thiên Chúa. Đồng thời, điều thiện ở đây không phải là thứ gì đó bên ngoài, nhưng ở bên trong họ. Thêm vào đó, giống như phúc kiến là tình trạng được chúc phúc của linh hồn chiến đấu, thì lộ trình là sự biến đổi liên lỉ của linh hồn chiến đấu. Nhờ việc nhìn vào nội tâm mà họ khám phá ra điều thiện hảo – điều chú trọng ở đây, là cho phép họ định hướng đời mình, họ tìm thấy cái toàn vẹn và tránh được cái đau đớn không thể tránh khỏi là khuynh hướng nước đôi (double minded). Đây chính là cách thức mà người TSĐT khám phá ra ơn gọi của bản thân trong chính căn tính của mình.

Để nhận biết đâu là điều thiện hảo, họ có thể dựa trên những xung động của bản năng: chẳng hạn những suy tưởng và cảm xúc dựa trên tình yêu, lòng thương xót, và tự nhận thức... Bổn phận tiếp theo trong hành trình nội tâm là, trong mỗi quyết định, để kiếm tìm sự đáp trả cách cân xứng, họ có thể tập trung và hành động bằng tất cả khả năng của mình. Làm như thế giúp họ gia tăng những thói quen tích cực và giảm thiểu tiêu cực, qua việc chiêm ngắm tuyệt đối trong chiêm niệm. Vì thế, “linh hồn chiến đấu” giờ đây tiến hành cuộc “biến đổi liên lỉ” qua việc theo đuổi cái toàn thể, đó là một tâm trí tự do hoàn toàn khỏi tham lam, oán ghét, và ảo tưởng. Trong viễn cảnh này, họ đang mang điều thiện hảo vào trong hiện hữu của họ. Sự theo đuổi điều thiện hảo này bao hàm cả việc tự kiểm thảo không ngừng trong những thời khắc chọn lựa.[12] Đối với người TSĐT, họ hoàn toàn say mê và được cuốn hút bởi “tác vụ hiến dâng để phục vụ anh em mình, trên hết là các linh mục, để bảo tồn trong niềm tin Công giáo và những tác vụ liên quan đến gia sản này, để khơi động đời sống đức tin nếu bị suy yếu, để tìm lại nếu đã lạc mất, để đạt đến một sự tuyên xưng trọn vẹn nếu chưa thật sự vững tin, chính là phận vụ mà họ xả thân vì lợi ích của Giáo hội.”[13] Theo đó, ơn gọi của người TSĐT không chỉ làm khơi động nơi chính họ mà còn giúp anh chị em khác nhận ra căn tính kitô hữu của mình trong Giáo hội, để đời sống của họ cũng sinh nhiều hoa trái, nhược bằng, họ chẳng thể làm được gì (x. Ga 15,5).

Đơn độc trước Tuyệt đối

Do hành vi chọn lựa dấn thân của mình, người TSĐT sống đời mình trong ân sủng và chỉ có thể triển nở trong ân sủng, vốn là một ân ban siêu nhiên để kiện toàn đời sống tự nhiên.[14] Chính họ sẽ phải hoạch định đời mình trong cuộc phiêu lưu kỳ diệu của ân sủng để đi vào hành trình nội tâm,[15] hầu có thể đi vào hành trình nội tâm, một hành trình để khám phá ra chương trình của Thiên Chúa dành cho từng người trong từng bối cảnh cụ thể.[16]

Khi nói về hành trình nội tâm, Kierkegaard cũng đề cập đến vấn đề cá thể hiện hữu, vốn là một hành trình đơn độc trong suốt cuộc đời, ngay cả khi hiện hữu trước Tuyệt đối, để đời mình trở nên có ý nghĩa. Ở góc độ này, ông nhìn nhận sự chọn lựa dưới lăng kính của một khát vọng vượt ra khỏi bản thân để vươn tới một “cái gì đó” bên ngoài. “Cái gì đó” ở đây hoàn toàn vượt lên khả năng của họ và giúp họ chạm đến thực tại toàn hảo, là Thiên Chúa.

