Đường Vào Thần Học Các Tôn Giáo: Đối Thoại Liên Tôn

 

***

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA ĐỐI THOẠI TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

CHƯƠNG II: ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN

Cái thời đau buồn và đen tối của những cuộc chiến tranh tôn giáo đang lui dần về quá khứ. Nhân loại văn minh và tiến bộ không còn chấp nhận việc áp đặt hay cưỡng bức người khác phải chấp nhận một tôn giáo hay một ý hệ trái với thâm tín của riêng họ. Quyền tự do tín ngưỡng và tự do hành động theo lương tâm được triệt để đề cao và được nhìn nhận như một thành phần cốt yếu của nhân quyền.

Trong lãnh vực tôn giáo, đối thoại còn mang một ý nghĩa và sứ vụ đặc biệt trên hành trình kiếm tìm chương trình cứu độ nhiệm mầu của Thiên Chúa. Vì thế, “ước muốn đối thoại không chỉ đơn thuần là một chiến lược để chung sống hòa bình giữa các dân tộc, mà còn là thành phần chủ yếu trong sứ mệnh của Giáo Hội, bởi vì bắt nguồn trong cuộc đối thoại cứu độ đầy tình yêu giữa Chúa Cha với nhân loại, qua Chúa Con, trong quyền năng của Chúa Thánh thần. Giáo Hội chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh đúng như cách thế Thiên Chúa đã hành động trong Đức Giêsu Kitô: Ngài đã làm người, chia sẻ cuộc sống nhân loại và dùng ngôn ngữ nhân loại để chuyển đạt sứ điệp cứu độ. Đối thoại mà Giáo Hội đề nghị được xây dựng trên Logic của Nhập thể. Do đó, chỉ với tình liên đới nhiệt thành và vô vị lợi mà Giáo Hội đối thoại với người Á châu, là những người đang kiếm tìm chân lý trong tình yêu”.[1]

1. Từ bao dung đến tự do tôn giáo

Trên bình diện cứu độ, thái độ bao dung và đối thoại còn mang một ý nghĩa thâm sâu hơn. Đây là tiến trình đồng hành kiếm tìm chân lý, với hy vọng hiểu được đôi chút cuộc đối thoại nhiệm mầu yêu thương giữa Đấng Tối Cao với con người suốt dọc lịch sử nhân loại. Công Đồng Vatican II khẳng định chương trình cứu độ phổ quát của Thiên Chúa [2] và mời gọi các tín hữu cố gắng khám phá “hạt giống Ngôi Lời” mà Thánh Linh không những đã “gieo vào tâm hồn con người” mà còn gieo nơi “lễ nghi và văn hóa của các dân tộc”.[3]

Theo Công Đồng, để cuộc đối thoại được hữu hiệu, cần can đảm nhìn nhận những điểm đồng quy và những điểm khác biệt. Tuyên ngôn “Thời đại chúng ta”, về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, công nhận sự đóng góp của các tôn giáo trong nỗ lực trả lời cho nỗi khắc khoải của con người khi đối diện với những câu hỏi căn bản về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời; sự hiện diện của khổ đau, sinh, bệnh, lão, tử; vấn đề giải thoát và hạnh phúc đích thực,v.v…

Công Đồng “không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội nhận thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết (của các tôn giáo này), tuy có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo Hội duy trì, nhưng cũng đem lại ánh sáng Chân lý, Chân lý chiếu soi cho hết mọi người (...). Vì thế, Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ của các tôn giáo ấy, nhưng đồng thời vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo”.[4]

Sau khi đã chân thành nhìn nhận những điểm dị đồng trong gia tài truyền thống, hai bên sẽ tìm hiểu nguồn gốc của những khác biệt, mà nhiều khi chỉ tùy thuộc vào cách thức diễn tả của mỗi nền văn hóa. Chủ đích của đối thoại liên tôn là tiến đến một điểm đồng quy nào đó, vượt lên trên những khác biệt tất nhiên. Dù sao, người Kitô hữu cần ý thức rõ rệt và sáng suốt hơn về chân lý của đức tin. Đây không phải là một thứ chân lý thuộc loại siêu hình, mà là ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Đức Kitô. Chính nhờ Đức Kitô mà chúng ta nhận thức được phẩm giá con người, cũng như biết nhận diện tác động của Thánh Linh nơi các tôn giáo khác nói riêng và trong lòng lịch sử nhân loại nói chung.

Đặc biệt trong tuyên ngôn về “Tự do tôn giáo”, Công Đồng đã can đảm làm một cuộc chuyển đổi não trạng: bước từ tình trạng chấp nhận, chịu đựng có tính cách tiêu cực (tolerantia religiosa) sang thái độ trân trọng và đề cao tự do tôn giáo (libertas religiosa). Theo Công Đồng, tự do tôn giáo là một quyền căn bản của con người, “nằm ở chỗ con người không bị cưỡng bức bởi bất cứ một áp lực nào của cá nhân, của đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác. Theo ý nghĩa đó, trong lãnh vực tôn giáo, không ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm, cho dù đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng”.[5]

Quyền tự do tôn giáo này không xây dựng trên nội dung của niềm tin tôn giáo, bởi vì trong các niềm tin tôn giáo có thể chứa đựng một số yếu tố tiêu cực và sai lầm. Trái lại, căn bản của quyền tự do tôn giáo “được xây dựng trên phẩm giá con người, đúng như Thiên Chúa mạc khải và chính lý trí cho biết được” [6] và trên “phẩm giá của lương tâm”.[7] Mặc dù lương tâm có thể sai lầm [8] và cũng chẳng hề có tự do lương tâm tuyệt đối, nhưng không ai bị cưỡng bách hành động trái với lương tâm hoặc bị ngăn cấm không được hành động theo lương tâm. Ngoài ra, theo Công Đồng, trong thế giới hôm nay, quyền tự do tôn giáo còn cần được xây dựng trên cơ cấu pháp lý để thực sự trở thành “một quyền công dân”.[9]

