Đặc Trưng Của Thánh Lễ Theo Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô Thứ XVI

Dẫn Nhập

Khi nói đến thánh lễ, là người công giáo, ai cũng biết và ai cũng buộc phải tham dự hay ít ra là đã từng “đi lễ”. Nhưng thánh lễ được cử hành như thế nào, và ý nghĩa ra sao, thì không phải ai cũng biết và hiểu hết; thậm chí là người đi vào đời sống tu trì, tham dự thánh lễ hằng ngày cũng chưa chắc gì đã xác tín việc mình làm và dâng thánh lễ một cách trọn vẹn. Thế nên, đây là dịp người viết có dịp nhìn về thánh lễ và việc cử hành thánh lễ để ý thức hơn về nghi thức diễn ra hằng ngày, cụ thể hơn là nhìn việc cử hành Thánh lễ theo tinh thần của Đức Giáo hoàng Bênêđíctô thứ XVI.

Trước tiên, xin nói qua về mặt từ ngữ. “Thánh lễ Trong tiếng Việt, danh từ “lễ” xem ra chỉ nói lên một nghi thức phải tuân giữ (lễ cưới, lễ tang), hoặc một kỷ niệm (lễ quốc khánh, lễ giỗ). Trong phạm vi tôn giáo, “lễ” có thể hiểu là một kỷ niệm (lễ Phật Đản) hoặc là một món đồ dâng cúng (lễ vật, lễ phẩm). Hiểu như vậy, hạn từ “Thánh lễ” chưa bộc lộ rõ rệt nội dung của nó; có lẽ vì thế trước đây người ta phải xác định thêm là “Lễ Misa”, chuyển âm bởi tiếng Latinh (Missa)[1].

Trên thực tế, nhiều lần hai từ ngữ “Thánh Thể” và “Thánh Lễ ” được dùng để dịch cùng một danh từ Eucharistia trong tiếng Latinh[2].

Trong bài viết này, xin dựa trên Tông huấn Sacramentum caritatis của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI để thấy rõ hơn về đặc trưng của thánh lễ.

“Sacramentum caritatis”. Đây là thuật ngữ được đặt làm tựa đề cho tông huấn (và được lặp lại ở các số 5, 75, 90). Ta có thể dịch là “Bí tích tình yêu” hoặc “Bí tích thương yêu, Bí tích bác ái”. Thuật ngữ này được trích dẫn từ thánh Tôma Aquinô (Summa Theologiae III, q.73, art 3, ad 3m); theo ngài, Thánh Thể là “Bí tích tình yêu” bởi vì nó diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu biểu lộ qua cuộc tử nạn của Người và tạo ra tình yêu (bác ái) nơi chúng ta, cũng như liên kết chúng ta với Chúa Giêsu. Ý tưởng này cũng được giải thích trong tông huấn, khi trình bày tình yêu của Chúa Giêsu như là động lực thiết lập bí tích cũng như là mục tiêu của bí tích, bởi vì nhắm đến việc nuôi dưỡng nơi chứng tá tình yêu đối với Chúa và với tha nhân (xc. SC số 14). Tình yêu mà chúng ta cảm nghiệm từ Thánh Thể thúc đẩy chúng ta chia sẻ tình yêu đối với tha nhân (xc. SC số 84; 88)[3].

Như đã nói ở trên, trong Thánh lễ, nơi cử hành “Bí tích tình yêu”, sẽ là tâm điểm hay là sợi chỉ đỏ xuyên suốt việc cử hành mà Giáo Hội vẫn đang tiếp diễn công việc chính Đức Giêsu đã thiết lập. Trong bài viết này, người viết không mong tìm hiểu hết tư tưởng của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, hay tông huấn Sacramentum caritatis, mà chỉ nêu nét đặc trưng của thánh lễ theo tinh thần của ngài.

Nội Dung

1. Thánh lễ, nơi diễn tả mầu nhiệm đức tin

Có rất nhiều điều trong đời sống của người tín hữu không biết diễn tả như thế nào, hay bằng cách nào, và câu trả lời cho vấn đề này là lấy đức tin mà bù lại. Thế nên, trong Tông huấn này, Đức Thánh Cha sẽ nêu bật các mầu nhiệm đức tin trong việc cử hành để hiểu rõ hơn nơi đó người Kitô Hữu tin vào Đấng nào và tin vào những gì.

