Đạo Đức Học Của Aristotle

Chẳng biết tự bao giờ con người đi tìm giá trị cuộc sống của mình, bắt đầu từ những băn khoăn: Tôi được sinh ra giữa cuộc đời này để làm gì? Điều gì tôi sẽ đạt được gì từ những hoạt động của tôi? Mục đích cuối cùng của đời tôi là gì? Làm sao tôi có được cuộc sống tốt?... Đó là những vấn đề được đặt ra không của riêng ai, nhưng là của chung cho tất cả mọi người. Với những suy tư về con người, Aristotle đã cố gắng trình bày quan điểm đạo đức của ông để giải quyết phần nào về những vấn đề như trên của nhân loại. Ông tập trung vào hoạt động của con người để tìm một hướng đi đúng đắn sao cho sống đúng giá trị của một con người thực sự. Bài viết này trình bày một số khía cạnh về học thuyết Đạo Đức của Aristole: Nguồn Gốc, Mục Đích Của Con Người, Cái Thiện, Hạnh Phúc, Nhân Đức, Trung Dung Và Chiêm Nghiệm.

1. Tác giả và tác phẩm

Aristotle sinh năm 384 tCN tại một thị trấn nhỏ ở Stagira, nằm bên bờ biển phía đông bắc vũng Thrace. Ông là học trò của Plato tại trường Academia suốt hai mươi năm. Khác với thầy mình (Plato chú trọng đến thế giới ý niệm), ông lại quan tâm nhiều về hoạt động của tự nhiên. Chính sự khác biệt giữa thầy và trò, Aristotle đã rời trường Academia năm 348/7 TCN để đến Asso qua lời mời của Hermeias, người cai trị Asso và cũng từng là sinh viên ở trường Academia. Tại đây, Aristotle đã cưới cháu gái cũng là con nuôi của vua Hermeias mang tên Pythias. Sau khi Pythias mất, ông sống ngoài hôn thú với Herpyllis và sinh được một con trai tên là Nicomachus. Đó cũng là cái tên mà ông chọn đặt cho tác phẩm đạo đức học Nicomachus. Sau khi trở lại Athens năm 335/4 TCN, ông đã thành lập trường học Lyceum và làm hiệu trưởng 12/13 năm.  

Ông mất năm 322 tCN tại Chalcis sau khi rời bỏ Lyceum, nơi xảy ra làn sóng chống người Macedonia ngay sau khi hoàng đế Alexander băng hà năm 323 TCN. Aristotle đã đóng góp nhiều lĩnh vực vào kho tàng tri thức nhân loại như sinh vật học, luận lý học, siêu hình học, tâm lý học, chính trị học, mỹ thuật … Một trong những vấn đề mà ông đưa ra được con người quan tâm đó là tư tưởng Đạo Đức Học.[1]

Đạo Đức Học của Aristotle được thấy trong hai tác phẩm đạo đức học Nicomachus Eudemeia. Tác phẩm đạo đức học Nicomachus được viết khoảng năm 340 TCN[2] gồm 10 sách và trong đó có hai cuốn V, VII được chia sẻ với tác phẩm Eudemeia. Cũng như hầu hết các tác phẩm khác, hai tác phẩm đạo đức học này không phải chính ông viết, mà có lẽ do các học trò ghi chép lại từ các bài giảng của ông.[3]

Các bài giảng của Aristotle về Đạo Đức Học nhằm để trả lời cho câu hỏi: “Tôi phải làm gì để sống một cuộc sống thịnh đạt (welfare)?”.[4] Câu hỏi này được hiểu rằng con người phải sống thế nào để phù hợp với mục đích hay chức năng của mình, nghĩa là phải sống sao cho hợp lý tính và có đức hạnh. Rupert Woodfin và Judy Groves cho rằng, mục đích này làm cho Đạo đức học của Aristotle trở thành một công trình về triết học luân lý chứ không phải một cuốn cẩm nang học làm người đơn thuần.[5]

II. Một số vấn đề trong đạo đức học của Aristotle

1. Mục đích của con người

Aristotle cho rằng mọi hoạt động và mọi sự theo đuổi của con người đều có một mục đích hay một chức năng để hoàn thiện. Chính mục đích này mà con người làm mọi điều khác để đạt được. Và khi con người có một mục đích sau cùng (End), thì đó là chính cái thiện (Good). Ngay từ đầu học thuyết đạo đức, Aristotle cho rằng tất cả sự vật hành động và chọn lựa có lý trí điều nhắm đến cái thiện (Good) nào đó.[6]

