Đời Sống Của Người Thừa Sai Đức Tin Theo Hiến Pháp Số 51

Cha nguyên Bề trên tổng quyền Aldo Sperolini trong “Lời Giới Thiệu” cho Hiến pháp Dòng Thừa Sai Đức Tin đã bày tỏ niềm ước mong rằng: “Bản Hiến pháp này sẽ hướng dẫn và giúp chúng ta sống tốt hơn ơn gọi của mình và trở nên chứng tá đích thật trong tiến trình làm mới lại Dòng mà Giáo hội yêu cầu chúng ta”[1]. Quả thật, hơn bao giờ hết, trong thời đại ngày hôm nay, có biết bao nhiêu nguồn thông tin vô cùng phong phú nhưng cũng không thiếu những nguồn thông tin không đáng tin cậy vì không có nguồn gốc, căn cớ. Rất nhiều người có tài hùng biện, có tài khéo nói nhưng những điều mà họ truyền đạt sẽ không đủ thuyết phục nếu như những điều họ nói không có thật, không có bằng cớ, và nhất là nếu họ không sống điều đó. Chính vì vậy Đức Phaolô VI đã khẳng định: “Ngày nay người ta cần chứng nhân hơn là thầy dạy và nếu họ tin vào thầy dạy là vì thầy dạy đó là những chứng nhân”.

Hiến pháp Dòng Thừa Sai Đức Tin số 51 có viết rằng: “Đời sống chứng tá của chúng ta là bước khởi đầu cho sứ mạng. Nơi Dòng chúng ta vốn đang tận hiến cho sứ mạng tông đồ, chính đời sống thánh hiến của chúng ta, dưới tác động của Chúa Thánh Thần cũng trở thành sứ mạng”.[2] Nghĩa là đời sống thánh hiến chính là chứng tá, là sứ mạng đầu tiên của chúng ta. Trong bài viết này, chúng ta sẽ nói đến “bản chất của đời sống thánh hiến” và “chứng tá” liên hệ đến Hiến pháp số 51a,b của Dòng.

1. Bản chất của đời sống thánh hiến

Chúng ta đã từng nghe nói đến các danh từ “thánh hiến”, “tận hiến” hay “dâng hiến”. Vậy khi nào thì dùng từ “thánh hiến” khi nào thì dùng từ “tận hiến” hay “dâng hiến”?

Sau Công đồng Vaticano II, từ ngữ dùng để chỉ đời sống tận hiến là “Institutum Vitae Consecratae”[3]. Tận hiến là thuật ngữ dùng để trình bày yếu tính của đời tu.[4] Trong tiếng Việt tận hiến là việc đạo đức dâng chính mình để phụng sự Thiên Chúa theo tinh thần của một vị thánh hay của một phong trào để sống đời Ki-tô hữu cách thiêng liêng và hiệu quả hơn.[5] Hay tận hiến là hiến dâng toàn vẹn, cho đến tận cùng.[6] Còn trong tiếng Latin “consecrare” là động từ, có nghĩa là làm cho cái gì nên thánh, theo nghĩa là tách rời một vật hay một người ra, không dùng vào việc phàm tục nhưng chỉ dùng vào việc thánh mà thôi, đặc biệt là việc phụng tự.[7] Theo nghĩa này, ai là người đã tách rời một người hay một vật riêng ra? Đó chính là Thiên Chúa. Do đó không thể là Thiên Chúa “dâng hiến” mà phải là Thiên Chúa “thánh hiến”. Việc “tận hiến” nói lên hành vi “dâng hiến” của con người cho Thiên Chúa.

Thánh hiến là danh từ dùng để dịch từ “consecratio” trong tiếng Latin. Nghĩa là chính Thiên Chúa chủ động, Ngài tách biệt một người nào đó cho mình; sự dành riêng này biểu lộ sự tuyển chọn do tình yêu ưu ái của Ngài; sự dành riêng và tuyển chọn này không chỉ giới hạn vào lợi ích riêng tư của người ấy nhưng còn kèm theo một sứ mạng nhằm phục vụ kế hoạch tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại.[8]