Tiếp nối và khai triển đường hướng của Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đề cao hoạt động của Thánh Linh nơi các tôn giáo. Chính Thánh Linh thúc đẩy, thanh tẩy và cứu vớt không những từng cá nhân mà cả các nền văn hóa và các tôn giáo nữa: “Thánh Linh trao ban cho mọi người, theo một cách thế mà chỉ duy Thiên Chúa biết được, khả năng được tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh (...). Sự hiện diện và tác động của Thánh Linh không chỉ liên hệ đến mỗi cá nhân, mà còn liên hệ đến xã hội và lịch sử, các dân tộc, các nền văn hóa, các tôn giáo (...). Chính Thánh Linh đã gieo “mầm Ngôi Lời”, tiềm ẩn nơi các lễ nghi và văn hóa, và làm cho chúng triển nở trong Đức Kitô”.[10]

Mục đích của đối thoại liên tôn là cùng nhau khám phá và làm triển nở những yếu tố “chân lý và ân sủng do sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa” nơi mọi tôn giáo.[11] Tác nhân của cuộc đối thoại nhiêu khê này là chính Thần Khí của Thiên Chúa. Ngài hiện diện bên trong cũng như bên ngoài Kitô giáo và hướng dẫn mọi người trên hành trình truy tầm chân lý. Chính vì thế, đích điểm của cuộc đối thoại này không nằm ở chỗ “cải đạo” bên đối tác của mình, mà cùng nhau hoán cải sâu xa hơn với Thiên Chúa và “đồng hành tiến về sự thật”.[12]

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II coi đây là một bước chuẩn bị để thực hiện chương trình cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, một cách thế “bước đi trong tình huynh đệ, qua đó chúng ta cùng dẫn dắt nhau tiến về một mục tiêu siêu việt mà Ngài chuẩn bị cho chúng ta”.[13]Chính từ viễn tượng cứu độ đó, ngài đã xác quyết với các thành viên của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn: “Việc đối thoại liên tôn, trên một mức độ sâu xa hơn, luôn luôn là cuộc đối thoại cứu độ, bởi vì chủ tâm của nó là khám phá, làm sáng tỏ và hiểu rõ hơn cuộc đối thoại vĩnh cửu mà Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện với nhân loại”.[14]

Tài liệu Làm việc” của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu nhìn nhận hoạt động mạnh mẽ và đa dạng của Thánh Linh nơi các tôn giáo và văn hóa Á châu. Có thể coi các tôn giáo truyền thống tại lục địa mênh mông này như những con đường Thiên Chúa dùng để dẫn đưa đại đa số dân tộc Á châu đến với Ngài và đây cũng là cách thế Ngài dùng để gặp gỡ họ.[15]

Trong Tông thư “Giáo Hội tại Á châu”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tiếp nối suy tư của các Giám mục Á châu để đề cao vai trò của Thánh Linh trong lịch sử cứu độ và trong lòng các tôn giáo Á châu: “Các Nghị phụ của Thượng Hội Đồng đề cập đến hành động đa dạng và đổi thay của Thánh Linh. Ngài liên tục gieo những mầm chân lý giữa các dân tộc, các tôn giáo, các văn hóa và triết học. Điều này có nghĩa là các tôn giáo, văn hóa và triết học nói trên có khả năng giúp dân chúng, cá nhân cũng như tập thể, tránh điều dữ và phục vụ sự sống, cũng như tất cả những gì là thiện hảo... Chính Thánh Linh nâng đỡ dân chúng để họ tìm cách hiểu và chấp nhận nhau. Do đó Thượng Hội Đồng có lý khi quan niệm Thần khí của Chúa như tác giả đầu tiên của cuộc đối thoại giữa Giáo Hội với tất cả các dân tộc, các văn hóa và tôn giáo”.[16]

2. Đối thoại và giữ vững căn tính

Vấn đề quan trọng khác đang được đặt ra: làm sao dung hòa thái độ đối thoại với việc giữ vững căn tính của mình? Đặc biệt trên bình diện niềm tin, rao giảng Tin Mừng và dấn thân vào cuộc đối thoại liên tôn phải chăng là hai điều mâu thuẫn, đối kháng và loại trừ nhau? Đâu là mối tương quan giữa đối thoại liên tôn với sứ vụ rao giảng Tin Mừng.

Một số người đồng hóa một cách sai lầm đối thoại với thái độ “ba phải” hay một thứ “tổng hợp bát nháo” (syncrétisme). Hình như kinh nghiệm lịch sử làm họ lo sợ tính toàn trị và thái độ bất bao dung, nếu không muốn nói là cuồng tín của nhiều con chiên ngoan đạo. Chính vì vậy, họ nghĩ rằng không thể có đối thoại đích thực nếu không sẵn sàng từ bỏ xác tín và yêu sách nội tại của niềm tin tôn giáo.

Áp đặt quan điểm chính trị và niềm tin tôn giáo trên tha nhân đã là một thực tế đau lòng và vẫn còn là một nguy cơ thường xuyên chống lại phong trào đối thoại liên tôn. Nhưng không thể vì đó mà có thể chấp nhận chủ trương thỏa hiệp bát nháo. Làm như vậy là không tôn trọng sự khác biệt giữa người với ta và thiếu chân thành với chính mình. Thật vậy, trong lãnh vực tư tưởng và niềm tin tôn giáo, không thể chấp nhận thái độ ba phải, xuề xòa, dễ dãi, chín bỏ làm mười.