Ông phân tích, vì có nhiều hoạt động nên cũng có nhiều mục đích khác nhau, ví dụ mục đích của cái ly giúp uống nước, của ca sĩ là hát hay và những điều tương tự như vậy. Tuy nhiên chỉ có một mục đích sau cùng mà thôi. Khi những hoạt động, nghệ thuật và khoa học đến từ khả năng đặc thù thì mục đích sau cùng được ưu tiên hơn mục đích bổ trợ, vì mục đích bổ trợ chỉ là phương tiện cho mục đích được theo đuổi sau đó, ví dụ đến trường để học, học để hiểu biết, hiểu biết để thực hành… và cứ như thế cho đến khi đạt được mục đích sau cùng (End). Ông khẳng định rằng mục đích sau cùng là cái thiện cao nhất.[7] Nhưng mọi người đều có cùng quan điểm cái thiện cao nhất ấy là hạnh phúc. Vậy, chắc hẳn theo Aristotle thì mọi người đều đồng ý rằng mục đích sau cùng (End) là hạnh phúc (Happiness).[8]

Như vậy theo Aristotle , khi chọn được một mục đích sau cùng, tức là mục đích vì chính nó, thì tất cả những điều khác người ta muốn là vì nó. Những điều khác mà con người muốn dùng làm phương tiện cho mục đích sau cùng là mục đích bổ trợ hay công cụ. Và khi đạt được mục đích sau cùng rồi thì mọi mục đích bổ trợ chỉ là sự dư thừa.

Đến đây, vấn đề cùng đích này nảy sinh ra một vấn đề khác, đó là “cái thiện tối cao (best good) mà con người nhắm đến là gì? Làm thế nào để đạt được? ”.

2. Cái Thiện (Good)

Nếu như mục đích được chia làm hai loại là công cụ và nội tại, vậy cái thiện (Good) cũng có thể được chia làm hai dạng là cái thiện công cụ (instrumental good) và cái thiện tối cao (best good/ non-instrumental good).

Cái thiện công cụ là gì? Có thể hiểu rằng đó là việc tốt cho mục đích tốt. Ví dụ, đi tập gym để có sức khỏe, có sức khỏe để làm việc, làm việc để có thu nhập, có thu nhập để có nuôi con cái…

Cái thiện tối cao là gì? Đối với Aristotle, đó là hạnh phúc. Cái thiện tối cao (hạnh phúc) có khả năng tự đầy đủ. Nó luôn luôn là chọn lựa tốt cho chính nó.[9] Tức là, khi bị tách ly khỏi cuộc sống vẫn đáng khao khát và không thiếu thốn gì. Mọi thứ thêm vào chỉ là sự dư thừa. [10] Tính tự đầy đủ này không được hiểu rằng cá nhân tự đầy đủ, nhưng tất cả mọi người phải chung nhau đạt được. Theo Aristotle, thì một người tự bản chất hướng thiện nhưng không có khả năng tự đạt được, vì con người sống mang tính cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng chí. Chính vì thế mà ông xem khoa học chính trị nhà nước là công cụ giúp con người cùng đạt được cái thiện cao nhất. Vì nhà nước mà ông đưa ra thì có tính tự mình đầy đủ.[11]

Làm thế nào để đạt được? Ông cho rằng con người sẽ tìm thấy cái thiện tối cao khi họ tìm kiếm được chức năng đích thực của mình.[12] Vì mọi người sinh ra điều có chức năng khác nhau và có cùng một mục đích để hoàn tất là cái thiện (Good). Hoàn thành chức năng theo nhân đức trọn hảo là phương cách để đạt được cái thiện ấy. Chức năng của con người thì khác với chức năng của thực vật là dinh dưỡng và tăng trưởng hay với động vật là khả giác, vì con người có một yếu tố về lý tính.

