Giáo Dân Có Bổn Phận Và Trách Nhiệm Gì Trong Giáo Hội?

Giáo dân là thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội. Do đó, Giáo dân có vai trò rất quan trọng trong Hội Thánh do Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng các Thánh Tông Đồ để tiếp tục Sứ Vụ của Người trên trần thế cho đến thời sau hết.

Trong phạm vi bài này, tôi muốn trình bày cách tổng quát về vai trò và sứ mạng của người Giáo dân dựa trên những tài liệu căn bản của Giáo Hội để mong cống hiến một cái nhìn đúng đắn về trách nhiệm và bổn phận của người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội hôm nay.

Trước hết, xin được nói qua về Giáo Hội và sứ mạng của Giáo Hội trong trần thế.

Giáo Hội là gì? Có thể định nghĩa vắn gọn: Giáo Hội là nơi qui tụ toàn thể Dân Thiên Chúa (The Assembly of God’s People) dưới quyền thủ lãnh của Chúa Kitô. Nói cách khác, Giáo Hội là Cộng Đoàn những người tin và muốn được huởng công ơn cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã khai sinh Giáo Hội trong thời cuối cùng bằng việc rao giảng Tin Mừng và loan báo Nước Thiên Chúa đã đến trong trần gian (Mt 4:17; Mc 15).

I.- SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

Giáo Hội có sứ mạng nối tiếp Sứ Mạng của Chúa Kitô, tức nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ cho hết mọi người trên trần thế “làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19). Trong Sứ mạng này, Giáo Hội là Bí Tích hay Nhiệm Thể (Mystical Body) của Chúa Kitô trong trần thế. Theo lời dạy của Thánh Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium, Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám mục hiệp thông với Ngài coi sóc và lãnh đạo”.[1] Do đó, cũng theoThánh Công Đồng, “những ai biết Giáo Hội Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Đức Giêsu Kitô như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn ra nhập hoặc không kiên trì sống trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi”.[2]

Như thế, ta thấy Giáo Hội quan trọng và cần thiết biết bao cho những ai muốn lãnh nhận Ơn Cứuđộ của Chúa Kitô. Phải nói là, Giáo Hội Công Giáo (Catholic Church) để phân biệt với các giáo hội khác cũng tin nhận Chúa Kitô, nhưng không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo về một số tín điều quan trọng và về quyền cai trị Giáo Hội thay mặt Chúa Kitô trên trần thế. Cũng phải nhấn mạnh thêm ở đây, là danh xưng “Công Giáo” không hề đồng nghĩa với công cộng (public) như có người đã hiểu sai và có ác ý xuyên tạc. Công Giáo (catholicam = catholic = catolico = catholique) có nghĩa là phổ quát (universal), là của chung (for everybody)vì được dành cho hết mọi người, mọi dân tộc không phân biệt mầu da, ngôn ngữ, phong tục, tất cả đều được mời gọi gia nhập để lãnh Ơn Cứu độ của Chúa Kitô.

II.- PHẨM TRẬT TRONG GIÁO HỘI

Đứng đầu của hàng giáo phẩm là Đức Giáo Hoàng, người kế vị Thánh Phêrô, vị thay mặt Chúa Giêsu trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa và cai quản Giáo Hội hoàn vũ (Universal Church), với sự hiệp thông và cộng tác của Giám mục đoàn (College of Bishops). Hồng Y đoàn (College of Cardinals), gồm những vị được tuyển chọn trong Giám mục đoàn (và đôi khi cũng có một số Linh mục xuất sắc được chọn làm Hồng Y), với nhiệm vụ chính là cố vấn cho Đức Thánh Cha và là ứng viên tương lai tham dự vào mật nghị bầu Tân Giáo Hoàng khi đương kim Giáo Hoàng qua đời.

Hiệp thông và cộng tác với Giám mục đoàn trong thừa tác vụ (Ministerium = Ministry) là Linh mục đoàn. Phụ tá cho Giám mục và Linh mục là các Phó tế chuyển tiếp (transitional) hay vĩnh viễn (permanent deacons). Tu sĩ (Religious) là những người có lời khấn và thuộc về một Dòng tu hay Tu hội, được thành lập hợp pháp theo Giáo Luật. Nam tu sĩ có thể lãnh Chức Thánh để trở thành Linh mục, hay Giám mục.

Cũng cần nhấn mạnh ở đây, là trong Giáo Hội Công Giáo hiện nay, chỉ có 3 Chức Thánh (Ordo) là: Phó tế, Linh mục và Giám mục.[3] Chức Giám mục là chức thánh cao nhất dành cho những linh mục được chọn làm Giám mục, để nối tiếp sứ vụ của các Thánh Tông Đồ trong Giáo Hội. Các Hồng Y và chính Đức Giáo Hoàng cũng chỉ có chức Giám mục mà thôi.

Chức thánh (Ordo) không phải là Thừa tác vụ (ministerium), mặc dù mọi công việc mục vụ và thánh vụ của Linh mục hay Giám mục là tác vụ của chính Chúa Giêsu là Đầu (in persona Capitis). Tuy nhiên, phải có chức thánh Linh mục thì mới được thi hành thừa tác vụ Linh mục (priestly ministries), cũng như phải có chức thánh bậc Giám mục thì mới được trao cho những thừa tác vụ của Giám mục (Episcopal ministries). Không có nghi thức nào trong Giáo Hội hiện hành gọi là “Nghi Thức trao tác vụ linh mục”, mà chỉ có Nghi thức truyền chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục mà thôi.[4] Vì thế, ngày lãnh Chức Thánh (Ordo) Phó tế, Linh mục hay Giám mục phải gọi là ngày lãnh chức thánh (ordination), và lễ đó gọi là Lễ Truyền chức chứ không thể gọi là “Ngày trao tác vụ Phó tế, Linh mục hay Giám mục” được, vì không có loại nghi thức này trong Giáo Hội Công Giáo hiện nay.