Vậy tại sao gọi đi tu là đời “tận hiến”. Trước hết, chúng ta hay xem giáo huấn của Đức Gioan Phaolo II: Trong Giáo hội, mọi người đều được thánh hiến nhờ bí tích Rửa tội và Thêm sức.[9] Nhưng ngài còn nói: Lối sống Khiết tịnh, Nghèo khó và Vâng phục là một cách sống Tin Mừng triệt để nhất trên quả đất này, một cách thức có thể nói là thần linh.[10] Chúng ta cần phân biệt hai sự tận hiến. Tận hiến phổ quát và tận hiến riêng biệt. Tất cả những người được Rửa tội thì được gọi là đời tận hiến phổ quát.[11] Còn đời tận hiến của tu sĩ cam kết sống các lời khuyên Phúc âm được thánh hiến cách mới mẻ và đặc biệt.[12] Bởi đó, đời tu sĩ là hình thức tận hiến riêng biệt chứ không giữ hết độc quyền của sự tận hiến.[13] Việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm biểu lộ ý chí muốn theo gương Đức Ki-tô trong việc vâng phục Chúa Cha và dâng mình làm hy lễ để thánh hóa nhân loại.[14] Vậy bản chất tu sĩ là tuân giữ các lời khuyên Phúc âm và bước theo Đức Ki-tô cách sít sao.

Người tu sĩ phải lưu ý và không bao giờ quên điểm này là chính Thiên Chúa đã yêu họ trước, chứ không phải ngược lại.[15] Thực vậy, trước khi nói đến việc tập tành hay thực tập các nhân đức, cần nhớ rằng: tiên vàn đời tu là một giao ước tình yêu, tức là cần xúc tiến việc sống tình yêu thân mật với Thiên Chúa, Đấng rất đáng yêu mến vượt bậc. Giá trị đời tu được đo lường qua mức độ của tình yêu ấy chứ không qua các công tác hay tài đức khác.[16]

            Như thế, những người Thừa Sai Đức Tin là những người đã dâng mình hoàn toàn cho Thiên Chúa và được Thiên Chúa tách riêng và tuyển chọn vì tình yêu và nhằm một sứ mạng. Những con người đó hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa mà thôi và chỉ một mục đích vào việc phụng vụ Thiên Chúa chứ không dùng vào các việc phàm tục. Bằng cách tuân giữ các lời khuyên Phúc âm, những người tận hiến theo sát gương của Đức Ki-tô.

2. Chứng tá

Trong tiếng Việt “chứng tá” nghĩa là nhân chứng trong các vụ kiện cáo, còn “chứng nhân” là người làm chứng.[17] Trong Từ điển Công giáo, “chứng nhân” (witness) là người đưa ra bằng cớ; là người làm chứng cho Thiên Chúa. Sứ mệnh của mỗi Ki-tô hữu là trở thành chứng nhân của Đức Ki-tô, nêu gương cho người khác qua cuộc sống, lời nói và hành vi của mình và sẵn sàng làm chứng cho Chúa ngay cả bằng máu của mình.[18] Trong lịch sử của Giáo hội, chúng ta chứng kiến rất nhiều vị thánh đã dám hy sinh cho đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho Chúa Ki-tô. Ngày nay, người tu sĩ Thừa Sai Đức Tin làm chứng cho Chúa Ki-tô như thế nào?

Trước hết, chúng ta đến với những hướng dẫn của Hội thánh. Hiến chế tín lý của Hội thánh Lumen Gentium. Số 31: các tu sĩ nên như một chứng từ nổi bật và ngoại thường cho người ta thấy không thể biến đổi và dâng hiến thế giới cho Thiên Chúa mà không có tinh thần của các mối phúc thật.[19] và số 44c:

Dân Thiên Chúa không lập thành trì vĩnh viễn ở đời này, nhưng đi tìm một thành đô mai sau, vì thế, khi giải gỡ tu sĩ khỏi những lo lắng của trần gian, bậc tu trì đã biểu lộ cách rõ ràng hơn cho mọi tín hữu thấy gia sản trên trời đã hiện diện ngay dưới trần gian này, vừa làm chứng rằng ơn cứu chuộc của Đức Ki-tô đã đem lại một đời sống mới và vĩnh cửu, lại vừa tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời.[20]

Đức Phaolô VI, trong tông huấn “chứng tá Phúc âm” bằng những lời thân thương đã cho thấy việc làm chứng của các tu sĩ:

Đời sống của các tu sĩ là bằng chứng mà Dân Thiên Chúa đang mong chờ, bằng chứng của những người nam nữ có khả năng đón nhận tình trạng bấp bênh của đời khó nghèo, say mê nếp sống đơn sơ và khiêm nhu, yêu quý hòa bình, tránh mọi thỏa hiệp hàm hồ, cương quyết từ bỏ mình hoàn toàn, đồng thời tự do và vâng phục, hồn nhiên và bền bỉ, hiền lành và cương nghị trong niềm xác tín của đức tin.[21]

Ngài còn nói tiếp về “chứng tá” trong thế giới chúng ta đang sống: “hơn bao giờ hết, thế giới ngày nay rất cần đến những người nam nữ biết tin vào Lời Chúa, vào cuộc phục sinh của Người, và vào sự sống đời đời đến độ hy sinh cuộc trần gian để làm chứng cho tình yêu tự hiến cho tất cả nhân loại”.[22]