Kierkegaard giữ quan điểm rằng việc vươn tới thực tại toàn hảo không thể khởi đầu bằng việc bắc ngang vực thẳm của hoài nghi giữa bản thân và Thiên Chúa. Họ không thể thu gom bằng chứng để chứng minh khách thể của niềm tin, như thể một lỗ hổng được lấp đầy. Đối với họ, chủ thể kiếm tìm phải trải nghiệm bản thân mình vào việc tiếp cận Thiên Chúa. Họ phải sống cho chân lý; phải biến bản thân mình thành hoa trái của việc chiêm ngắm chân lý. Tuy nhiên, chủ thể vì thế không phải là chủ thể độc đoán. Đúng hơn, chân lý không thể đến với họ nhờ các công thức toán học căn bản, mà phải bằng toàn thể hiện hữu của họ,[17] nghĩa là phải qua sự trải nghiệm của bản thân. Ở khía cạnh này, các vị sáng lập dòng TSĐT hoàn toàn đồng ý với quan điểm của Kierkegaard khi mong muốn các thành viên của mình phải “ở lại lâu giờ trong thinh lặng với Đấng tác tạo linh hồn.[18]

Theo quan điểm Kierkegaard, một tâm trí bị phân đôi là tâm trí không thể bình an tự bản chất. Khi họ khao khát những mục đích mâu thuẫn nhau, thì tâm trí chẳng có cơ may tìm thấy sự hài hòa; mà luôn có sự hỗn loạn, xung đột, và mập mờ. Khi tâm trí cùng lúc đi vào hai hướng, họ không thể tránh khỏi đau khổ; họ sẽ mãi mãi bồn chồn lo âu, không thỏa mãn và hoài nghi về chính bản thân mình, bởi trên thực tế, họ đã hoàn toàn được thánh hiến cho Thiên Chúa qua các lời khuyên Phúc Âm.[19]

Kierkegaard xem việc ước muốn điều độc nhất như việc có một tâm trí hợp nhất xoay quanh một nguyên lý được thiết lập làm cho cuộc đời của họ có ý nghĩa và có mục đích. Trong việc dấn thân hoạt động tông đồ, họ được khơi động nơi sâu thẳm của cõi lòng rằng, việc đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa là duy nhất, dù họ sống trong bậc giáo sĩ hay tu sĩ. Chính điều này khơi động trong tâm hồn họ niềm đam mê “thực hành, trên tất cả, bất cứ hình thức tông đồ nào hỗ trợ các linh mục và tu sĩ, để giúp họ nên thánh trong ơn gọi của họ và trong sự khiêm tốn vâng phục Hội thánh, để hỗ trợ và nâng đỡ họ trong tình huynh đệ, để giúp đỡ và phục hồi niềm tin đối với những ai đang gặp khó khăn và hoài nghi.[20]

Nên một với Thiên Chúa

Lời Đức Giêsu “Con người không chỉ sống nhờ cơm bánh” (Mt 4,4; Lc 4,4) nhằm nói rằng, người TSĐT không chỉ sống nhờ vào vật chất hay của cải trên thế giới. Họ còn có thứ gì đó khác hơn, nhiều hơn toàn bộ số của cải trên thế giới, thậm chí trổi vượt hơn toàn thể số lượng của cải trong vũ trụ.[21] Thứ gì khác hơn đó làm cho họ có sự sống vĩnh cửu, dựa trên “mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4; Xh 8,3), và nó được gọi là Linh đạo. Linh đạo đặc thù của người TSĐT “được phác họa bởi đức tin, bởi sứ vụ và bởi đặc sủng sáng lập.”[22] Vì thế, không ai khác mà chính người TSĐT phải sống linh đạo chiêm niệm và hoạt động cách sung mãn, bởi đời sống của người TSĐT phải luôn được nuôi dưỡng bằng một đời sống nội tâm sâu xa dựa trên nền tảng đức tin.[23]