III.- GIÁO DÂN

Giáo dân là thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội. Ngoài hàng giáo phẩm, Giáo sĩ và Tu sĩ, Giáo dân là những người đã lãnh nhận, hoặc đang khao khát lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, tức là Nhiệm Tích làm cho họ trở nên “Dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế,ngôn sứ và vương giả của của Chúa Kitô theo cách thức của họ”.[5] Tước vị này của Giáo dân vốn xuất phát từ Phép Rửa Tội (Baptism) và được Thánh Công Đồng Vatican II long trọng nhắc lại, chứ không phải là giáo huấn mới của Giáo Hội về vai trò của người Giáo dân như có người lầm tưởng. Công Đồng đã dành trọn Chương IV của Hiến Chế tín lý Lumen Gentium để nhấn mạnh về vai trò và trách nhiệm của Giáo dân trong Giáo Hội ngày nay. Theo đó, Giáo dân, nhờ Bí Tích Rửa Tội, được tham dự vào các sứ vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, nhưng với “cách thức của họ”. Nghĩa là, họ được tham dự và thi hành theo cách thức sau đây:

1.- Sứ vụ tư tế (priestly ministry)

Công Đồng nói rõ: Chức tư tế chung của Giáo dân (Common priesthood of the Faithful) và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật (ministerial or hierarchical priesthood) của hàng giáo sĩ “khác nhau không chỉ về cấp bậc và còn về yếu tính” nữa, mặc dù cùng tham dự vào Chức Tư Tế duy nhất của Chúa Kitô... Linh mục, Giám mục là những người lãnh Chức Thánh (Holy Orders) để thay mặt Chúa Kitô cử hành Hy tế Tạ ơn (Eucharist) hàng ngày dâng lên Chúa Cha thay mặt cho toàn thể nhân loại. Ngược lại, Giáo dân được mời gọi dâng chính đời sống chứng tá của mình trong các môi trường hoạt động cùng niềm vui, nỗi buồn, việc bác ái, hy sinh, cầu nguyện lên Thiên Chúa trong tinh thần hiệp thông với Chúa Kitô một lần dâng hy tế trên thập giá năm xưa, và còn đang tiếp tục dâng hy tế ấy qua sứ vụ của Giáo Hội, cụ thể là qua sứ vụ của những vị được tấn phong làm tư tế thừa tác như Linh mục và Giám mục.

Như vậy, tuy cùng tham dự vào Chức Tư Tế của Chúa Kitô, nhưng cách thức và bản chất hoàn toàn khác với vai trò tư tế của Linh mục và Giám mục. Cụ thể, khi tham dự Thánh Lễ hay Hy Tế tạ ơn (Eucharist), Giáo dân không được phép đọc chung kinh nguyện nào, đặc biệt là Kinh Nguyện Thánh Thể (Eucharistic prayer) cùng với chủ tế (celebrant), hoặc giơ tay trên lễ vật như Chủ tế và các vị đồng tế (concelebrant), dù được mời đứng vây quanh Bàn Thánh. Ngay cả Phó tế cũng không được phép làm việc này hoặc đọc chung các kinh Tiền tụng và Kinh nguyện Thánh Thể cùng với Chủ tế, mà phải quỳ gối khi Chủ tế bắt đầu đọc Kinh nguyện Thánh thể để phân biệt rõ vai trò tư tế của chủ tế (và đồng tế nếu có) với nhiệm vụ phụ giúp Bàn Thánh của Phó tế.

Về việc tôn kính Phép Thánh Thể, Giáo dân không được phép tự ý lấy Mình Thánh Chúa trong Nhà Tạm (Tabernacle), hoặc trên Bàn Thờ để rước lấy, hay mang cho người khác, trừ trường hợp được Giám mục trao cho nhiệm vụ làm thừa tác viên Thánh Thể (Extraordinary minister of Holy communion) để phụ giúp trao Mình Thánh trong Thánh Lễ hay mang cho người đau ốm ở tư gia hoặc bệnh viện. Trong nhiệm vụ đặc biệt này, Giáo dân phải hết sức tỏ ra lòng tôn kính đối với Chúa Giêsu hiện diện thật sự trong Phép Thánh Thể. Cụ thể, phải mặc y phục xứng đáng và mang Mình Thánh trong túi đựng riêng (Pix) và đeo quanh cổ khi đi ra ngoài. Không được bỏ chung với các vật dụng khác trong ví sách tay, giỏ đi chợ hoặc hộp để đồ trong xe. Cũng phải mang Mình Thánh đến ngay cho người muốn lãnh nhận, không thể mang về nhà hoặc đi đây đó làm việc riêng trước khi trao cho bệnh nhân. Mình Thánh còn dư, phải đem về đặt lại trong Nhà Tạm, không được phép cất giữ ở nhà hay trong xe qua đêm, trừ trường hợp bất khả kháng không thể đến nhà thờ để trao lại trong ngày.