Bí tích Thánh Thể là một “mầu nhiệm đức tin” cách tuyệt hảo: là “sự tổng hợp và tóm kết đức tin của chúng ta”. Đức tin của Giáo Hội tự nền tảng là đức tin vào Thánh Thể, và đức tin đó được nuôi dưỡng một cách đặc biệt tại bàn tiệc Thánh Thể. Đức tin và các bí tích là hai khía cạnh bổ túc cho nhau trong đời sống Giáo Hội[4].

Khi tham dự thánh lễ, mỗi người mang trong mình một cảm thức đức tin và diễn tả đức tin một cách khác nhau, nhưng dù bằng cách nào, ở đây, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến tính nền tảng của việc diễn tả đức tin ấy. Đó chính là tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể, nơi đây, chính Chúa Giêsu hiện diện và hiện tại hóa hy tế của Người.

Chúa Giêsu trong Thánh Thể không ban cho ta một “vật,” nhưng ban chính Người; Người ban chính mình Người và tuôn đổ chính máu Người. Như vậy, Người ban cho chúng ta trọn vẹn sự sống Người và mặc khải nguồn cội tối hậu của tình yêu này. Người là Con Một đời đời, được Chúa Cha trao ban cho chúng ta.[5] Khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã nói về “giao ước mới và vĩnh cửu” được ghi dấu bằng máu của Người (x. Mt 26,28; Mc 14,24; Lc 22,20). Cùng đích sứ mệnh của Người đã hiện rõ ngay từ khởi điểm cuộc đời công khai của Người. Thật vậy, trên dòng sông Giođan, khi Gioan Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu đến với mình đã kêu lên: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29). Thật là ý nghĩa khi cùng những lời đó đã được lặp lại trong mỗi lần cử hành Thánh Lễ, lúc linh mục mời gọi chúng ta tiến đến bàn thờ: “Đây Chiên Thiên Chúa Đấng xoá tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự bữa tiệc của Người”[6].

Như vậy, trong thánh lễ chỉ diễn tả mầu nhiệm đức tin vào Đức Kitô qua bàn tiệc Thánh Thể cùng với Giao Ước của Người. Chắc chắn không dừng lại ở đây, Tông Huấn còn đưa ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần như là ân huệ khởi đầu cho những người tin. Chính Chúa Thánh Thần là mối dây liên kết và hiệp thông trong sự quy tụ để diễn tả đức tin của Giáo hội từ thời các Tông đồ. Theo trình thuật của sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ cùng nhau quy tụ và cầu nguyện với Đức Maria vào ngày Hiện Xuống và thôi thúc họ thực hiện sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc. Như vậy, chính qua hoạt động của Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô tiếp tục hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội của Người, khởi đi từ tâm điểm sinh động là Bí Tích Thánh Thể[7].

 Trong các mầu nhiệm được diễn tả ở đây, Đức Giáo hoàng cũng không quên bàn đến mầu nhiệm Giáo Hội. Giáo Hội mà Chúa Giêsu thiết lập có vai trò như thế nào thông qua Thánh Thể? Qua Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu lôi kéo mọi tín hữu đi vào “giờ” của Người; Người tỏ bày cho chúng ta mối liên hệ mà Người muốn thiết lập giữa Người và chúng ta, giữa bản thân Người và Giáo Hội. Thật vậy, trong hy tế Thập Giá Chúa Kitô sinh ra Giáo Hội như là Hiền Thê của Người và như chính mình Người[8]. Sự diễn tả này nói lên sự liên kết vững bền giữa Chúa Kitô và Giáo hội.

2. Thánh lễ, nơi mầu nhiệm được cử hành

Thật không thể diễn tả được về mầu nhiệm. Thế nhưng mầu nhiệm ấy được mặc khải, được cử hành, thì con người có thể hiểu phần nào về mầu nhiệm ấy. Trong truyền thống Kitô giáo vẫn nhìn nhận sự liên hệ việc tuyên xưng đức tin vào cử hành phụng vụ, dựa theo châm ngôn Lex orandi, lex credendi. Đối tượng của việc cử hành là việc Chúa Kitô trao ban chính mình trong mầu nhiệm vượt qua (số 34). Phụng vụ không phải là sáng kiến của con người, nhưng tiên vàn là tác động của Thiên Chúa[9].