Garrigou-Lagrange trong tác phẩm “Christian Perfection and Contemplation” cho rằng, một người sống một đời sống đức tin cảm nghiệm cùng một “ân sủng của các nhân đức và ân ban” như một người sống đời sống cầu nguyện thần bí. Quan điểm này dựa trên nền tảng giáo huấn của thánh Tôma, vốn cho rằng các nhân đức luân lý Kitô giáo về đức tin, đức cậy và đức mến là những nhân đức siêu nhiên bởi khách thể ở đây rõ ràng là chính Thiên Chúa. Người ta không thể đạt đến bằng lý trí, nhưng bằng ân huệ của Thánh Thần để thanh luyện các nhân đức đã đạt được như khôn ngoan, công bình, tiết độ, và nhẫn nại.[24] Với người TSĐT, những nhân đức này được phú bẩm trong tâm trí qua việc thánh hiến, đưa họ đến một hiểu biết và cảm nghiệm Thiên Chúa đầy đủ hơn qua đức tin, vốn là một hình thức hiểu biết để suy lý, chẳng hạn như tri thức về những nguyên lý thì trổi vượt hơn tri thức những cảm giác. Vinh phúc trực quan thì trổi vượt hơn tri thức về Thiên Chúa qua đức tin. Theo ông, yếu tính siêu nhiên của đức tin làm cho nó thành một cách thức mà khi được thực hành và thanh luyện, nó hoàn toàn dẫn đến việc chiêm nghiệm thiên phú.[25]

Đối với Garrigou-Lagrange, việc thực hành đời sống hoạt động và khổ hạnh để đạt được nhân đức cùng với các hoạt động từ thiện bên ngoại là một sự chuẩn bị cho đời sống chiêm niệm thiên phú,[26] trong khi linh hồn được thanh luyện qua việc thực hành các nhân đức thiên phú. Trạng thái hiện hữu này được cho là thụ động bởi trạng thái hiện hữu trong thanh luyện không còn hoạt động cho chính họ nữa mà được Chúa Thánh Thần phú bẩm[27] và vì thế, “luôn được Thiên Chúa hướng dẫn trực tiếp”[28] Điều này giải thích cách hiểu “cầu nguyện siêu nhiên” của thánh Têrêsa, trong đó một người ở trạng thái chiêm niệm thiên phú không còn tự ý mình cầu nguyện với Thiên Chúa, nhưng chính Chúa Thánh Thần bên trong cầu nguyện với Thiên Chúa (x. Rm 8,26).

Dưới góc nhìn của Garrigou-Lagrange, nếu linh hồn được hoàn thiện nhờ việc thực hành các nhân đức thiên phú, nghĩa là, nếu sự hiện hữu đó được Chúa Thánh Thần thanh luyện và không còn tự mình hành động nhưng để Thiên Chúa hành động theo cách tốt nhất, thì họ đang cảm nghiệm trạng thái hiện hữu cánh chung và hoàn toàn hiện diện trước nhan Chúa. Họ đã được hưởng phúc diện kiến Thánh Nhan.

Thông thường, trạng thái hiện hữu cánh chung được các linh hồn trên thiên đàng cảm nghiệm. Các linh hồn trên thiên đàng là những người có một “trực giác và thị kiến trực tiếp” về Thiên Chúa.[29] Ơn gọi của người TSĐT chính là để đi đến kinh nghiệm này và sau đó truyền lại kinh nghiệm này cho người khác. Họ được mời gọi sống để cảm nghiệm thị kiến trực tiếp này như là vận mệnh của đời họ,[30] và phúc kiến chính là cùng đích cho đời sống ân sủng của họ. Khúc dạo đầu của phúc kiến là sự thanh luyện các cảm giác, cũng được gọi là lần “hoán cải thứ hai”, lần thứ nhất diễn ra khi họ hiến dâng đời mình để phục vụ Thiên Chúa.[31] Lần hoán cải thứ hai xảy ra trong thời kỳ thanh luyện hay trong cuộc đời họ thông qua việc thực hành các ân sủng thiên phú, vốn đưa đến hoàn tất việc thanh luyện tính vị kỷ, nghĩa là tính ích kỷ được thay thế bằng tình yêu thánh.