Trong bối cảnh đó người ta hiểu được nỗi băn khoăn và lo lắng của thánh bộ Đức tin khi công bố Tuyên ngôn “Dominus Jesus”. Nhận định về thuyết tương đối hóa, Tuyên ngôn viết một cách dứt khoát: “Sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội hôm nay đang gặp nguy hiểm do các thuyết tương đối muốn biện minh cho thuyết đa nguyên tôn giáo, không những trên thực tế mà còn trên pháp lý hoặc trên nguyên tắc nữa. Các thuyết này cho rằng một số chân lý đã bị thời gian đào thải, chẳng hạn như tính cách quyết định và hoàn tất nơi mạc khải của Đức Giêsu Kitô, bản chất của đức tin Kitô giáo đối với niềm tin nơi các tôn giáo khác, sự linh ứng của Kinh Thánh, duy nhất tính cá thể giữa Ngôi Lời vĩnh hằng và Đức Giêsu thành Nazareth, tính duy nhất trong nhiệm cục cứu độ giữa Ngôi Lời Nhập Thể và Chúa Thánh Linh, tính duy nhất và tính phổ quát về cứu độ của mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, vai trò trung gian cứu độ phổ quát của Giáo Hội, sự bất khả phân ly giữa Nước Thiên Chúa, Nước của Đức Kitô và Giáo Hội, sự hiện diện của Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo”.

Theo Tuyên ngôn, các lý thuyết này xây dựng trên một số quan điểm triết học và thần học, gây rất nhiều khó khăn cho việc chấp nhận chân lý mạc khải. Chẳng hạn “xác tín cho rằng chân lý về Thiên Chúa không thể lãnh hội và diễn đạt được, cho dù qua mạc khải Kitô giáo; thái độ tương đối hoá đối với chính chân lý, dẫn đến quan điểm cho rằng điều đúng đối với người này sẽ không đúng đối với người khác; sự đối nghịch triệt để giữa não trạng luận lý Tây phương và não trạng tượng hình Đông phương; thuyết chủ quan, xem lý trí như là nguồn duy nhất của tri thức, trở thành bất lực để hướng cái nhìn lên cao hơn, ngõ hầu dám đạt tới chân lý của hữu thể; khó khăn trong việc hiểu biết và chấp nhận sự hiện diện trong lịch sử những biến cố quyết định và chung cuộc; việc tước bỏ chiều kích siêu hình nơi biến cố Nhập thể của Ngôi Lời vĩnh cửu và việc giản lược biến cố này vào một xuất hiện thông thường của Thiên Chúa trong lịch sử; quan điểm “tổng hợp bát nháo” trong nghiên cứu thần học, tiếp thu những tư tưởng triết lý và tôn giáo từ những nguồn rất khác biệt, mà không bận tâm đến sự hài hoà có tính hệ thống hay sự dung hợp của chúng với chân lý Kitô giáo; cuối cùng, khuynh hướng đọc và giải thích Kinh Thánh bên ngoài Truyền Thống và Huấn Quyền của Giáo Hội”.[17]

Đối thoại đích thực luôn đòi hỏi làm sao tiếp nhận ý kiến của người, tôn trọng những nét riêng biệt của họ, mà vẫn không đánh mất căn tính của mình. Nó đòi hỏi cả hai bên phải ý thức rõ rệt căn tính và bản sắc của mình cũng như của người. Albert Camus đã nhận định sâu sắc: “Điều tôi mong muốn nói với quí bạn hôm nay chính là thế giới đang cần cuộc đối thoại chân chính. Thái độ giả dối cũng như im lặng đều tương phản với đối thoại. Chỉ có đối thoại thực sự giữa những người chân thành với chính mình và nói sự thật”.[18] Nói cách khác, không thể có đối thoại đích thực với người, mà đồng thời lại “đánh lận con đen”, tự lừa dối chính mình.

Hiểu như vậy, có xác tín, lập trường và trân trọng giữ vững bản sắc của mình không những không phải là chướng ngại, mà còn là điều kiện cần thiết để có thể đối thoại thực sự. Rất nhiều lần, những khác biệt giữa ta và người có thể giúp cả hai mở rộng tầm nhìn và phát triển căn tính. Paul Ricoeur dám nói: “Để có thể là mình, hãy đối thoại với người; nhưng để đối thoại với người, mình phải là mình”. Mấy chục năm về trước, Martin Buber đã quả quyết: “Tôi trở nên người thành toàn qua tương giao với Anh; khi trở thành Tôi, tôi gọi Anh. Tất cả cuộc sống đích thực bao hàm gặp gỡ”.[19]

Một cuộc đối thoại đích thực đòi hỏi phải đảm nhận đồng thời hai yếu tố có vẻ trái ngược, nhưng bổ túc nhau: giữ căn tính của mình và tôn trọng quan điểm của người. Phải chăng đó là thái độ lương thiện trí thức? Người xưa thường nói: “quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa”. Còn đối với triết gia Jean Lacroix, “chúng ta đã có thể định nghĩa cuồng tín là thiếu vắng đối thoại. Trái lại, lương tâm chính là đối thoại. Triết gia phải là người đối thoại tuyệt diệu”.[20]

Với những gì vừa trình bày ở trên, để có thể thực hiện đúng đắn cuộc đối thoại giữa Kitô giáo với các tôn giáo khác, thiện chí mà thôi chưa đủ. Cần được chuẩn bị đầy đủ về trí thức, tâm linh và đạo đức. Đặc biệt cần có một tấm lòng rộng mở để đón nhận linh ứng của Thánh Linh, bất cứ từ đâu đến và bất cứ do ai nói.[21]