2.- Sứ vụ ngôn sứ và chứng nhân (prophetic ministry)

Nhờ Bí Tích Rửa Tội, người Giáo dân tham dự cùng với hàng tư tế phẩm trật vào sứ vụ ngôn sứ của Chúa Kitô, nhưng với cách thế khác nhau do bởi địa vị của họ trong Giáo Hội. Thật vậy, hàng giáo sĩ phẩm trật (Giám mục, Linh mục) rao giảng lời Chúa, dạy dỗ và cử hành các Bí tích trong phạm vi thánh đường (Phó tế được công bố và giảng Tin Mừng, được chứng hôn [có sự thừa ủy], Rửa Tội, chủ sự nghi thức an táng nhưng không được cử hành các bí tích khác). Ngược lại, Giáo dân được mời gọi rao giảng Lời Chúa và giáo lý bằng chính đời sống chứng nhân của mình trong các môi trường sống. Nghĩa là được mời gọi và có bổn phận làm tông đồ cho Chúa bằng cách chu toàn các bổn phận ở gia đình trong vai trò vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em. Bên ngoài xã hội, người Giáo dân làm tông đồ cho Chúa qua đời sống chứng tá, bằng cách nêu cao những giá trị của Tin Mừng trong khi sống và làm việc chung với những người không cùng tín ngưỡng với mình, để giúp họ nhận ra Chúa và tin yêu Người như Chúa Giêsu đã dạy: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian… ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ nhìn thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5:16).

Đây là sứ vụ ngôn sứ của người tín hữu Chúa Kitô, tức là sứ mạng góp phần phúc âm hóa thế giới cùng với hàng giáo sĩ. Vì sống giữa đời, nên người Giáo dân có nhiều cơ hội thuận tiện để rao giảng lời Chúa bằng chính đời sống của mình. Nếu họ can đảm sống trung thực với những giáo huấn của Chúa về công bằng, bác ái, yêu thương, tha thứ, tôn trọng danh dự, tính mạng và quyền lợi của người khác cách phải lẽ, thì chắc chắn họ sẽ phúc âm hóa hữu hiệu những môi trường có mặt họ sống chung với những người khác. Trong viễn ảnh này, đời sống chứng tá của họ có giá trị thuyết phục người khác mạnh hơn cả những lời giảng thuyết hùng hồn trong nhà thờ của hàng giáo sĩ. Vì thế, Thánh Công Đồng Vatican II đã nói: “Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh, mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian...”.[6]Ngược lại, nếu người tín hữu Chúa Kitô “thỏa hiệp” với thế gian, chấp nhận những lối sống đi ngược với mọi giá trị của Tin Mừng, thì họ đã chối Chúa Kitô cách hữu hiệu trước mặt người đời. Nói khác đi, nếu người tín hữu Công Giáo cũng ăn gian, nói dối, cờ bạc, ly dị, phá thai, nói hành, lăng mạ người khác, hay mê tín dị đoan tôn thờ của cải vật chất hơn những giá trị tinh thần, và chấp nhận những lối sống vô luân, phi nhân bản, thì chắc chắn không thể rao giảng hữu hiệu Tin Mừng công bình, bác ái, thánh thiện, yêu thương và tha thứ của Đức Giêsu Kitô cho ai được, vì không ai có thể cho người khác cái chính mình không có. Cũng vậy, không ai có thể thuyết phục người khác tin và làm những điều chính mình không tin và không thực hành trong đời sống. Nhiệm vụ ngôn sứ của người Giáo dân được mong đợi cụ thể trong hai lãnh vực chính sau đây:

a. Trong lãnh vực xã hội trần thế

Những môi trường hoạt động chính của người Giáo dân là các môi trường xã hội, chính trị, kinh tế, thương mại, công nghiệp, văn học, nghệ thuật, giáo dục, truyền thông,v.v… Như mọi công dân sống trong cộng đồng xã hội, người Giáo dân tham gia vào các môi trường trên vì nhu cầu sinh sống, vì nghề nghiệp chọn lựa hay chuyên môn đòi hỏi sự dấn thân hoạt động của họ. Chính ở những môi trường này, họ có cơ hội tốt để thi hành sứ vụ ngôn sứ và chứng nhân của mình trước tha nhân. Trong mục đích này, người Giáo dân đặc biệt được mời gọi và mong đợi dùng hiểu biết và khả năng chuyên môn của mình để cải tạo thế giới, lành mạnh hóa xã hội, chống lại mọi khuynh hướng tha hóa, lối sống phi luân, suy tôn vật chất làm băng hoại tinh thần con người trong mọi môi trường xã hội ngày nay. Cụ thể, họ có bổn phận phải tận dụng những phương tiện truyền thông hữu hiệu như: sách báo, truyền thanh, truyền hình, website, facebook, twitter,… để chống lại những ảnh hưởng khốc hại của “văn hóa sự chết” (culture of death) đang xâm nhập mọi lãnh vực sống hiện nay ở khắp mọi nơi. Họ phải có can đảm lên tiếng chống lại những tệ trạng xã hội, chủ nghĩa hưởng thụ và tôn thờ vật chất (consumerism &materialism) vô luân như phim ảnh, sách báo khiêu dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho những kẻ vô đạo hành nghề mãi dâm. Phải chống lại mọi hình thức khuyến khích bạo động, ly dị và hôn nhân đồng tính (gay or lesbian marriage), một suy thoái nghiêm trọng về giá trị và mục đích của hôn nhân đang được cổ võ và hợp thức hóa ở nhiều nơi trên thế giới.

Mặt khác, để góp phần tích cực cải tạo xã hội, với tư cách công dân, người Giáo dân có quyền và có bổn phận tham gia các sinh hoạt chính trị để ủng hộ các chính khách hay chính đảng có lập trường công chính, bênh vực cho chân lý, cho những giá trị tinh thần phù hợp với Tin Mừng cũng như quyền căn bản của con người. Nhưng Giáo dân không được phép thành lập bất cứ tổ chức chính trị nào với danh xưng Công Giáo, nghĩa là không được nhân danh Giáo Hội Công Giáo để làm chính trị. Ngay cả các Đoàn thể, Hiệp hội và Phong trào,… “không một sáng kiến nào được lấy danh nghĩa Công Giáo nếu không có sự ưng thuận của giáo quyền hợp pháp”.[7]

b. Trong phạm vi Giáo Hội

Giáo dân được mời gọi cũng như có bổn phận xây dựng Giáo Hội bằng những đóng góp tích cực và thích đáng, để làm cho Giáo Hội ngày thêm vững mạnh về lượng, nhất là về phẩm chất thánh thiện theo gương Chúa Kitô.