Sự thanh luyện, hay còn gọi là thánh hóa cao độ bị ngăn cản bởi tính ích kỷ, trong đó nó làm méo mó động lực hay mục tiêu các hành vi nhân đức của một con người. Theo lẽ tự nhiên, họ dễ dàng và thông thường bị sao nhãng cách vô thức bởi sự ngưỡng mộ của người khác vì những hành vi nhân đức, và sau đó quay sang chú tâm tìm kiếm thêm sự ngưỡng mộ khác. Xâu chuỗi để tránh khỏi cạm bẫy này này là cầu nguyện. Cầu nguyện là cách thức mà họ có thể liên lỉ quy hướng tâm trí về Chúa và những điều thánh để làm suy giảm tính ích kỷ đi đến loại bỏ hẳn. Theo cách thức này, trò chuyện thân mật với Chúa, vốn là nền tảng đời sống nội tâm, sẽ dần dần thế chỗ cho cuộc trò chuyện với chính bản thân.[32]

Đời sống thiêng liêng, vì thế, đóng vai trò trung tâm trong kế hoạch đời sống của người TSĐT, để rồi, nhà dòng và tất cả các cộng đoàn phải hiện diện như những trường học trung thực về linh đạo Tin mừng. Kết hiệp với Chúa là phương tiện giúp họ sống đức tin và nuôi dưỡng nó trong anh chị em mình.[33] Linh đạo TSĐT, số 45 ghi rõ:

“Đặc trưng chiêm niệm – hoạt động của dòng là một đặc sủng, và không chỉ đòi buộc qua khẩu nguyện, mà còn bằng tâm trí và trong sự hiệp nhất cầu nguyện. Cầu nguyện là một cuộc đối thoại của tình yêu với Đấng Lang Quân của linh hồn, một cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu trong nhà tạm của tâm hồn mỗi người và trong Thánh Thể. Để có một đời sống nội tâm mãnh liệt, cuộc sống người TSĐT cần phải liên lỉ đối thoại với Ba Ngôi chí thánh. Một linh đạo vững vàng và sâu thẳm là một ưu tiên hàng đầu, được khắc ghi trong tâm khảm của đời sống thánh hiến.”

Điều này minh họa cho xác tín của họ rằng, chỉ có một ơn gọi thiết yếu của Kitô hữu. đó là ơn gọi trở thành môn đệ cách triệt để: để làm một cuộc siêu thoát hoàn toàn hướng về Thần Khí nơi tâm hồn của họ. Để sống chiêm niệm như một người TSĐT, chỉ đơn giản là sống sung mãn tinh thần môn đệ kitô hữu trong chiều sâu của hiện hữu, để gạt qua cái tôi ích kỷ để bước theo Thầy chí thánh qua việc siêu thoát để trở về cùng Cha. Để thực hiện đòi hỏi này, họ phải bắt đầu di chuyển từ tâm trí xuống con tim, từ niềm tin của trí năng đến sự cảm nhận của con tim. Quá trình đào sâu ý thức này, vốn là trung gian của việc khơi động và quy hướng, được gọi là “cảm nghiệm”. Truyền thống của dòng chính là sức sống và nền tảng căn bản cho cảm nghiệm riêng tư này.