Chức năng của con người là hoạt động của linh hồn hợp với nhân đức trong sự hài hòa nhất, trọn vẹn nhất.[13] Linh hồn hoạt động theo hai phần lý tính và phi lý tính. Linh hồn hoạt động tốt tức là khi linh hồn hoạt động phù hợp với nhân đức. Khi linh hồn hoạt động tốt và nhờ lý trí sẽ giúp con người đạt được cái thiện cao nhất mà Aristotle muốn nói, tức là đạt được hạnh phúc. Theo Aristotle, trong linh hồn con người, phần lý tính giúp kiểm soát phần phi lý tính. Hoạt động này làm nảy sinh ra nhiều vấn đề đạo đức. Ông phân chia linh hồn con người ra hai phần: lý tính và phi lý tính. Trong đó, hướng về hoạt động sống cơ bản là phi lý tính; cảm xúc và ước muốn thì phần phi lý tính lớn hơn phần lý tính và giúp suy luận là lý tính. Như vậy, Aristotle đã cho rằng phần phi lý tính chiếm tỉ lệ lớn hơn phần lý tính trong con người. Chúng luôn hoạt động mâu thuẫn với nhau.[14] Cụ thể, hoạt động của phần lý trí dùng để điều chỉnh các phần phi lý tính trong con người. Aristotle nhấn mạnh, vì cái thiện trong con người mang tính tiềm ẩn, nên con người lại không tự nhiên hành động đúng. Do đó, có một sự suy tính và chọn lựa đúng đắn để thực hiện dựa vào từng hoàn cảnh. 

Theo Aristotle, sự thiện trọn vẹn của một người phải được tích góp hay trau dồi qua nhiều thời gian, vì “một cánh én không làm nên mùa xuân; và cũng không làm nên một ngày.” Thế nên, một thời gian ngắn ngủi không tạo nên một con người hạnh phúc. Aristotle nói điều này tạo nên sự băn khoăn rằng liệu hành động tích góp là lấy lại những nhân đức đã có sẵn tiềm tính trong lòng hay kết quả đạt được theo bản tính đặc trưng của con người, ví dụ được tăng lương nhờ làm việc chăm chỉ, điểm cao nhờ chăm học…? Nếu là lấy lại những nhân đức này được đặt sẵn tiềm tính trong mỗi người thì những nhân đức tiềm tính xuất phát từ đâu? Aristotle không khẳng định cụ thể là theo con đường nào, nhưng ông chỉ đưa ra giả định rằng hạnh phúc là kết quả của việc tích góp theo bản tính đặc trưng của con người.

Vậy, việc tích góp nhân đức theo quan điểm của Aristotle có sự liên quan gì tới lời khuyên “tu tâm tích đức” hay không? Giả định của ông có mâu thuẫn với quan niệm cho rằng từ ban đầu con người có tính tự thiện hảo, đó là nơi xuất phát mọi điều thiện hảo hay không?  

Nếu xem cái thiện là điểm đầu và cũng chính là điểm cuối của một đường đua điền kinh, khi đem quan điểm của Aristotle (cái thiện là điểm về đích) kết hợp với quan điểm cái thiện là nguồn phát xuất mọi điều thiện hảo khác thì có lẽ ý nghĩa sẽ tròn đầy hơn. Quá trình sau khi xuất phát và trước khi về đích ấy là quá trình hoạt động của linh hồn theo các nhân đức trọn hảo.

3. Hạnh Phúc

Như đã trình bày ở trên, Aristotle khẳng định có sự đồng nhất trong quan điểm về cái thiện tối cao của các tầng lớp dân chúng đó là hạnh phúc. Họ đồng hóa sống tốt và làm tốt với việc được hạnh phúc (being happy), nhưng việc định nghĩa hạnh phúc (happiness) lại mang những quan điểm khác nhau. Có người cho hạnh phúc là sự hài lòng (pleasure); người thì cho là sức khỏe; người khác lại cho hạnh phúc là danh vọng; có người lại cho giàu sang là hạnh phúc. Như vậy có thể thấy rằng, ở trong những hoàn cảnh khác nhau người ta sẽ có những quan điểm về hạnh phúc khác nhau. Thậm chí cùng một người lại có sự xác định khác nhau về hạnh phúc, khi nghèo thì xem giàu của cải là hạnh phúc, mà khi giàu của cải lại nảy sinh bệnh tật thì xem khỏe mạnh…Xem ra những hạnh phúc kiểu này chỉ tồn tại tạm bợ và chóng qua.

Theo Aristotle hạnh phúc là gì? Ông cho rằng những quan điểm trên có lẽ một số điều là vô vị, đủ để xác định các quan điểm về hạnh phúc thì phổ biến và đáng ngờ.