Về điểm này đại sư Buddhadasa có những nhận định rất chí lý: “Mang tinh thần đối thoại hoàn toàn không có nghĩa là ngây thơ tin tưởng hoặc làm cho người ta có cảm tưởng rằng mình nghĩ là vị thế của đối phương tiên quyết đã ưu việt hơn mình, bởi vì nếu mỗi người đối thoại hăm hở bênh vực quan điểm của đối phương thì cuối cùng ai sẽ đối thoại với ai đây? Mỗi người tham gia đối thoại cần phải đào sâu không những kiến thức của mình về Đạo của người, mà cả kiến thức về lý thuyết của Đạo mình nữa”.[22]

Đây cũng là vấn đề hội nhập văn hóa với hai chiều hỗ tương: một đàng đức tin phải được diễn tả bằng chính những giá trị văn hóa của mỗi dân tộc; đàng khác nhiệm vụ của các tín hữu là cố gắng làm sao để giá trị của Tin Mừng thấm nhập và soi sáng sinh hoạt văn hóa. Tiến trình này là một tiến trình song đôi: Yêu sách hội nhập đòi hỏi phải phân tích, phê phán, đánh giá lại những hình thức và cách thế trình bày lòng tin mang nặng sắc thái văn hóa Tây phương và có thể làm lu mờ niềm tin đích thực. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải can đảm làm một cuộc “vượt qua” và thăng hoa dưới ánh sáng của Tin Mừng, để lột bỏ những gì tiêu cực, khiếm khuyết hay dính dấp tội lỗi nơi mỗi nền văn hóa...

3. Thách đố của đối thoại liên tôn

Nếu đối thoại là một công tác nhiêu khê thì đối thoại liên tôn càng cam go và căng thẳng hơn, vì chính ở đây chúng ta động chạm tới những gì được coi như bất khả xâm phạm: xác tín niềm tin. Đại sư Buddhadasa thú nhận “đối thoại là một công tác khó khăn và hao tổn: nó thực sự đưa đến những mối căng thẳng tâm lý cá nhân và tập thể. Trên bình diện cá nhân, đối thoại thực sự gây xáo trộn, bởi vì nó bao hàm rằng người ta phải bảo vệ bản sắc của mình, như đã thấy ở trên, đồng thời chấp nhận kẻ khác thực sự có thể dạy được cho ta một điều gì đó; điều này có nghĩa là chúng ta có thể phải thay đổi lối nhìn của chúng ta đối với một số điểm mà cho đến bây giờ chúng ta cho là đương nhiên. Đó là một thử thách có tác dụng thanh tẩy, có thể phong phú hóa việc tiếp thu những giá trị và giúp chúng ta đào sâu hơn ý nghĩa việc lệ thuộc tôn giáo của chính chúng ta.

Trên bình diện tập thể, phải chăng người hay tiếp xúc với những người khác tôn giáo và cố gắng tìm hiểu họ thường dễ bị những người trong cộng đoàn nghi ngờ là lạc giáo, thiếu niềm tin, bị cám dỗ tìm kiếm nơi khác điều họ nghĩ là không thể tìm gặp nơi tôn giáo của mình, tóm lại không còn là một Phật tử thuần thành hoặc một Kitô hữu tốt nữa?”.[23]

Xưa cũng như nay, thách đố gay go nhất của đối thoại liên tôn là làm sao thực hiện tốt hành trình truy tầm chân lý cách chân thành và đích thực, không có ý đồ áp đặt quan điểm của mình trên người khác, nhưng đồng thời cũng không đánh mất căn tính riêng và bổn phận rao giảng Tin Mừng. Từ đó, một số câu hỏi căn bản sẽ được đặt ra: Khi Giáo Hội chủ trương đối thoại với các tôn giáo khác, phải chăng đã gián tiếp chấp nhận không cần phải rao giảng Tin Mừng hay ít nhất đã từ bỏ “vai trò cứu độ độc nhất của Đức Kitô”? Trái lại, nếu tích cực rao giảng Tin Mừng và mời gọi đồng loại gia nhập Đạo Chúa, thì phải chăng đã đương nhiên phủ giá trị của đối thoại liên tôn?

Một số văn kiện mới đây của Giáo Hội như thông điệp “Dominum et vivificantem”(1986) và “Redemptoris Missio” của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, tài liệu “Đối thoại và Rao giảng” của Hội Đồng Tòa Thánh về Đối Thoại Liên Tôn và Thánh Bộ Truyền Giáo, tài liệu “Kitô giáo và các tôn giáo khác” của Ủy ban thần học quốc tế, tài liệu của Thượng hội đồng Giám mục Á châu, Tông thư “Giáo Hội tại Á châu”, tuyên ngôn của Thánh Bộ Đức Tin “Dominus Jesus” (2000)... đã trực tiếp trả lời cho những câu hỏi hóc búa nói trên. Nói một cách tổng quát, đối thoại và rao giảng Đức Kitô mỗi bên có sắc thái và nhiệm vụ riêng, nhưng cả hai đều cần thiết và liên kết chặt chẽ trong sứ vụ của Giáo Hội nói chung và của mỗi Kitô hữu nói riêng. Từ chối rao giảng Tin Mừng là phản bội lý tưởng Kitô giáo và đánh mất căn tính của mình. Nhưng trong bối cảnh đa phức tôn giáo hôm nay, loan báo Tin Mừng nên được thực hiện qua dạng thức đối thoại liên tôn.