Liên hệ trong đời thường

Đời sống của một con người vốn mang tính cá vị và thống nhất, nó không thể bị phân mảnh thành từng lãnh vực. Sống đời sống của mình là làm cho đời mình trở nên hòa điệu với toàn thể thực tại. Ơn gọi của người TSĐT là một thực tại vòng tròn; một người gọi và một người đáp trả ơn gọi để tạo nên một vòng tròn khép kín của thực tại này. Thiên Chúa chọn gọi họ và họ đáp trả ơn gọi của Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa mở ra một quỹ đạo cho từng người để họ bước vào kế hoạch nhiệm mầu và làm hoàn tất quỹ đạo đó bằng sự đáp trả lời mời gọi của Chúa. Bao lâu họ chưa đáp trả ơn gọi của đời mình, bấy lâu thực tại vẫn còn đó một sự dang dở. Nó cũng bao gồm hai chiều kích, cảm nghiệm và chia sẻ cảm nghiệm. Ơn gọi trở thành người TSĐT được khai sinh trong chiêm niệm, từ những giây phút nhiệm hiệp nội tâm và mối liên hệ bạn hữu thâm sâu với Đức Kitô, và trong sự dấn thân để chia sẻ kinh nghiệm này qua những sứ vụ cụ thể của mình. Linh đạo số 26 nói với họ rằng:

Đức Giêsu kêu gọi các tông đồ, trước hết là để ở với Người (to be with him) và sau đó để được sai đi rao giảng (to be sent out) (x. Mc 3,13-15). Vì thế, đối với người TSĐT, công việc tông đồ không chỉ đơn thuần là hoa trái của việc lưu lại với Thầy chí thánh của mình, mà như một sự kết hiệp hài hòa giữa thánh hiến và sứ vụ, giữa chiêm niệm và hoạt động.[34]

Nếu chiêm niệm của người TSĐT là phương thức nhằm đạt đến sự bình an và chữa lành thánh, thì chia sẻ hoa trái của chiêm niệm lại là phương thức khác nhằm đạt đến bình an và tình yêu. Nếu chiêm niệm là phương thức căn bản nhất nhằm kín múc nguồn năng lượng thần linh, thì chiêm niệm cũng là nguồn mạch hữu hiệu nhất đưa đến hoạt động, bởi đó chính là năng lượng của niềm tin và tình yêu. Từ đó phát sinh nguồn năng lượng cao cả nhất của đời họ, bởi nó tuôn trào từ tình yêu nơi thâm sâu của hữu thể. Nguồn năng lượng này giúp người TSĐT kiến tạo, biến đổi và xây dựng thế giới. Các nhà khoa học ngày nay đồng ý rằng: chiêm niệm là một uy lực trong đời sống, nghĩa là nó có sức mạnh hơn năng lượng hạt nhân.[35] Đối với người TSĐT, nguồn năng lượng mạnh hơn năng lượng hạt nhân cho đời sống hoạt động lại được bén rễ trong đời sống chiêm niệm. Đó là “sự kết hợp hài hòa giữa thánh hiến và sứ vụ, giữa chiêm niệm và hoạt động.”[36]

Chính hoa trái của chiêm niệm dẫn đắt người TSĐT trở lại đời sống thường ngày bằng một viễn cảnh mới. Họ toàn tâm trao hết năng lực và hiến dâng cho Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi hoạt động. Khi chạm đến Cội rễ là Nguồn sự sống qua chiêm niệm, nguồn sáng thần linh nơi chính thâm sâu của hữu thể sẽ thúc giục họ đến những trung tâm của hoạt động tông đồ. Đến lượt mình, họ can đảm đối diện với thế giới của khổ đau, của bạo lực mà không do dự, họ nhìn nhận những thực tại đó bằng con mắt đức tin và dâng tặng cho thế giới bằng một tình yêu, sự chữa lành và bình an, vốn trước hết có thể chỉ xuất hiện qua xúc cảm, tuy nhiên, lại thường dựa trên một nền linh đạo về xã hội và chính trị vững chắc.