Cụ thể, Giáo dân hãy can đảm sống đức tin Công Giáo không những trong lãnh vực tinh thần bằng việc chu toàn mọi bổn phận thiêng liêng như cầu nguyện, tham dự việc cử hành bí tích nhất là bí tích Thánh Thể (Eucharist) là đỉnh cao (climax) của phụng vụ thánh (sacred liturgy)và đời sống của Giáo Hội. Việc siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình, Máu Chúa Kitô là phương thế hữu hiệu nhất để được trở nên giống Chúa Kitô là khuôn mẫu tuyệt vời của mọi sự thánh thiện, hoàn hảo.

Nhưng bổn phận và trách nhiệm của người Giáo dân không chỉ giới hạn vào việc chu toàn những bổn phận thiêng liêng này, mà còn đòi hỏi tích cực tham gia vào việc xây dựng và phục vụ tích cực cho Giáo Hội hoàn vũ cũng như Giáo Hội địa phương trong những công việc thích hợp với vai trò và khả năng chuyên môn của họ.

Cụ thể, Giáo dân phải cộng tác chặt chẽ với hàng giáo phẩm trong mọi công việc cần sự tiếp tay góp sức của họ như giúp việc quản trị và điều hành giáo xứ trong vai trò và trách nhiệm của các Hội Đồng Giáo xứ (Pastoral Council), các Đoàn thể. Nhưng cần nói rõ là, theo Giáo Luật,[8] Giáo dân phục vụ trong những Hội Đồng này chỉ đảm trách vai trò tư vấn (consultation) mà thôi, nghĩa là dùng hiểu biết và khả năng chuyên môn của mình để đưa ra những khuyến cáo, đề nghị cho Linh mục chánh xứ (pastor) hay Quản nhiệm (administrator)những phương thức tốt đẹp nhằm xây dựng, quản lý và phát triển giáo xứ, mưu ích lợi chung cho cộng đồng dân Chúa ở địa phương, nhưng không có quyền quyết định hay ra lệnh cho ai thi hành.

Hiện nay, Giáo dân đang có mặt trong nhiều lãnh vực hoạt động của Giáo Hội. Thí dụ trong lãnh vực giáo dục, có nhiều Giáo dân đang đảm trách giảng dạy ở các Đại Học, Chủng viện Công Giáo từ Roma cho đến địa phương. Nhiều Giáo dân cũng đang làm việc trong các Cơ quan trung ương của Tòa thánh và các Giáo phận trên toàn thế giới, góp phần không nhỏ vào công tác đào tạo, giáo dục, hành chánh quản trị, và truyền thông của Giáo Hội.

Trong lãnh vực phụng vụ, Giáo dân được phép đọc sách thánh và làm thừa tác viên Thánh Thể, tức những thừa tác vụ (ministries) mà họ không được giao phó trước Công Đồng Vatican II. Đây là vinh dự đặc biệt của Giáo dân tham gia vào đời sống của Giáo Hội ngày nay.

3.- Địa vị vương giả hay sứ vụ vương đế của Giáo dân

Bí Tích Rửa Tội không những cho người tín hữu được tham dự vào sứ vụ ngôn sứ, tư tế và còn cả địa vị vương đế của Chúa Kitô nữa.

Thật vậy, Chúa Giêsu đến để cứu chuộc và dẫn đưa nhân loại vào “Nước Thiên Chúa”, là “Vương Quốc” của bình an, thánh thiện, công bình, yêu thương và tha thứ. Do đó, mọi tín hữu, qua Phép Rửa, đều được mời gọi và có bổn phận hoạt động tích cực để mở mang “Nước Thiên Chúa” ở khắp nơi trên trần thế này. Nghĩa là phải tích cực hoạt động để đẩy lui bóng tối của sự dữ, sự tội, bằng ánh sáng Chúa Kitô. Với tinh thần làm men, làm muối và ánh sáng, người Giáo dân, khi tham gia sinh hoạt và làm việc với người khác, phải cố gắng nêu cao những giá trị và đặc tính của “Nước Thiên Chúa” trước những thách đố của thời đại, của xã hội hưởng thụ vật chất, của “văn hóa sự chết” nhằm chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền bạc và vui thú bất chính, dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của đồng loại, đánh mất mọi ý thức đúng đắn về tội lỗi và tội ác (sins & crimes). Tóm lại, họ phải có can đảm chống lại những nếp sống vô luân, những bất công xã hội, những vi phạm quyền sống của con người, những gương xấu xô đẩy con người vào con đường trụy lạc, làm băng hoại gia đình và xã hội từ gốc rễ.

Tóm lại, trong một thế giới gian tà và tội ác, sống xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu là sống xứng đáng với địa vị vương giả của mình, tức là góp sức đem “Nước Thiên Chúa” đến những nơi có bất công, tranh chấp, hận thù, gian ác, và nhơ uế.

Với địa vị vương giả, người tín hữu được mời gọi và có bổn phận mở mang “Vương Quốc”của Chúa Kitô Vua trên trần thế này trong mọi môi trường sống và hoạt động, vì “Chúa cũng muốn nhờ cả Giáo dân để mở mang nước Người, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình”.[9]

4.- Tương quan với hàng giáo phẩm

Trước hết, cần biết qua tại sao phải gọi các Giám mục, Linh mục là “cha”. Giáo Hội cho phép dùng danh xưng này vì như lời Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô như sau: “Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4:15). Nghĩa là do tác vụ Giáo Hội trao, Giám mục, Linh mục sinh con cách thiêng liêng cho Chúa Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng và làm Phép Rửa. Đây là vai trò người cha thiêng liêng (spiritual fatherhood) của hàng giáo sĩ. Đó chính là lý do tại sao Thánh Phaolô gọi Timothe là “người con tôi đã sinh ra trong đức tin” (1Tim 1:2).