Quan niệm liên kết đối thoại và rao giảng Tin Mừng được coi như chủ trương căn bản của Giáo Hội hôm nay. “Cả hai đều chính đáng và cần thiết. Chúng liên kết chặt chẽ với nhau nhưng không thay thế cho nhau: đối thoại liên tôn chân thật của người Kitô hữu phát xuất từ ước muốn làm cho người khác biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày nhiều hơn, còn rao truyền Chúa Giêsu Kitô phải được thực hiện trong tinh thần đối thoại của Phúc âm. Hẳn nhiên, hai lãnh vực này độc lập, nhưng, như kinh nghiệm cho thấy,... cùng một con người duy nhất có thể dấn thân một cách khác nhau vào lãnh vực này hay lãnh vực kia”.[24]

Nói tóm lại, tất cả Kitô hữu được mời gọi để thực thi sứ vụ truyền bá Tin Mừng và trong thế giới hôm nay, đối thoại được coi là một phương thế hay nhất để thực thi sứ vụ đó. Động cơ thâm sâu của sứ vụ truyền bá Tin Mừng này nằm ở mầu nhiệm tình yêu. Chính tình yêu Thiên Chúa và tha nhân thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng cho anh em ta. Đây là một tặng vật tình yêu được trao tặng cho đồng loại, với tất cả sự chân thành, trân trọng và yêu thương. Thực vậy, nếu chúng ta “thực sự yêu mến Chúa Kitô thì không thể không chia sẻ tình yêu đó cho người khác”.[25]

Theo Tông thư Giáo Hội tại Á châu, “nhìn từ viễn quan Kitô giáo, đối thoại liên tôn không phải chỉ là cách thế giúp hiểu biết và phong phú hóa lẫn nhau, mà hơn nữa là một thành phần của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, một biểu lộ của sứ vụ đối với dân ngoại. Qua đối thoại liên tôn, người Kitô hữu trình bày xác tín về sự viên mãn của ơn cứu độ chỉ đến từ Đức Kitô và Giáo Hội mà họ là thành viên (...). Mặc dù Giáo Hội vui mừng nhìn nhận tất cả những gì là chân thật và thánh thiện trong các truyền thống tôn giáo của Phật Giáo, Ấn Giáo và Hồi Giáo, như một phản ảnh của chân lý soi sáng mọi người, điều đó không giảm thiểu trách nhiệm và bổn phận của Giáo Hội đối với việc cương quyết rao giảng Đức Kitô như là “Đường, Sự thật và Sự sống”(...). Sự kiện tín đồ các tôn giáo khác có thể lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu độ bên ngoài những phương tiện thông thường mà Ngài đã thiết lập, không loại trừ lời mời gọi chấp nhận đức tin và chịu phép rửa mà Thiên Chúa muốn cho mọi dân tộc”.[26]

Tiếp nối chiều hướng đối thoại mà Công Đồng Vatican II đã khai mở cho Giáo Hội, Tuyên ngôn “Dominus Jesus” của Thánh Bộ Đức Tin cũng nhìn nhận vai trò và giá trị của đối thoại liên tôn. Tuyên ngôn tái khẳng định: “Nhìn nhận một cách cởi mở và tích cực các giá trị mà các truyền thống tôn giáo đã làm chứng và cống hiến cho nhân loại, Tuyên ngôn của Công Đồng về Liên Lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo khẳng định: “Giáo Hội không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Giáo Hội nhìn nhận, với lòng kính trọng chân thành, những cách thế hành động và lối sống, những giới luật và giáo thuyết đó, mặc dù trong nhiều điểm có khác biệt với điều mà Giáo Hội duy trì và chủ trương, tuy nhiên cũng thường mang lại một tia sáng chân lý chiếu soi mọi người”.[27] Tiếp nối trong cùng một chiều hướng suy nghĩ này, sứ vụ rao giảng Chúa Giêsu Kitô, “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14, 6), được thể hiện hôm nay qua con đường đối thoại liên tôn. Tuy nhiên cuộc đối thoại này chắc chắn không thay thế, mà đúng hơn đồng hành với sứ vụ đi tới các dân tộc (missio ad gentes) (...). Cuộc đối thoại liên tôn này, thành phần của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, bao hàm thái độ cảm thông, mối tương quan hiểu biết hỗ tương và làm giàu cho nhau, trong sự vâng phục chân lý và tôn trọng tự do”.[28]

Hiểu theo ý nghĩa đó, rao giảng Tin Mừng không những không tương phản với đối thoại liên tôn, mà còn nhìn nhận một số giá trị cứu độ nơi các tôn giáo khác. Muôn đời rao giảng Tin Mừng vẫn là sứ vụ cương yếu của Giáo Hội, nhưng trong bối cảnh đa phức tôn giáo và đa diện văn hóa hôm nay, rao giảng Tin Mừng cần được thực hiện dưới dạng thức đối thoại liên tôn. Thần học gia Dòng Đaminh người Pháp, Claude Geffré, nhận định một cách sâu sắc và xác đáng ý nghĩa của rao giảng Tin Mừng trong thời đại chúng ta: “Chắc chắn, hôm nay chúng ta có cái nhìn tích cực hơn về khả năng cứu độ của các tôn giáo khác, tuy nhiên vẫn duy trì tất cả sự cần thiết của sứ vụ rao giảng Tin Mừng, ngay cả khi mục đích của nó không còn là ước muốn bằng mọi cách bành trướng Giáo Hội dưới chiêu bài là cần phải trở lại với Kitô giáo và cụ thể hơn với Công Giáo để được cứu độ. Bất chấp khả năng của mọi người có thể đạt tới ơn cứu độ hay không, sứ vụ của Giáo Hội luôn luôn vẫn là rao truyền rằng Nước Trời đã đến qua Đức Giêsu Kitô, và tất cả những ai hành động theo Tin Mừng, cũng hành động một cách bí ẩn để thực hiện Nước Trời trong Đức Giêsu Kitô. Như vậy, trọng điểm của sứ vụ truyền giáo nằm ở việc rao giảng Nước Trời và sự tới đến của nó trong Đức Giêsu Kitô hơn là nhấn mạnh đến việc cần thiết gia nhập Giáo Hội để được cứu độ”.[29]