Kinh nghiệm được “chạm” đến Chúa không ngừng và liên lỉ qua việc chiêm niệm giờ đây biến đổi thành động lực và biến thành niềm khao khát được trở thành một kitô hữu, một tu sĩ giữa lòng dân tộc Việt Nam. Chính kinh nghiệm này giúp họ khám phá ra niềm khao khát Tuyệt đối của họ. Niềm khao khát này cũng thôi thúc họ một sự đáp trả tận căn để trở nên một con người, một người con Chúa, và một tu sĩ TSĐT, cũng như để đi đến cùng định mệnh của mình, là định mệnh làm người.

Kết luận

Hiện diện trong Chúa và hiện diện giữa lòng thế giới là hai đặc tính phác họa căn tính của người TSĐT. Họ ý thức được Chúa là Đấng họ gặp gỡ và sau cùng họ nhận ra rằng trong mỗi tình huống của đời mình và trong sứ vụ, Chúa là Đấng quan trọng nhất. Và chính họ phải biết rõ rằng, hiện diện giữa lòng thế giới bằng sự liên đới với tha nhân là con đường duy nhất để họ hiện diện trong Chúa.[37] Cách sống của người TSĐT chỉ cho mọi người thấy rằng còn có một chiều kích khác của cuộc đời, và cuộc đời mỗi người còn có thể sống ở một chiều kích sâu xa hơn nếu họ để cho Thiên Chúa bước vào đời họ và đồng hành với họ. Đây chính là chiều kích chiêm niệm của đời sống.[38]

Cuộc lữ hành trần thế của người TSĐT có thể nói, là tồn tại trong hai thời khắc, chiêm niệm và hoạt động. Môi trường chiêm niệm là khoảng thời gian hoán cải thánh, và việc thanh luyện tình yêu lần thứ hai, vốn hoạt động trực tiếp bên trong; đồng thời khơi gợi một tình yêu đáp trả đong đầy bằng niềm tin. Môi trường hoạt động được thực hành trong suốt hành trình phục vụ nhằm chia sẻ hoa trái về kinh nghiệm của chiêm niệm.[39] Trong hai thời khắc này, thì cuộc đời chiêm niệm là nguồn mạch, là động lực cho cuộc đời hoạt động. Chiêm niệm để hoạt động và hoạt động trong chiêm niệm. Một khi môi trường chiêm niệm đã được biến đổi thành động lực sống, người TSĐT sẽ dấn thân để “cử hành” đời mình những niềm say mê trở thành người và khát vọng vươn với siêu việt. Để được thanh thoát chọn lựa ý nghĩa cuộc sống, không chỉ tâm trí người TSĐT phải được thanh luyện khỏi những lầm lỗi, dốt nát, cứng đầu, và sự mù quáng thiêng liêng, mà còn phải thoát khỏi sự hiếu kỳ, vốn quá chú tâm vào những điều thứ yếu và xem nhẹ điều chính yếu. Một khi tâm trí chỉ quy hướng về Chúa rồi, thì vận mệnh sau cùng của người TSĐT là vì phần rỗi của các linh hồn.

Nếu việc bước theo Đức Kitô là quy luật tối thượng[40] của tu sĩ, cách cụ thể với người TSĐT, thì chiêm niệm là phương tiện giúp họ sống đức tin, và nuôi dưỡng đức tin trong anh chị em mình. Chọn lựa ưu tiên này phải được tăng tiến trong dấn thân của từng cá nhân và cộng đoàn; nơi mà hoa trái tông đồ nảy sinh, chẳng hạn như lòng quảng đại yêu thương người nghèo, và nó phải được duy trì cho thế hệ sau. Đó chính là hoa trái thiêng liêng của đời sống thánh hiến. Chính nơi hoa trái này mà những người sống cùng thời với mình được khơi động niềm tin và sống niềm tin sung mãn, và nhờ đó, đời sống thánh hiến của người TSĐT được biến đổi thành một chứng nhân sống động.[41] Bằng cách này, người TSĐT lại càng sống hết mình hơn cho Đức Kitô và cho Dân của Người là Giáo hội (x. Col. 1:24). Càng nhiệt thành sống lý tưởng, thì người TSĐT càng được tháp nhập vào Đức Kitô bằng chính sự trải nghiệm cuộc đời cho sứ vụ, như món quà tặng của sự sống;[42] và đời sống càng phong phú, thì Giáo hội càng sống động và sung mãn qua những hoa trái tông đồ của người TSĐT giữa lòng giáo hội Việt Nam.