Thánh Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, xác định vai trò của “Các linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh họ cách thiêng liêng qua Phép Rửa và giáo huấn”.[10] Đây là tình thiêng liêng giữa giáo sĩ (Giám mục, Linh mục) và Giáo dân trong đức tin, không có liên quan gì đến văn hóa của một dân tộc nào và tuyệt nhiên không phải là hình thức “thần thánh hóa giáo sĩ” hay xúc phạm (blasphemy) đến “Thiên Chúa là CHA” trên trời như có người lầm tưởng và muốn thay đổi. Lời Chúa trong Tin Mừng Mat 23:8-9 chỉ có nghĩa là không được dành cho ai dưới đất sự tôn thờ, tôn kính duy nhất (latria) được dành riêng cho “Thiên Chúa là CHA”, Đấng tạo dựng mọi loài, mọi vật vô hình và hữu hình, chứ không áp dụng cho những người thay mặt Chúa để tác tạo con người về mặt thể lý và thiêng liêng như các bậc làm cha mẹ trong gia đình và trong Giáo Hội.

Trong tương quan với hàng giáo phẩm và để thi hành bổn phận góp sức xây dựng, bảo vệ và phát triển Giáo Hội từ trung ương đến địa phương, người Giáo dân cần lưu ý giáo huấn của Giáo Hội: “… như con cái Thiên Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, họ (Giáo dân) cũng sẽ trình bày với các vị ấy (hàng giáo phẩm) những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn. Nhờ sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín của họ, họ có thể và đôi khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ của mình về những việc liên quan đến lợi ích của Giáo Hội. Họ nên thực hiện điều đó, nếu cần, nhờ các cơ quan đã được Giáo Hội thiết lập nhằm mục đích ấy, nhưng luôn luôn với lòng chân thành, can đảm, khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Chúa Kitô vì nhiệm vụ thánh của các ngài”.[11]

Mọi người trong Giáo Hội phải hiểu rõ, là Giáo Hội do Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ không phải là một cơ chế chính trị, xã hội hay văn hóa, nhưng là một Bí Tích Cứu Độ, có mặt và hoạt động trong trần gian với sứ mạng hoàn toàn siêu nhiên, dù có phương tiện nhân sự là hàng giáo phẩm, giáo sĩ, phương tiện vật chất là các cơ sở thờ phượng, giáo dục, bác ái ở khắp nơi trên thế giới cũng như cần đến nhiều khoản tài chánh để chi phí cho những nhu cầu cần thiết. Vì không phải là một cơ chế chính trị hay xã hội, nên không thể áp dụng bất cứ đường lối, phương thức nào của các đoàn thể chính trị, xã hội vào các sinh hoạt của Giáo Hội. Mọi sinh hoạt trong Giáo Hội được hướng dẫn bằng tinh thần vâng phục các Bề Trên, thay mặt và nhân danh Chúa Kitô (in persona christi), dưới sự hướng dẫn, soi sáng, nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Cụ thể, các Giám mục hiệp thông và vâng phục Đức Thánh Cha, người kế vị Thánh Phêrô trong sứ mạng “chăn dắt chiên con, chiên mẹ của Thầy”, các Linh mục hiệp thông, vâng phục và cộng tác với các Giám mục để thi hành thừa tác vụ (ministry) được trao phó. Phó tế phụ giúp Linh mục và Giám mục. Tu sĩ nam nữ vâng phục các Bề trên liên hệ của mình.

Giáo dân vâng phục hàng giáo phẩm theo lời dạy sau đây của Thánh Công Đồng Vaticnô II: Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng lời của người Kitô hữu, Giáo dân cũng hãy mau mắn chấp nhận những điều các chủ chăn có nhiệm vụ thánh, đại diện Chúa Kitô, đã quyết định với tư cách những thầy dạy và những nhà lãnh đạo trong Giáo Hội. Làm thế, họ đã theo gương Chúa Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết, để mở đường hạnh phúc của sự tự do con cái Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng các vị lãnh đạo của mình cho Thiên Chúa, để các ngài hoan hỉ mà không than phiền thi hành nhiệm vụ chăm sóc chúng ta như những người sẽ phải trả lẽ (x. Dth 13,17).[12]

Vâng phục theo tinh thần trên không có nghĩa Giáo dân không được quyền phát biểu đóng góp điều gì cho Giáo Hội, và chỉ biết cúi đầu vâng nghe. Nhưng trước khi nói đến phạm vi và giới hạn của việc phát biểu đó, thì cần nhấn mạnh điều quan trọng này:

Trong Giáo Hội Công Giáo, mọi tín hữu phải vâng phục “Quyền Giáo Huấn” (Magisterium)của Giáo Hội. Không có vấn đề dân chủ để cho phép một thành phần nào trong Giáo Hội được quyền thách đố (challenge), đặt vấn đề hay bác bỏ điều gì được dạy dỗ bởi thẩm quyền này, đặc biệt trong hai lãnh vực “tín lý” (dogma)“luân lý” (morals), bởi lẽ Đức Giáo Hoàng và các Giám mục hiệp thông với ngài được ơn bất khả ngộ (không thể sai lầm = infallibility) của Chúa Thánh Thần khi dạy dỗ tín hữu, đặc biệt trong hai lãnh vực này. Vậy khi các Linh mục và Giám mục hiệp thông với Đức Thánh Cha để giảng dạy những gì về đức tin, về giáo lý, luân lý, Kinh Thánh, phụng vụ thì các tín hữu phải vâng phục thi hành. Không có vấn đề không đồng ý kiến (disagreement) ở đây. Cũng không ai được phép từ chối tuân theo hay phê bình những gì liên quan đến kỷ luật bí tích, thư quy (canon) Kinh Thánh, Giáo Luật (canon law), phụng vụ thánh (sacred liturgy). Không thể đòi chia sẻ quyền giảng dạy chân lý của Giáo Hội để đưa ra những lý thuyết, những tư tưởng canh tân không phù hợp với Giáo lý của Giáo Hội.