Hạnh phúc theo Aristotle là hoạt động của linh hồn theo đường lối của sự tuyệt hảo hay đức hạnh, bởi hạnh phúc không dừng lại ở việc cảm thấy. Aristotle không cho rằng hạnh phúc là sống lạc thú vì nó khiến cho cuộc sống của con người trở nên mù quáng khi bị nô lệ vào lối sống ấy. Ông cũng không cho rằng hạnh phúc là đạt danh vọng, vì nó không tự mình mà có nhưng phải dựa vào suy nghĩ của người khác[15]. Sau cùng ông cho rằng một cuộc sống chiêm nghiệm là hạnh phúc tròn đầy.

Tuy không đồng ý rằng sự vui thú hay khoái lạc (pleasure) là hạnh phúc, nhưng ông nhấn mạnh nó là một thành phần quan trọng đối với sự tồn tại của hạnh phúc.[16] Theo Aristotle, cái thiện cao nhất cũng được gọi là hạnh phúc . Vì thế, con người đạt được cái thiện cao nhất cũng là đạt được hạnh phúc. Cho nên, điều kiện để đạt được hạnh phúc cũng là hoạt động của linh hồn con người (soul’s man) hòa hợp với các nhân đức trọn hảo.[17]

Vậy những nhân đức trọn hảo mà Aristotle muốn nói đến là gì?

4. Các Nhân Đức và Trung Dung

Nhân đức là thói quen

Triết gia Aristotle phân biệt hai dạng nhân đức, nhân đức thuộc trí tuệ và nhân đức thuộc luân lý.[18] Nhân đức thuộc trí tuệ là sự khôn ngoan triết học nhờ học tập, giảng dạy; còn nhân đức thuộc luân lý là khôn ngoan thực tiễn nhờ thói quen luyện tập và hoạt động. Ví dụ, xây giỏi có được do những hành vi xây giỏi,có được can đảm do những hành vi can đảm. Nó xuất phát từ một sự biến đổi nhỏ của chữ “ethos”, tập quán hay thói quen.[19] Các nhân đức thuộc luân lý chính yếu bao gồm can đảm, tiết độ, công bằng và khôn ngoan.[20] Người Công giáo gọi đây là bốn nhân đức nhân bản[21].

Ông cho rằng không có nhân đức thuộc luân lý nào tự nhiên nảy sinh trong con người, nhưng bởi thói quen. Điều gì sinh ra bởi tự nhiên trong một điều kiện cụ thể (như đá ở xu thế hướng xuống) thì thói quen (habit) không thể lôi cuốn nó theo một điều kiện khác (hướng lên) dù có thực hiện cả hàng ngàn lần. Chính vì vây, ông khẳng định nhân đức không hệ tại bởi tự nhiên và những gì chống lại tự nhiên. Tuy nhiên, ông cho rằng con người dù được sinh ra bởi tự nhiên nhưng lại có khả năng thủ đắc và hoàn thiện các nhân đức bằng thói quen.[22]Mặc dù ông đề cao giá trị của khôn ngoan thực tiễn, nhưng ông lại xem khôn ngoan triết học là hoạt động thú vị nhất của đức hạnh.[23]

Nhân đức là chọn lựa có lý tính

Aristotle còn nhấn mạnh, cần có suy tính và chọn lựa đúng đắn vì cái thiện trong con người ở trong tình trạng tiềm tính. Nó không tự nhiên hành động đúng mà phải nhờ lý trí để chọn lựa. Và vì nguồn gốc của mọi hành vi luân lý (nhân đức luân lý) là sự chọn lựa. Hơn nữa, có những điều tưởng chừng như là thiện hảo, nhưng trong một hoàn cảnh nào đó, nó không còn thiện hảo nữa. Khi đói, việc ăn cơm là điều tốt cho sức khỏe, nhưng nếu ăn nhiều quá lại gây phản tác dụng và khiến đau dạ dày hay các bệnh liên quan, vì thế cần có lý trí để giúp điều độ cụ thể trong việc ăn uống. Như thế, lý trí sẽ giúp cho con người tìm biết xử lý đúng trong từng hoàn cảnh khác nhau.[24] Cũng vậy, trong đời sống tinh thần, sự dữ đôi khi cũng rất hấp dẫn, nhưng chỉ là cái lốt bên ngoài, nên nếu con người không dùng lý trí thì làm sao phân biệt được với sự thiện. Theo hướng dẫn của Thánh I-Nhã, đó là chiến lược của thần dữ, nên con người không thể không “tỉnh thức” (Lc 21, 36) để đưa ra chọn lựa đúng đắn.