Chứng tá, hay chứng nhân cũng được Đức Gioan Phaolo II nhắc đến rất nhiều trong tông huấn Vita Consecrata ban hành ngày 25 tháng 3 năm 1996 nhất là trong số 25:

Bổn phận truyền giáo tiên khởi của những người tận hiến nhắm tới bản thân họ, và được thực hiện bằng cách mở tâm hồn đón lấy tác động của thần khí Đức Ki-tô. Chứng tá của họ giúp toàn thể Giáo hội nhớ lại rằng công tác đứng hàng đầu là việc phục vụ Thiên Chúa cách nhưng không. Giáo hội luôn luôn quan tâm đến việc hiện diện hữu hình trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt trong nền văn hóa hiện đại tuy đã bị tục hóa nhưng vẫn nhạy cảm với ngôn ngữ dấu chỉ. Muốn thế, Giáo hội có quyền chờ đợi sự góp phần đặc biệt từ những người được thánh hiến, được kêu gọi làm chứng tá cụ thể rằng họ đã thuộc về Đức Ki-tô trong mọi hoàn cảnh.[23]

Để hiểu rõ hơn về từ ngữ chứng tá, cha Giuse Phan Tấn Thành đã giải thích rằng ngày nay các từ ngữ được dùng để diễn tả chỗ đứng cũng như trách nhiệm của tu sĩ trong Hội thánh, thần học đã dùng ba từ ngữ: dấu chỉ; chứng tá; ngôn sứ. Trong đó từ chứng tá được dùng thường xuyên hơn “dấu chỉ”. Ngài giải thích như sau:

Vì chỉ có con người mới làm chứng tá đuợc chứ một vật vô tri vô giác thì không thể làm chứng tá được. Việc làm chứng hàm ngụ ba ý tưởng: 1. Nó có tính cách công khai, diễn ra trước cơ quan công quyền, nhất là tại òa án. 2. Người làm chứng biết rõ điều mình nói, hoặc vì đã chứng kiến tận mắt sự việc, hay vì đã tiếp xúc với nhân vật. 3. Người làm chứng đáng tin không những vì họ biết điều mình khai, nhưng nhất là vì sự thành thực, không gian dối lừa lọc.[24]

“Họ là những chứng nhân sống động bằng đời sống và lời nói cho Đức Đức Ki-tô trước mặt người đời. Lời chứng ấy đòi hỏi họ đã tiếp xúc thân mật, đã quen thuộc Đức Ki-tô, đã thấm đẫm giáo huấn và cuộc đời của Ngài.”[25]           

Vậy, nếu bản chất của Hội thánh là truyền giáo thì việc làm chứng tá về đời sống tận hiến có liên hệ gì nhau không? Phải có một mối liên hệ giữa đời sống tận hiến và sứ vụ tông đồ hay sứ vụ truyền giáo. Theo giáo huấn của Đức Gioan Phaolô II, cụ thể, trong tông huấn Vita Consecrata, ngài đã nhắc đến việc truyền giáo của Giáo hội, ngài đặt mầu nhiệm vượt qua là nguồn mạch của chiều hướng truyền giáo, truyền giáo gắn liền với bản chất của Giáo hội. Nhưng “Chiều hướng truyền giáo này được thực hiện đặc biệt trong đời sống thánh hiến, chiều hướng truyền giáo nằm ngay trong lòng của mọi hình thức tận hiến.”[26]

Những người tận hiến sẽ trở thành những nhà truyền giáo trước tiên bằng việc thường xuyên ý thức sâu rằng họ đã được Thiên Chúa kêu gọi và chọn lựa, nên phải quy hướng và dâng hiến cho Người toàn thể cuộc đời của họ và tất cả những gì họ có bằng cách tự giải thoát khỏi những trở ngại làm trì trệ trong việc đáp trả trọn vẹn trong tình yêu.[27]

Như vậy, rõ ràng, sứ vụ truyền giáo đầu tiên của người Thừa Sai Đức Tin chính là đời sống thánh hiến của chúng ta. Công việc tông đồ mà Giáo hội mong muốn nơi chúng ta đầu tiên đó là chứng tá về đời sống thánh hiến chứ không phải là các hoạt động bác ái. Các hoạt động này đi sau việc làm chứng. Và chắc chắn là Hội dòng cũng mong muốn chúng ta phải là những chứng tá đích thực cho đời tận hiến trước rồi mới tính đến chuyện phải hoạt động tông đồ như thế nào.                         