Cụ thể không thể lấy cớ góp ý xây dựng Giáo Hội bằng những lý thuyết về tâm sinh lý và y học để đòi cho phép phá thai (abortion), ly dị (divorce) và hôn nhân đồng tính (same sex marriage). Không thể bất đồng với Giáo Hội về luật độc thân (celibacy) của hàng giáo sĩ, hay đòi cho nữ giới được làm Linh mục. Cũng không thể đối đầu với Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội bằng phương thức diễn đàn để phê bình hay đề nghị những cải đổi liên quan đến tín lý, giáo lý, luân lý, Kinh Thánh, Bí tích,... thí dụ, không thể viện lý do hội nhập văn hóa (inculturation) để đòi đem các bài đọc về văn hóa, đạo đức của dân tộc như sách Huấn Ca, ca dao, tục ngữ để thay thế hay đọc xen kẽ với các bài Sách Thánh đang được đọc trong các Thánh Lễ. Cũng không thể lấy lý do “hội nhập văn hóa” để xin cho dùng “bánh tráng và rượu đế” thay cho rượu nho và bánh không men (unleavened bread) được dùng thống nhất trong phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo. “Đem Chúa Kitô về với các dân tộc Á Châu” không có nghĩa là phải Việt Nam hóa hết mọi hình thức phụng tự, nghi lễ, kể cả nội dung tín lý, giáo lý đang áp dụng chung cho mọi dân tộc, mọi văn hóa thế giới. Điều quan trọng cần duy trì là cốt lõi niềm tin chứ không phải hình thức biểu lộ.

Cũng trong tinh thần này, không nên phê bình rồi đề nghị dùng cụm từ “gia nhập giai cấp Linh mục hay Giám mục” dựa theo nguyên ngữ của các từ “ordo và ordinatio” để thay thế cho danh xưng “chịu chức Linh mục hoặc Giám mục” đã được dùng trong phụng vụ và nghi thức của Giáo Hội, vì nói như vậy là chối bỏ “Chức Thánh = Holy Orders” của hàng giáo sĩ theo giáo lý và tín lý của Giáo Hội. Nên biết rằng, từ ngữ được dùng trong phụng vụ hay bí tích là phải được hiểu theo ý của Giáo Hội chứ không phải theo hiểu biết và cắt nghĩa của các nhà ngữ học (linguists). Vẫn biết, qua Bí tích Rửa Tội, mọi tín hữu đều được tham dự vào chức Linh mục của Chúa Kitô là Tư tế (Priest), Ngôn sứ (Prophet) và Quân vương (King), nhưng Giáo Hội phân biệt rõ thể thức tham dự này của người Giáo dân và của hàng giáo sĩ thừa tác (ordained ministers) như đã được trình bầy ở phần trên của bài. Tôi phải đặc biệt nhắc lại điều này vì có người hiểu lầm rằng, từ “Ordo” trong tiếng Latin mà Giáo Hội dùng để chỉ chức thánh của hàng giáo sĩ Công Giáo chỉ có nghĩa là “bậc, là giới, là giai cấp”, và từ “ordinatio”chỉ có nghĩa là “gia nhập” hay “xáp nhập” vào “ordo” đó. Bởi vậy, theo nguyên ngữ (original meaning) thì không có gì là “chức thánh” hay “chịu chức”, cũng như từ ngữ “Sacramentum”thì cũng chẳng có gì là “bí tích” cả; nhưng vì người ta dịch nghĩa như vậy nên trở thành quen thôi. Lập luận này hoàn toàn sai giáo lý của Giáo Hội, vì Giáo Hội không căn cứ vào từ ngữ, mà chỉ dùng từ ngữ để chuyên chở niềm xác tín của mình vào một thực thể thiêng liêng không thể chứng minh và cắt nghĩa được bằng ngôn ngữ hay lý luận của con người.

Thực thể đó là “Ơn thánh” (gratia)“Quyền thánh” (sacra potestas) mà Giáo Hội tin là được Chúa ban cho các thừa tác viên có chức thánh (ordained ministers) qua việc đặt tay của Giám mục, và lời nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần trong Nghi thức truyền chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục của Giáo Hội. Đây là một nghi lễ phụng vụ thiêng liêng đòi hỏi đức tin để chấp nhận chứ không phải là một hình thức lễ nghi của xã hội loài người như: lễ mãn khóa, lễ nhậm chức, lễ ra nhập một đoàn thể hay đảng phái chính trị,v.v… Nếu hiểu như vậy thì chẳng còn gì là thánh thiêng (sacred) trong các nghi thức phụng vụ của Giáo Hội nữa, và tất cả chỉ còn là “bùa phép” (magic) mê tín giả tạo núp dưới những từ ngữ dịch sai như ordo, ordinatio, sacramentum,v.v… mà thôi! Đây là một nguy cơ của việc sử dụng sai vai trò ngôn sứ trong Giáo Hội và tự hào am hiểu tiếng Latin để sửa sai Giáo Hội về những thuật ngữ được dùng trong phụng vụ thánh, trong các Bí tích (sacraments) và sách giáo lý của Giáo Hội. Đành rằng, Việt ngữ không có đủ khả năng tương đương để dịch từ tiếng Latin hay các ngôn ngữ Tây phương khác, nhưng khi dịch “Ordo”“Chức Thánh”, “Ordinatio”“Truyền chức” hay “chịu Chức thánh”, “Sacramentum”“Bí Tích”, thì cách dịch này là đúng với ý của Giáo Hội về nội dung mới của các từ ngữ ấy, mặc dù nguyên ngữ không hẳn có đủ nghĩa đó. Cũng chính vì chỉ hiểu các từ Latin theo nguyên ngữ, nên có ý kiến cho rằng: vì Ordo có nghĩa là “bậc, là hàng, là giai cấp” nên nếu nói Phó tế, Linh mục, Giám mục có Chức thánh thì các “bậc độc thân, bậc góa bụa, cô trinh nữ” cũng đều có chức thánh cả, vì cùng là ordo như nhau và “do một nghi thức trong Giáo luật mà tác thành”!