Trong phần này, tông huấn đề cập đến rất nhiều khía cạnh liên quan đến Phụng vụ Lời Chúa, Dâng của lễ, Kinh nguyện Thánh Thể, rước lễ…thế nhưng ở đây xin quan tâm đến việc tham gia tích cực của cộng đoàn. Bởi vì cộng đoàn cũng là đối tượng số đông tham dự vào việc cử hành các mầu nhiệm trong Thánh lễ. Đức Giáo hoàng cũng gợi lại lời mời gọi của Hiến chế Phụng vụ thánh của Công Đồng Vatican II để nhắc nhở cũng như hướng dẫn việc cử hành mầu nhiệm cao cả này.

Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh một cách đúng đắn về việc tham dự một cách linh động, trọn vẹn và hiệu quả của toàn thể Dân Chúa vào việc cử hành Thánh Thể[10]. Một trong những điều kiện này chắc chắn là tinh thần thường xuyên hoán cải, cần phải thể hiện trong đời sống của mọi tín hữu. Tham dự linh động vào phụng vụ Thánh Thể khó có thể đạt được nếu người ta tiếp nhận một cách hời hợt, không có sự kiểm điểm đời sống mình. Khả năng nội tâm này có thể được gia tăng, thí dụ, bằng việc hồi tâm và thinh lặng tối thiểu một ít phút trước khi bắt đầu cử hành phụng vụ, bằng ăn chay, và nếu cần bằng việc xưng tội. Một tâm hồn hoà giải với Chúa mới có thể giúp cho việc tham dự đích thực[11].

Một tinh thần cần có trong việc cử hành của Dân Chúa từ thời Cựu Ước cho tới nay vẫn là khúc ca tạ ơn Thiên Chúa. Thế nên, trong phụng vụ Kitô giáo luôn luôn có lời ca tiếng hát, âm nhạc du dương để hướng Dân Chúa nâng tâm hồn lên trong cử hành Phụng vụ. Là người rất kỹ lưỡng và kỷ luật trong Phụng vụ, Đức Giáo hoàng cũng không quên nhấn mạnh khía cạnh này để thánh lễ thêm phần linh thánh và trang nghiêm.

Trong dòng lịch sử hai nghìn năm, Giáo Hội đã sáng tác và vẫn còn sáng tác âm nhạc, và những bài hát để biểu tỏ một gia sản đức tin và tình yêu quá phong phú, không thể bị mai một. Những kiểu ứng tác tầm thường hoặc việc đề xuất những thể loại âm nhạc không tôn trọng ý nghĩa phụng vụ thì cần phải tránh. Để thể hiện một yếu tố phụng vụ, bài hát phải được đặt vào trong toàn bộ buổi cử hành. Do đo, tất cả lời ca, âm nhạc, cách trình tấu phải phù hợp với ý nghĩa của mầu nhiệm đang được cử hành, của cấu trúc của lễ nghi và mùa phụng vụ. Thánh ca Grêgorian phải được đánh giá đúng mức và được sử dụng như thánh ca thích hợp cho phụng vụ Rôma[12].

Như vậy, khi cử hành các mầu nhiệm, người Kitô hữu được mời gọi tham dự một cách linh động để thánh lễ luôn là nơi thể hiện tình hiệp thông và là nơi kín múc sức mạnh của Chúa, để diễn tả mầu nhiệm ấy ra trong cuộc sống hằng ngày.

3. Thánh lễ, mầu nhiệm dẫn đến sự sống

Sau khi đã điểm qua một vài nét về Thánh lễ để diễn tả mầu nhiệm đức tin, nơi mầu nhiệm được cử hành, và cuối cùng nơi sống mầu nhiệm ắt hẳn sẽ nhấn mạnh hơn đến chiều kích đặc trưng của thánh lễ. Vì chỉ khi con người tin, cử hành và đưa vào cuộc sống thì Thánh lễ mới thực sự có ý nghĩa; và Bí Tích Thánh Thể mới thực sự là Bí tích tình yêu, Bí tích đem lại sự sống, điều mà Chúa Giêsu hằng khao khát được gửi trao đến từng người trong nhân loại.