Mặt khác, trong bối cảnh đa phức tôn giáo và toàn cầu hóa hôm nay, đối thoại liên tôn không thể chỉ dừng lại ở phạm vi ngôn từ và lý thuyết. Nếu Giáo Hội công giáo muốn đối thoại hữu hiệu với các tôn giáo và con người hôm nay thiết tưởng cần trả lời cho những thách đố và yêu cầu của thời đại. Để có thể đối thoại hữu hiệu, hai thách đố đặc biệt đang đặt ra cho Giáo Hội tại Á châu: khả năng dấn thân phục vụ con người, đặc biệt những người nghèo, những người bị loại trừ, những người không có tiếng nói... và khả năng trả lời cho những nhu cầu tâm linh sâu thẳm của con người thời đại, đặc biệt của giới trẻ.

Thêm vào đó, sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho người Á châu hôm nay có đặc điểm hỗ tương: vừa trao tặng, vừa lãnh nhận. “Hãy theo cung cách của chính Đức Giêsu, là nói cho người ta biết Thiên Chúa đang ở giữa họ, ngay trong lòng họ, bây giờ và tại đây, chứ không phải tại Giêrusalem hay ở một nơi nào khác, một thời nào khác. Nói khác đi, chính từ thứ nước uống hằng ngày mà người ta có thể khám phá ra nước hằng sống (x. Ga 4,7-26). Bởi vì chính Thiên Chúa đã sáng tạo nên vạn sự, do đó, một cách nào đó, phải nói rằng sự hiện hữu của các tôn giáo ngoài Kitô giáo, cũng đều do sự quan phòng của Ngài”.[30]

Theo cung cách đó, tiến trình rao giảng Tin Mừng sẽ không làm cho ai bị nghèo nàn hay phải mất mát bản sắc văn hóa của mình. Trái lại, sẽ phong phú hóa cả người cho lẫn người nhận. Tông thư “Giáo Hội tại Á châu” viết: “Các Kitô hữu tại Á châu có thể được hưởng những yếu tố chung với tín đồ của các tôn giáo và văn hóa khác của Á châu, chẳng hạn, với Hồi Giáo thái độ qui chiếu tất cả nơi ý định của Thiên Chúa, với các tín đồ Ấn Giáo việc thực nghiệm tâm linh, chiêm niệm, hành động từ bỏ và tinh thần bất bạo động, với các Phật tử thái độ siêu thoát và từ bi, với Khổng giáo đức hiếu thảo và nhân bản, với tín đồ Đạo giáo thái độ giản dị và khiêm hạ, với tôn giáo cổ truyền thái độ ân cần và trân trọng đối với thiên nhiên. Giáo Hội tại Á châu có thể cống hiến rất nhiều cho tín đồ các tôn giáo khác: giá trị của hòa giải và an bình, tuân phục ý muốn của Thiên Chúa, phẩm giá thánh thiêng của tất cả các nhân vị, tình yêu thương và dấn thân phục vụ tha nhân nhân, giáo huấn xã hội của Giáo Hội, thăng tiến con người dưới mọi hình thức, giá trị của khổ đau và hiến thân phục vụ là trung tâm của mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô”.[31]

4. Những hình thức đối thoại

Cuộc đối thoại nhiêu khê, nhưng rất phong phú này phải được thể hiện qua nếp nghĩ, lối sống và hành động cụ thể. Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu đề nghị soạn thảo một chỉ nam để hướng dẫn đối thoại liên tôn.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nêu lên những bước cần thiết trên tiến trình đối thoại dài hun hút này: “từ những trao đổi giữa các chuyên viên về truyền thống tôn giáo, hay giữa các đại diện chính thức cho đến việc cộng tác để phát triển toàn diện và duy trì các giá trị tôn giáo bằng đời sống. Qua việc đối thoại bằng chính đời sống, các tín hữu thuộc các tôn giáo khác nhau làm chứng lẫn cho nhau, trong cuộc sống hằng ngày về những giá trị nhân bản và thiêng liêng của mình, đồng thời giúp nhau sống những giá trị ấy để xây dựng một xã hội công bình và huynh đệ hơn”.[32]

Văn phòng đặc trách những người ngoài Kitô giáo cũng cống hiến những chỉ dẫn quan trọng liên quan đến đối thoại liên tôn và sứ vụ loan báo Tin Mừng. Tài liệu mang tựa đề “Thái độ của Giáo Hội đối với tín đồ các tôn giáo khác: những suy tư và chỉ dẫn liên quan đến đối thoại và sứ vụ loan báo Tin Mừng” (1984) đề cập đến nhiều yếu tố như: hiện diện và làm chứng, dấn thân thăng tiến xã hội và giải phóng con người, đời sống phụng vụ, cầu nguyện và đối thoại liên tôn, loan báo Tin Mừng và dạy giáo lý. Ở đây, chúng tôi chỉ xin giới hạn vào mấy điểm chính sau đây:

a.- Đối thoại bằng đời sống

Con người hôm nay thường thích chứng nhân hơn thầy dạy, dễ cảm kích trước hành động dấn thân cụ thể hơn là những lý thuyết cao siêu hay những lời hoa mỹ. Cổ nhân ta cũng thường nói: “Lời nói lung lay, gương lành lôi cuốn”.