Điều này hoàn toàn không đúng, vì trước hết qua Phép Rửa, tuy Giáo dân và hàng giáo sĩ cùng chia sẻ chức Linh mục duy nhất của Chúa Kitô, nhưng khác nhau về “cấp độ và yếu tính” (degree and essence) như đã phân tích ở phần trên. Và như Thánh Công Đồng Vatican II định nghĩa, danh từ “Giáo dân = laity” có nghĩa là “tất cả những Kitô hữu không có chức thánh hoặc bậc tu trì được Giáo Hội công nhận”.[13] Như vậy, chỉ có những người được chọn để lãnh chức Phó Tế, Linh mục và Giám mục mới có Chức Thánh (Holy Orders) mà thôi. Đây không phải là sự tranh giành hay độc quyền về “Chức Thánh”, mà chỉ là sự phân biệt về cách thức tham dự vào chức Linh mục của Chúa Giêsu theo giáo lý của Giáo Hội.[14] Nói cách khác, khi nêu ra những điều này, tôi không có ý chỉ trích các tác giả có tư tưởng không đúng về Bí tích, mà chỉ muốn nhân đây trình bày cho rõ những gì Giáo Hội dạy về tín lý, giáo lý, phụng vụ, bí tích và Nghi thức (Rites) mà thôi.

Vậy người Giáo dân có thể đóng góp gì để xây dựng Giáo Hội ngoài những điều nên tránh trên đây?

Ta hãy đọc lại lời dạy của Thánh Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Tín lý về Giáo Hội về việc này: “Họ (Giáo dân) cũng sẽ trình bày với các vị ấy (hàng giáo phẩm) những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn. Nhờ khả năng chuyên môn và uy tín của họ, họ có thể và đôi khi còn có bổn phận phải bày tỏ cảm nghĩ của mình về những việc liên quan đến lợi ích của Giáo Hội… nhưng luôn với lòng chân thành, can đảm, khôn ngoan, kính trọng và yêu mến những người thay mặt Chúa Kitô vì nhiệm vụ thánh của các ngài”.[15]

Như vậy, khi phải bày tỏ điều gì với hàng giáo phẩm, Giáo dân nên làm với lòng thực tâm yêu mến Giáo Hội, và chỉ vì thiện chí muốn xây dựng cho Giáo Hội ngày một thêm trở nên giống Chúa Kitô là Đầu của Thân thể Nhiệm mầu là chính Giáo Hội, mà mọi tín hữu là những chi thể lớn nhỏ. Cụ thể, Giáo dân có thể và còn có bổn phận trình bày cho các vị lãnh đạo Giáo Hội địa phương những thao thức về mục vụ, những khao khát được học hỏi về Kinh Thánh, tín lý, giáo lý, luân lý và phụng vụ để biết sống và hành Đạo cách tốt đẹp và hữu hiệu hơn trong hoàn cảnh thế giới ngày nay. Cũng trong mục đích ấy, Giáo dân có quyền nêu ra những thắc mắc của mình trong các lãnh vực này, hầu mong được hiểu rõ và hiểu đúng để thực hành trong đời sống. Ngoài ra, Giáo dân cũng có thể góp ý hoặc đề nghị những phương pháp sư phạm giúp giảng dạy giáo lý cách hiệu quả và cập nhật hơn cũng như góp ý về việc kiến thiết, xây dựng Giáo xứ, kể cả phương thức gây quỹ (fundraising) để giúp tài trợ những nhu cầu cần thiết. Nhưng cần phân biệt rõ là, góp ý xây dựng (suggest constructively) thì khác với chỉ trích (criticize) và tạo gương xấu (scandal) có hại cho uy tín của Giáo Hội. Khi muốn sửa sai điều gì liên quan đến cá nhân, tập thể, thì chúng ta cần nhớ lại lời Chúa sau đây về cách sửa lỗi anh em (fraternal correction):

“Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi là người anh em mình. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa để mọi công việc được giải quyết căn cứ vào lời hai hay ba nhân chứng. Nếu nó không nghe họ thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe thì hãy kể nó như một người ngoại hay một kẻ thu thuế” (Mt 18:15-18).

Như vậy, khi thấy có sự sai trái nào trong Giáo Hội, trong cách hành xử của một hay nhiều giáo sĩ, hoặc tai tiếng về đời tư của ai, mà đã vội rỉ tai loan truyền cho người khác biết, rồi viết thư nặc danh, viết báo, lên internet công khai đả kích hay nói xiên xéo, bóng gió về sự sai trái đó cho công chúng biết, thì có phù hợp với lời Chúa trên đây không?