3. Kết luận

Người tu sĩ Thừa Sai Đức tin sống đời thánh hiến là bước khởi đầu cho sứ mạng. Phải bước qua bước khởi đầu này rồi mới đến được các bước tiếp theo. Một em bé trước khi muốn đứng dậy thì phải tập bò trước đã. Một vận động viên chạy đua thì phải chạy bước đầu tiên rồi mới mong đến bước thứ gần cuối rồi mới về đích được. Do đó, không có bước khởi đầu thì cũng không có bước kết thúc. Tu sĩ muốn tận hiến cho sứ mạng tông đồ, muốn chu toàn sứ mạng đó thì trước hết phải sống các lời khuyên Phúc âm, đi theo sát Chúa Ki-tô. Muốn thế, người Thừa Sai Đức Tin phải là những con người đã tiếp xúc thân mật, đã quen thuộc Đức Ki-tô, đã thấm đẫm giáo huấn và cuộc đời của Ngài. Hơn nữa, chúng ta được kêu gọi là “để ở lại Ngài và để được sai đi” (Mc 3,13-15). Vì đối với chúng ta, công việc tông đồ chỉ là hoa trái của việc ở lại với Thầy.[28] Chắc chắn khi thẩm thấu được Đức Ki-tô thì chúng ta sẽ biết chắc được rằng Chúa quá hay. Điều đó xưa nay hình như ta chưa được biết. Thế là ta sẽ thốt lên rằng “Ôi con biết Chúa quá muộn màng, xưa nay con tìm Chúa ở đâu đâu”.

Phaolô Trần Khắc Thông

           

 

[1] x. Cha Aldo Sperolini, “Lời Giới Thiệu” cho Hiến Pháp Dòng Thừa Sai Đức Tin (Roma, 2014), tr. 3

[2] x. Hiến Pháp Dòng Thừa Sai Đức Tin, số 51 (Roma, 2014), tr. 33.

[3] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017) , tr. 61.

[4] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 63

[5] x. “tận hiến”, Hội đồng Giám mục Việt nam, Từ điển Công giáo, (Hà nội: Tôn giáo, 2016), tr. 779.

[6] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 63.

[7] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 64.

[8] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 67-68.

[9]x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata, Số 31 (25 tháng 3 năm1996). (x. Theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu, tr. 163).

[10] Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata (25 tháng 3 năm1996). Số 18. (theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu tr. 147.)

[11] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 68-69.

[12] x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata (25 tháng 3 năm1996). Số 31. (theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu, tr. 163); x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017) , tr. 69.

[13] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 70.

[14] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 72.

[15] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 71.

[16] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 72.

[17] x. “chứng nhân, chứng tá”, Đại từ điển Tiếng Việt, cb. Nguyễn Như Ý (Hà Nội: Văn Hóa Thông tin, 1998), tr. 415.

[18] x. “chứng nhân, chứng tá”, Hội đồng Giám mục Việt nam, Từ điển Công giáo, (Hà nội: Tôn giáo, 2016), tr. 156.

[19] x. Công đồng Vaticano II, Hiến chế tín lý của Hội thánh Lumen Gentium, số 31, Bản dịch của UBGLĐT – HĐGMVN ( Hà nội: Tôn giáo, 2012), tr. 129.

[20] x. Công đồng Vaticano II, Hiến chế tín lý của Hội thánh Lumen Gentium, số 44c, Bản dịch của UBGLĐT – HĐGMVN ( Hà nội: Tôn giáo, 2012), tr. 154.

[21] x. Đức Phaolo VI, tông huấn Chứng tá Phúc Âm (29 tháng 6 năm 1971), số 31 (x. Theo Chúa Ki-tô, các văn kiện đời tu, tr.64).

[22] x. Đức Phaolo VI, tông huấn Chứng tá Phúc Âm (29 tháng 6 năm 1971), số 53 (x. Theo Chúa Ki-tô, các văn kiện đời tu, tr.74).

[23] x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata, Số 25 (25 tháng 3 năm1996) (x. Theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu, tr. 154).

[24] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017), tr. 92-93.

[25] x. Phan Tấn Thành, Giải thích giáo luật, tập III (Hà nội: Tôn giáo, 2017) , tr. 93.

[26] x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata, Số 25 (25 tháng 3 năm1996) (x. Theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu, tr. 154).

[27] x. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn đời sống thánh hiến và sứ vụ vủa đời sống thánh hiến trong Giáo hội và trên thế giới Vita consercrata, Số 25 (25 tháng 3 năm1996) (x. Theo Chúa Ki-tô, Các văn kiện đời tu, tr. 155).

[28] x. Đặc Sủng, Dòng Thừa Sai Đức Tin, số 23 (Roma, 2014), tr. 16.