Để có thể giới thiệu Đức Kitô cho người Á châu hôm nay, người Kitô hữu phải thực sự sống và làm chứng cho niềm tin của mình. Nói cách khác, người Kitô hữu chỉ có thể chuẩn bị cho việc đào sâu niềm tin nơi kẻ khác bằng cách đào sâu niềm tin của chính mình. Đối thoại liên tôn không chỉ là những trao đổi về lý thuyết, mà phải thể hiện qua chính cuộc sống. Theo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, “việc đối thoại này trước hết phải diễn ra ngay trong cuộc sống hàng ngày, giữa các tín đồ cùng sống trong một thôn xóm, khu phố, qua cách giao tiếp, làm ăn, buôn bán với nhau. Tôn giáo phải là nền tảng cho người ta xích lại gần nhau”.[33]

b.- Đối thoại bằng hoạt động chung

Các Kitô hữu cần hợp tác với đồng loại để giải quyết những khó khăn của cuộc sống và để cùng nhau xây dựng một thế giới nhân ái hơn. “Con đường đối thoại này sẽ giúp chúng ta hợp tác với mọi người thành tâm thiện chí đẩy lùi nền văn hóa của sự chết với lối sống gian dối, áp bức, bất công, bạo lực, phi nhân, bằng cách phát triển một xã hội mới với lối sống chân thật, công bằng, tôn trọng sự sống và các quyền con người, đồng thời xây dựng nền văn minh tình thương và hòa bình”.[34]

Chính trong nỗ lực cộng tác với tín đồ các tôn giáo bạn để làm đẹp khu phố, thăng tiến các trẻ em ít may mắn, xây cất nhà cho những gia đình nghèo, giúp nạn nhân bão lụt, chia sẻ nước uống,... các Kitô hữu đang thực hiện đối thoại liên tôn theo tinh thần của Công Đồng Vatican II. Trong mấy thập niên qua, tại Miền Nam Việt Nam, có rất nhiều lời chứng sống động và cảm động. Một người giáo dân dấn thân viết: “Chính thái độ sống vô vị lợi đã làm cho việc cộng tác giữa xóm đạo và xóm chùa ngày càng nhiều hơn. Và càng có nhiều dịp cộng tác mỗi bên lại càng có dịp thanh luyện, hiểu biết nhau bằng tinh thần đang thúc giục mỗi người hoạt động. Quả thật, Chúa Thánh Thần thổi đâu là tuỳ ý Người muốn, và Người đã thổi ra ngoài những ranh giới của Giáo Hội hữu hình”.

c.- Đối thoại bằng tri thức

Hình thức đối thoại này mang tính hàn lâm giữa các chuyên gia về những gì liên quan đến truyền thống và giáo lý của các tôn giáo, hay giữa các đại biểu của các truyền thống ấy với mục đích là để hiểu rõ hơn về các tôn giáo khác. Những buổi học hỏi và cầu nguyện chung cũng là thành phần và linh hồn của đối thoại liên tôn.

Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn và Bộ Truyền Bá Phúc Âm Cho Các Dân Tộc kết thúc tài liệu “Đối thoại và Rao truyền” với lời mời gọi dấn thân vào công tác nghiên cứu chuyên biệt: “Cần phải thực hiện những công trình nghiên cứu chuyên biệt về tương quan giữa đối thoại và rao truyền, liên hệ đến mỗi tôn giáo cá biệt trong khuôn khổ của các vùng địa lý nhất định và bối cảnh xã hội văn hóa chung.

Các Hội Đồng Giám Mục có thể trao phó nhiệm vụ nghiên cứu này cho các ủy ban thích hợp, các học viện thần học và mục vụ. Với kết quả thu thập được qua các công trình nghiên cứu ấy, các học viện này cũng có thể tổ chức các giáo trình chuyên môn và các khoá học hỏi chuẩn bị cho công cuộc đối thoại và rao truyền.

Nên lưu ý đặc biệt đến giới trẻ, đang sống trong một môi trường đa nguyên và gặp gỡ tín đồ các tôn giáo khác tại trường học và sở làm, trong các phong trào giới trẻ và giáo đoàn khác, và đôi khi ngay cả trong chính gia đình của họ nữa”.[35]

d.- Đối thoại bằng chia sẻ kinh nghiệm thiêng liêng

Nói một cách tổng quát, đây là hình thức “cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm (tâm linh) bao la; mầu nhiệm ấy có thể là Thiên Chúa, là niết bàn, là bản ngã sâu xa, hoặc bất cứ một thực thể mang một tên nào khác… Ở đây, chân lý không phải là điều trừu tượng, song là cụ thể và sống động, một chân lý mà người khác tôn giáo cũng có thể cảm nghiệm”.[36] Cuộc gặp gỡ lịch sử tại Assisi ngày 27-10-1986, và những cuộc cầu nguyện liên tôn cho hòa bình thế giới cho thấy mọi người có tôn giáo không cần phải từ bỏ truyền thống của mình, vẫn có thể tham gia cầu nguyện chung và hoạt động cho thiện ích của nhân loại.[37]

Đối thoại liên tôn đang được thực hiện dưới nhiều dạng thức và mang nhiều sắc thái khác nhau. Tuy nhiên, mọi hình thức đối thoại dích thực đều phải mang tính chất của một cuộc đối thoại cứu độ. “Vì thế, Giáo Hội coi đối thoại như một yếu tố cấu tạo nên sứ mạng của mình. Thiên Chúa đối thoại với loài người và cuộc đối thoại ấy kết tinh thành lịch sử cứu độ. Do đó, mọi cuộc đối thoại liên tôn đều là bí tích của cuộc đối thoại căn bản kia. Thêm vào đó, còn có tác động Thần Khí, bởi bao giờ Người cũng hiện diện ở nơi có hai hay ba tín hữu trao đổi với nhau về chân lý, về sự thiện hay về kinh nghiệm nội tâm thiêng liêng”.[38]