Nhân đức liên quan đến sự vui thú (pleasure) và đau khổ (pain)

Con người có lúc vui thú với những điều xấu mình làm và đôi khi đau khổ vì né tránh những điều cao cả. Cho nên, cũng như Plato, ông đã cảnh báo rằng con người cần được giáo dục về điều này càng sớm càng tốt. Cụ thể, con người cần được giáo dục đúng đắn khi đối diện với sự hài lòng hay đau khổ, trong những sự việc chính đáng. Hơn nữa, đó là một trạng thái ổn định dù gặp vui thì không vui thái quá, mà đau khổ thì cũng không đau khổ thái quá.[25] Nhưng khác với Plato, ông cho rằng các nhân đức được sinh ra không chỉ bằng việc hiểu biết, nhưng bằng hành động. Thậm chí, vì nếu không hành động thì chẳng ai có cơ hội trở nên tốt được. Khi thánh Gia-cô-bê Tông đồ có nói: “Đức tin không hành động thì quả là Đức tin chết.” (Gc 2, 17), chắc hẳn ngài cũng có cùng quan điểm với Aristole về việc hành động chứng minh sự tồn tại của nhân đức.

Aristotle nói rằng, người thực hiện nhân đức thì phải thực hiện như con người thực hiện. Có nghĩa những nhân đức ấy được tự bản chất là của con người. Nếu con người thực hiện sai thì tự bản chất họ đã nhận ra mình không thực hiện nhân đức, ví dụ khi một người thực hiện giết người, tự bản chất anh ta đã lỗi phạm nhân đức luân lý và cảm thấy lo sợ mà không cần ai kết án, cho dù họ không biết tên gọi của lỗi phạm ấy.

Nhân đức là sự trung dung (a mean)

Các nhân đức và thái cực không phải là những cảm tính (feelings) hay năng lực (capacities). Nhân đức là những trạng thái (states) ở giữa hai thái cực thái quá và bất cập, điều mà Aristotle gọi là trung dung (a mean). Ông đưa ra ví dụ, sự trung dung giữa nhát gan (bất cập) và liều lĩnh (thái quá) là can đảm. [26]

Trung dung là gì? Bởi vì nhân đức là phải hành động, mà trung dung là nhân đức vì thế không chỉ dừng lại ở việc hiểu trung dung là gì mà phải hành động và luyện tập thành thói quen thì mới đạt được nhân đức trung dung. Ví dụ một người nói trung dung trong ăn uống là không ăn quá ít và cũng không ăn quá nhiều, nhưng ăn vừa đủ. Như thế nào là vừa đủ thì anh ta phải thực hành và nhờ lý trí anh ta có thể xác định được. Việc ăn vừa đủ này có sự khác nhau giữa mỗi người vì nhu cầu và khả năng hấp thụ của mỗi người là khác nhau. Các điều này cho thấy, thứ nhất, nhờ chọn lựa có lý trí mà con người đạt được trung dung; thứ hai, trung dung không có công thức chung cho tất cả các đối tượng và các vấn đề, nhưng tùy vào từng đối tượng cụ thể và hoàn cảnh khác nhau, con người sẽ định mức trung dung cho mình. Tuy nhiên, học thuyết trung dung cũng chỉ mang tính tương đối, vì có những vấn đề như ngoại tình, ghen tỵ, giết người… đều có bản chất xấu nên không thể xác định được sự trung dung.[27]

5. Chiêm nghiệm

 Aristotle cho rằng nếu hạnh phúc là kết quả của hành động dựa theo bản chất nội tại của con người thì nó đang hành động theo bản chất cao nhất, hành động ấy là sự chiêm nghiệm. Trong tình trạng chiêm nghiệm, con người được chiêm ngắm hạnh phúc hay chân lý một cách liên tục hơn bất cứ sự vật nào khác. Để minh họa hình ảnh về hoạt động chiêm nghiệm cách cụ thể đối với con người chắc hẳn rất khó khăn. Tuy nhiên, một hình ảnh có thể phần nào làm dễ hiểu hơn đời sống chiêm nghiệm đó là cách sống của chim trời và hoa hoa huệ.[28] Dường như Chúa Giê-su đưa ra những hình ảnh đó để khuyên con người sống một đời sống chiêm ngắm Thiên Chúa hơn những gì mà con người đang lo lắng, là của ăn, của mặc. Và khi sống trong sự chiêm ngắm Thiên Chúa rồi thì con người sẽ được đầy đủ mọi thứ, đó là có lẽ cũng là hạnh phúc mà Aristotle đề cập đến, theo nghĩa “hạnh phúc có tính tự đầy đủ”[29]. Sống như chim trời và hoa huệ là sống dâng hiến bản thân mình mà không còn đòi hỏi gì vì không còn muốn gì hơn nữa. Tuy nhiên, con người hoàn toàn có khả năng ý thức được đời sống chiêm nghiệm của mình mà những sự vật ấy không có được.