Chúa Giêsu, Đấng đã trở nên cho chúng ta lương thực sự thật và tình yêu, nói về ân huệ sự sống của Người và bảo đảm với chúng ta rằng “ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). “Sự sống vĩnh cửu” này trong chúng ta bắt đầu ngay từ bây giờ, nhờ sự biến đổi được thực hiện trong chúng ta nhờ hồng ân Thánh Thể: “Kẻ ăn tôi sẽ nhờ tôi mà được sống” (Ga 6,57). Những lời Chúa Giêsu nói giúp chúng ta hiểu rõ mầu nhiệm “để tin” và “để cử hành” chứa đựng một sức mạnh nội tại làm cho nó trở thành nguyên lí của sự sống mới trong chúng ta và thành mô thức đời sống Kitô của chúng ta. Khi rước mình và máu Chúa Giêsu Kitô, chúng ta trở nên những người thông dự vào sự sống thần linh, mỗi ngày mỗi trưởng thành và ý thức hơn. Không phải lương thực thánh Thể được biến đổi thành chúng ta, nhưng chính chúng ta được biến đổi một cách mầu nhiệm nhờ Thánh Thể. Chúa Kitô dưỡng nuôi chúng ta bằng cách kết liên chúng ta với Người; “Người lôi kéo chúng ta đến với Người”[13].

Thánh thể mang lại sinh lực mới làm biến đổi cuộc đời. Điều này nằm trong bản tính của phụng vụ “mới” được khai trương nơi Chúa Giêsu, đó là “phụng tự trong thần khí” (cultus spiritalis: Rm 12,2), nó bao trùm toàn thể đời người (số 70;77), và đòi hỏi chúng ta thay đổi lối suy tư và não trạng (số 77-78). Cách riêng Thánh Thể giúp chúng ta biết đặt tình yêu agape là trung tâm của đời sống, để đáp lại tình yêu mà Chúa dành cho ta. (số 82)[14]. Thánh thể là động lực của công cuộc truyền giáo (số 84), việc phụng sự xã hội được xem như là mầu nhiệm được cống hiến cho thế giới, như tấm bánh bẻ ra để cho nhân loại được sống (số 88-92)[15].

Tạm Kết

Một cái nhìn khái quát về Thánh lễ qua tông huấn Sacramentum Caritatis của Đức Giáo hoàng Bênêđíctô thứ XVI cho ta thấy nét đặc trưng của Thánh Lễ chính là sự thống nhất trong nghi thức. Tuy Thánh Lễ gồm hai phần: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, nhưng cả hai làm nên một toàn thể duy nhất, một hành vi phụng thờ duy nhất (SC, số 44), đó chính là Bí tích tình yêu. Trong mầu nhiệm duy nhất này, tông huấn lại trình bày dưới ba khía cạnh: tuyên xưng, cử hành và sống. Các mặt này được thấm dần trong đời sống của Kitô hữu qua Thánh lễ mà họ tham dự. Qua tông huấn này, mỗi Kitô hữu được mời gọi tham dự thánh lễ một cách tích cực và chủ động hơn, cũng như sống mầu nhiệm Thánh Thể trong tinh thần hiệp thông và bác ái. Nhờ đó mỗi người sẽ kín múc được nguồn sức mạnh trong hành trình nên thánh của mình qua Bí tích tình yêu này.

Như vậy, lược qua một cách khái quát, ta thấy đặc trưng của thánh lễ cũng chính là việc cử hành bí tích tình yêu, ngay từ tựa đề của Tông huấn hay từ số đầu tiên đã cho thấy: Thánh Thể là hồng ân mà chính Chúa Giêsu Kitô thiết lập, mặc khải cho chúng ta tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mọi người. Bí tích kì diệu này biểu lộ tình yêu “cao cả nhất”, tình yêu đã thúc đẩy Người “hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13). Qua thật, Chúa Giêsu đã yêu họ “cho đến cùng” (Ga 13,1). Cũng vậy, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu tiếp tục yêu chúng ta “cho đến cùng”, đến độ ban mình và máu Người cho chúng ta[16].

 

[1] Phan Tấn Thành, Bí Tích Tình Yêu, (Đời Sống Tâm Linh, tập IX), HVĐM 2011, 49.

[2] Ibid., Phan Tấn Thành, 49.

[3] Ibid., Phan Tấn Thành, 57.

[4] Xc. ĐGH Bênêđictô XVI, Sacramentum Caritatis, 7.

[5] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 7.

[6] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 9.

[7] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 12.

[8] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 14.

[9] Phan Tấn Thành, Bí Tích Tình Yêu, (Đời Sống Tâm Linh, tập IX), HVĐM 2011, 43.

[10] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 52.

[11] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 55.

[12] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 42.

[13] Ibid., ĐGH Bênêđictô XVI, 70.

[14] Phan Tấn Thành, Bí Tích Tình Yêu, (Đời Sống Tâm Linh, tập IX), HVĐM 2011, 46.

[15] Ibid., Phan Tấn Thành, 46.

[16] Xc. ĐGH Bênêđictô XVI, Sacramentum Caritatis, 1.