Chính trong ý nghĩa đó, đối thoại liên tôn không mâu thuẫn và càng không loại trừ sứ vụ loan báo Tin Mừng. Dưới tác động của Thánh Linh, mỗi tín hữu được mời gọi đảm nhận công tác đối thoại này như một cách thế để loan báo Tin Mừng. Đây là một trong những cố gắng để kiếm tìm cách thế tốt nhất, hữu hiệu nhất và phù hợp với Tin Mừng nhất để trao tặng cho tha nhân những chứng từ của tình yêu Thiên Chúa và dẫn dắt nhau tiến về mục tiêu siêu việt. Uỷ ban thần học quốc tế nhận định sâu sắc về ý nghĩa sung mãn của tiến trình này: “Loan báo Tin Mừng và chấp nhận đức tin một cách minh nhiên làm triển nở khả năng của ơn cứu độ cũng như tinh thần trách nhiệm nơi con người. Hơn nữa, ngày nay người ta quan niệm sứ mệnh loan báo Tin Mừng không chỉ giới đến những cá nhân, mà còn bao hàm tất cả các dân tộc và tất cả các nền văn hóa”.[39]

Dĩ nhiên, đây là một hành trình khó khăn, thăm thẳm và diệu vợi. Liệu có kết qủa gì không? Sẽ đi về đâu và cho đến bao giờ? Chẳng ai có thể trả lời thỏa đáng câu hỏi trên. Nói cho cùng, “chỉ duy Thiên Chúa biết lúc nào và vào giai đoạn nào sẽ hoàn thành hành trình thăm thẳm mà con người đang lần bước tìm gặp Ngài”.[40] Cũng chỉ duy Ngài có khả năng viết những dòng chữ thật thẳng bằng những nét ngoằn nghèo, hay vẽ những đường cong tuyệt mỹ với những nét thẳng. Nhiệm vụ của chúng ta trong lúc này là mạnh dạn dấn thân vào con đường đối thoại với tất cả khả năng của trí tuệ, sức mạnh của con tim và niềm tin tưởng lạc quan nơi quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tác tạo và hướng dẫn muôn vật theo kế hoạch yêu thương nhiệm mầu của Ngài.

 

 Gm. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, OP. Catechesis.net


[1] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Giáo Hội tại Á châu, số 29.

[2]Xin coi Lumen Gentium, 2; Gaudium et Spes, 13; Ad Gentes, 3,11,15.

[3] Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium, số 17.

[4] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn “Thời đại chúng ta”, số 2.

[5] Công Đồng Vatican II, Tuyên ngôn tự do tôn giáo, số 2.

[6]Ibidem.

[7]Hiến Gaudium et Spes nói rõ: “Con người khám phá nơi sâu thẳm của lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn (...). Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ (...). Trung thành với lương tâm, các Kitô hữu phải liên kết với những người khác để tìm kiếm chân lý và giải quyết trong chân lý biết bao vấn đề luân lý được đặt ra trong đời sống cá nhân cũng như trong tương giao xã hội ” (số 16).

[8]Ibidem: “Lương tâm có nhiều khi lầm lạc vì vô tri bất khả kháng, nhưng cũng không phải vì thế mà mất hết phẩm giá”.

[9]Tuyên ngôn “Về thời đại chúng ta”, số 2.

[10] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 28.

[11] Công Đồng Vatican II, Ad Gentes, 9.

[12] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in Misericordia, số 3.

[13]Insegnamenti di Giovanni Paolo II, Vol.IX, 2 (1986), tr. 1262.

[14]Ibidem, vol. XV, 2 (1992), tr. 551.

[15]Xem Instrumentum Laboris, số 32.

[16] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia, số 15.

[17]Thánh Bộ Đức Tin, Dominus Jesus, số 4.

[18]A. Camus, Actuelles I, Chroniques 1944-1948, trong Essais, Paris, 1965, tr. 372. Câu văn trích dẫn ở trên là thành phần của một bài nói chuyện tại tu viện Đaminh ở boulevard Latour-Maubourg vào năm 1948.

[19]M. Buber, Je et tu, Paris, 1969, tr. 30.

[20]J. Lacroix, Le Sens du dialogue, Neuchâtel, 1965, tr. 7.

[21]Thánh Thomas thường thích thú nhắc lại một câu nói đã trở thành thời danh: “Omne verum, quocumque dicatur, Spiritu Sancto est” (tất cả chân lý, bất cứ do ai nói, đều phát xuất từ Thánh Linh).

[22]Đại sư Buddhadasa, Kitô giáo dưới mắt một Phật tử, Định Hướng tùng thư, 1996, tr.178.

[23]Ibidem, tr. 178- 179.

[24]Đối thoại và rao truyền, số 77.

[25]Ibidem, số 83.

[26] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia, số 31.

[27] Công Đồng Vatican II, Nostra aetate, số 2.

[28]Thánh Bộ Đức Tin, Tuyên ngôn “Dominus Jesus”, số 2.

[29]Claude Geffré, “Babel ou Pentecôte?”, op.cit., tr. 207.

[30]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Bản trả lời các câu hỏi, trong Định Hướng, số 16, 1998, tr. 85-86.

[31]Synode des Éveques/ Assemblée spéciale pour l’Asie, Jésus-Christ, le Sauveur, et sa mission d’amour et de service en Asie..., Cité du Vatican, 1998, số 33.

[32] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, Thông điệp Redemtoris Missio, số 57

[33]Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, thư chung 2001, số 13.

[34]Ibidem, số 15.

[35]Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, Đối thoại và rao truyền, số 88.

[36]Felipe Gomez, Truyền giáo học, 2003, tr. 150-151.

[37] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Giáo Hội tại Á châu, số 31.

[38]Felipe Gomez, Truyền giáo học, 2003, tr. 151

[39]Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, Kitô giáo và các tôn giáo, số 24.

[40]Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, Đối thoại và rao truyền, số 84.