Nguyên Minh, MF

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Vatican II, Perfectae Caritatis (Sắc lệnh Canh Tân và thích nghi đời tu), 1965.

Thánh Bộ Tu Sĩ và Các Tu Hội Đời. Contemplative Dimension of Religious Life. Plenary of the Sacred Congregation for Religious and for Secular Institutes, 1980.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Thư Mục Vụ.1980.

Dòng Thừa Sai Đức Tin. Sắc Lệnh Thành Lập Dòng. Roma, 1982.

Dòng Thừa Sai Đức Tin. Linh Đạo và Hiến Pháp. Roma, 2012.

Bản đúc kết của tổng tu nghị dòng Thừa Sai Đức Tin từ ngày 01/09/2014 đến 15/10/2014.

Gioan Phaolô II. Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến. 1996.

Gioan Phalô II, Tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu. 1998.

Merton, Thomas. Essential Writings. Christine M. Bochen (Sel. & Intro.). New York: Orbis Books, 2005.

Soren Kierkegaard. Concluding Unscientific Postscript to the Philosophical Crumbs. Hannay, Alastair (ed.). New York: Cambridge University Press, 2009.

Thomas D’sa, “Creative Contemplative Dimension in Religious: Priestly Formation from an Indian Perspective”, Vidyajoti 71, 2007

Krishnananda, Sri Swami. Spiritual Import of Religious Festivals.Rishikesh: The Divine Life Society, 2006.

Garrigou-Lagrange. Christian Perfection and Contemplation. North Carolina: Saint Benedict Press, 2009.

Nemeck, Francis Kelly & Coombs, Marie Theresa. The Spiritual Journey: Critical Thresholds and Stages of Adult Spiritual Genesis. Wilmington: Michael Glazier, 1987.

Reginald Garrigou-Lagrange. The Three Ages of the Interior Life. Vol. 2/2. St. Louis: B. Herder Book Co, 1951.

Edward Schillebeeckx, Dominican Spirituality or The “Counter-Thread” in the Old Religious Story as The Golden Thread in the Dominican Family-Story. Truy cập tại http://www.dominicanwitness.com/?page_id=1042

Kierkegaard, The Individual. Truy cập tại http://fuckyeahexistentialism.tumblr.com/post/2568463902/kierkegaard-the-individual

Kierkegaard, Purity of heart is to will one thing. Truy cập tại http://digitalcommons.pepperdine.edu/ ngày 13.03.2014

 

Chú thích

[1] Bài viết dựa trên ý tưởng đề tài tiểu luận cuối khóa “Chiều Kích Chiêm Niệm Trong Đời Tu: Nguồn Động Lực Cho Sứ Vụ” của tác giả, đã được đăng trong Kỷ Yếu Học Viện Đaminh năm 2014.

[2] x. Bản đúc kết của tổng tu nghị dòng Thừa Sai Đức Tin từ ngày 01/09/2014 đến 15/10/2014.

[3] x. Gioan Phalô II, Tông huấn Giáo Hội Tại Á Châu, số 23.

[4] x. Thư Chung của HĐGMVN năm 1980, số 10.

[5] x. Lời nhắn nhủ của Đức thánh cha Benedict XVI nhân chuyến Ad Limina của HĐGMVN năm 2009.

[6] Sören Kierkegaard (1818-1855) là một trong những triết gia hiện sinh Kitô giáo nổi bật vào giữa thế kỷ 19. Ông viết nhiều tác phẩm nhằm bảo vệ niềm tin và tôn giáo. Ông được xem là ông tổ của triết học hiện sinh.