III. Tạm kết

Trình bày của Aristotle cho thấy, để một người đạt được một đời sống tốt hay hạnh phúc anh ta phải bắt đầu hành động theo nhân đức và hướng tới hành động cao nhất là sự hiểu biết hay chiêm ngắm chân lý. Anh ta phải thực hành các nhân đức và hình thành thói quen đúng đắn. Trong quá trình thực hiện anh ta sẽ được lý trí giúp đỡ để chọn lựa hành vi, đó là chức năng của linh hồn phù hợp với nhân đức. Và khi ở trong hành động cao nhất, tức là hành động chiêm nghiệm, thì anh ta không còn mong muốn gì hơn nữa và chỉ chiêm ngắm điều đạt được.

Qua học thuyết này, Aristotle phần nào đánh thức được con người tìm về với chính bản thân của mình một cách ý thức hơn bằng việc đi tìm mục đích sống và cách để đạt được. Aristotle không áp đặt một mục đích sống cụ thể của một người hay một nhóm người cho cả nhân loại, nhưng ông chỉ ra mục đích của con người là một cái thiện nào đó rất chung mà ai cũng nhắm đến. Cái thiện chỉ có một, nó là gì thì tùy ở góc nhìn của mỗi người mà có tên gọi khác nhau. Một điều quan trọng là để tiếp cận cái thiện ấy thì con người lại có những lộ trình khác nhau vì khả năng suy lý và mục tiêu của mỗi người thì khác nhau. Chính quá trình thực hiện suy lý của con người lại đưa ra nhiều vấn đề về đạo đức, đặc biệt là đạo đức luân lý hay còn gọi là luật tự nhiên. Có lẽ những sự phân tích về đạo đức của ông đã góp phần vào việc xem xét mức độ phạm tội và hình phạt trong pháp luật của các nhà nước chính trị và luật tôn giáo sau này.

Giuse Phạm Văn Thế, MF

 

Tài liệu tham khảo

- Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004.

- STUMPF, Samuel Enoch, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994.

-  Woodfin, Rupert và Judy Groves, Nhập môn Aristotle. Tinh Vệ dịch, Nxb Trẻ, 2006.

- Moschella, Melissa. "Aristotle: Nicomachean Ethics Study Guide". GradeSaver February 3, 2000. http://www.gradesaver.com/aristotles-ethics (accessed November 11, 2017)

 

Chú giải

[1] X. Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, pp 70-72

[2] Melissa Moschella. "Aristotle: Nicomachean Ethics Study Guide". GradeSaver, 3 February 2000. http://www.gradesaver.com/aristotles-ethics (accessed 11 November, 2017)

[3]X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, p.vii

[4] X. Rupert Woodfin và Judy Groves, Nhập môn Aristotle, Tinh Vệ dịch, Nxb Trẻ, 2006, p.119

[5] Ivi

[6] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book I

[7] X. Ibid., Book I. 2.

[8] X. Ibid., Book I. 4

[9] X. Ibid., Book I. 2.

[10] X. Ibid., Book I.7

[11] X. Rupert Woodfin và Judy Groves, Nhập môn Aristotle, Tinh Vệ dịch, Nxb Trẻ, 2006, pp 140-141

[12] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book I. 2.

[13] X. Ibid., Book I. 6. (See more about Happiness in Chapter 13).

[14] X. Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, p100

[15] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book I. 3, I. 9.

[16] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book X.

[17] X. Ibid., Book I .13. (See more about The Good in Book I.6).

[18] X. Ibid., Book I.13

[19] X. Ibid., Book II.1

[20] X. Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, pp102-103

[21] X. GLCG, số 1806-1809

[22] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book II.1

[23] Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, pp 103

[24] X. Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, pp102

[25] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book II.3

[26] X. Ibid., Book II.5-6, VI.1

[27] X. Samuel Enoch STUMPF, Philosophy: History & Problems, 5th ed.Vanderbilt University, 1994, p.101

[28] X. Mt 26-29

[29] X. Aristotle, Nicomachean Ethics. Translated and edited by Roger Crisp, Cambridge University press, 2004, Book I. 2.