[7] x. Dòng Thừa Sai Đức Tin, Linh đạo và Hiến Pháp, Roma, 2012. (Sau đây sẽ ghi tắt: Linh đạo TSĐT, số…).

[8] x. Kierkegaard, The Individual. Retrieved at http://fuckyeahexistentialism.tumblr.com/post/2568463902/kierkegaard-the-individual

[9] x. Linh đạo TSĐT, số 1.

[10] x. ibid., số 1.

[11] Kierkegaard cho rằng, chính họ phải chọn lựa ý nghĩa sống và chính họ phải sống đời mình. Không ai có thể thay thế cuộc đời của họ, bởi họ có tự do để chọn lựa. Và suy cho cùng, thì chính họ tạo nên lý do, và họ cũng biết rằng lý do đó không đầy đủ để giải thích chọn lựa của mình, thậm chí ngay cả khi lựa chọn đứng trước Tuyệt đối.

[12] x. Kierkegaard, Purity of heart is to will one thing. Truy cập tại http://digitalcommons.pepperdine.edu/ ngày 13.03.2014

[13] Congregation of the Missionaries of Faith, Decree of canonical erection; Linh đạo TSĐT, số 14.

[14] x. Linh đạo TSĐT, số 16.

[15] x. ibid., số 19.

[16] x. Hiến pháp TSĐT, số 27, 46, 106.

[17] Kierkegaard, Concluding Unscientific Postscript. 57

[18] Linh đạo TSĐT, số 47 & 48.

[19] Ibid., số 57.

[20] Ibid., số 23 §1.

[21] Sri Swami Krishnananda, Spiritual Import of Religious Festivals (Rishikesh: The Divine Life Society, 2006), 256.

[22] Linh đạo TSĐT, số 26.

[23] x. Ibid., số 26.

[24] Garrigou-Lagrange. Christian Perfection and Contemplation (North Carolina: Saint Benedict Press, 2009), 60, 61.

[25] Garrigou-Lagrange. Christian Perfection and Contemplation, 77.

[26]Infused contemplation”, chiêm niệm thiên phú, là ơn siêu nhiên qua đó trí khôn và ý chí của một người hoàn toàn tập trung vào Chúa. Dưới ảnh hưởng này, trí tuệ nhận các soi sáng đặc biệt để nhìn các việc của tinh thần, và tình cảm được linh hoạt khác thường với tình yêu Chúa. Sự chiêm nghiệm phú bẩm thừa nhận sự hợp tác tự do của ý chí con người.

[27] Linh đạo TSĐT, số 47.

[28] Garrigou-Lagrange. Christian Perfection and Contemplation, 33.

[29] Ibid., 115.

[30] Linh đạo TSĐT, số 45.

[31] Reginald Garrigou-Lagrange, The Three Ages of the Interior Life, Vol. 2/2 (St. Louis: B. Herder Book Co, 1951), 23.

[32] x. Ibid, 25-29.

[33] Linh đạo TSĐT, số 46.

[34] Linh đạo TSĐT, số 26.

[35] Thomas D’sa, “Creative Contemplative Dimension in Religious: Priestly Formation from an Indian Perspective,” Vidyajoti 71 (2007), 107-116.

[36] Linh đạo TSĐT, số 26.

[37] Edward Schillebeeckx, Dominican Spirituality or The “Counter-Thread” in the Old Religious Story as The Golden Thread in the Dominican Family-Story. Retrieved at http://www.dominicanwitness.com/?page_id=1042

[38] Thomas Merton, Essential Writings, 34.

[39] Francis Kelly Nemeck, Marie Theresa Coombs, The Spiritual Journey: Critical Thresholds and Stages of Adult Spiritual Genesis (Wilmington: Michael Glazier, 1987), 90.

[40] Perfectae Caritatis 2.

[41] Linh đạo TSĐT, số 46

[42] Ibid., số 1.