Chúng ta nên hiểu rằng, Giáo Hội của Chúa trên trần gian này không phải đã là nơi qui tụ toàn các thánh nam, nữ, tức là những người không còn tì vết nào đáng chê trách nữa. Trái lại, phải thành thật nhìn nhận rằng, Giáo Hội chỉ là nơi mời gọi những người tội lỗi muốn được cứu rỗi, muốn nên thánh, nhưng còn đang trên tiến trình hoàn thiện và chưa đạt đến đích ấy. Do đó, chúng ta không nên hoảng hốt hay bất mãn khi thấy một số hay nhiều phần tử trong Giáo Hội chưa tốt lành như ta mong muốn. Vậy ta hãy nên khoan dung nhìn nhận sự kiện này như Chúa đã và đang khoan dung, nhân từ, nhẫn nại với những khiếm khuyết, lầm lỗi, và cả tội lỗi của mỗi người trong chúng ta. Chắc chắn Chúa không muốn chúng ta ném đá bất cứ ai còn khuyết điểm và tội lỗi. Chúa mong muốn chúng ta luôn cố gắng thăng tiến và giúp người khác nhận ra lầm lỗi và sửa đổi, để được tha thứ và nên thánh. Vả lại, chúng ta đã dám tự nhận mình là người hoàn hảo chưa? Nếu chưa, thì chúng ta nên khoan dung, nhẫn nại với những ai đang còn khuyết điểm và bị tai tiếng, thay vì vô tình “ném đá” họ bằng những phản ứng nông nổi, thiếu suy nghĩ núp dưới danh nghĩa muốn “lành mạnh hóa Giáo Hội”.

Mặt khác, để giúp Giáo Hội nhìn ra những khuyết điểm trong phương thức quản trị, mục vụ và đào tạo giáo sĩ, tu sĩ để phục vụ tốt và hữu hiệu hơn cho Dân Chúa, thì không nên chỉ bới móc những khuyết điểm theo chủ quan của mình bằng những phê bình gay gắt như sau:

“Chức linh mục được mặc nhiên coi là chức thánh, con người linh mục được mặc nhiên coi là con người thánh, dù có nhiều linh mục chẳng thánh một chút nào… Còn cách nào đề cao các linh mục hơn như thế? Về phương diện này, các chế độ độc tài hẳn phải thua xa…!”. Hoặc: “Linh mục và Giáo dân cũng là người như nhau. Trí tuệ, đạo đức, uy tín và ảnh hưởng, chưa chắc ai hơn ai...”. Đây là một vài điển hình của thiện chí muốn góp ý xây dựng hay đả phá Giáo Hội?

Đừng vội hiểu lầm là tôi muốn bao che, bưng bít những điều không tốt đẹp nơi người này, việc nọ trong Giáo Hội. Cũng không phải là muốn ngăn cản Giáo dân thi hành chức năng ngôn sứ của mình. Ngược lại, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điều là, xin những ai có thiện chí muốn đóng góp gì vào việc xây dựng, phát triển và bảo vệ Giáo Hội, thì xin làm với tinh thần Tin Mừng và trong khuôn khổ những giáo huấn của Giáo Hội về vai trò và trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa trong Hội Thánh.

Chúng ta phải phân biệt rõ: góp ý xây dựng khác với chỉ trích, đả phá. Điều này áp dụng chung cho mọi sinh hoạt đúng đắn của mọi tổ chức, đoàn thể xã hội, chính trị và đặc biệt là tôn giáo. Không một đoàn thể, tổ chức nào có thể phát triển và tồn tại được nếu các thành viên chỉ chú trọng vào việc bới xấu nhau, đả kích cá nhân đưa đến phương hại uy tín chung của tập thể.

Nhưng nếu thấy có gương xấu (scandal) thực sự trong đời sống của một hay nhiều người trong Giáo Hội địa phương, nếu có sự “lạm dụng Toà giảng” (pulpit) để công kích cá nhân hay phổ biến những điều ngoài phạm vi chia sẻ lời Chúa, hoặc thấy những sai lệch “fantaisie” (phóng túng) trong phụng vụ (thí dụ: cho Giáo dân đứng quanh bàn thờ để cùng giơ tay trên lễ vật với chủ tế và cùng đọc chung Lời truyền phép!; mời đôi tân hôn lên đồng tế quanh bàn thờ sau khi chứng hôn; rửa tội hay chứng hôn tại tư gia; dâng lễ ngoài bãi biển hay nơi giải trí công cộng,v.v…), hoặc trong cung cách hành xử của linh mục, tu sĩ nào đó, thì Giáo dân có bổn phận trước tiên là phải can đảm và thẳng thắn bày tỏ quan tâm của mình cách khôn ngoan, kính trọng và kín đáo với các đối tượng liên hệ để xin điều chỉnh, thay đổi. Nếu phương cách này tỏ ra vô hiệu quả, thì bước tiếp có thể làm là trình cho Bề Trên liên hệ trong Giáo phận biết về mối quan tâm của mình. Không ai cấm Giáo dân làm việc này. Không phải vâng phục mà câm nín, làm ngơ trước những sự kiện khách quan là gương xấu, là sai trái, cần được phê bình, sửa chữa. Chỉ xin một điều là, đừng bày tỏ quan tâm của mình vì bực tức, muốn trả thù và công khai chỉ trích, bêu xấu, mà hậu quả nhiên hậu là làm phương hại cho uy tín chung của Giáo Hội, là điều nên tránh mà thôi.

KẾT LUẬN

Giáo dân có vai trò và trách nhiệm xây dựng Giáo Hội cùng với hàng giáo sĩ.

Giáo dân vâng phục các vị chủ chăn nhận lãnh năng quyền dạy dỗ, thánh hóa và cai trị xuất phát từ Đức Giêsu Kitô, qua vị Đại Diện duy nhất của Chúa trên trần thế là Đức Thánh Cha, xuống các Giám mục, Linh mục hiệp thông và cộng tác với ngài trong Giáo Hội. Như thế, vâng phục các chủ chăn liên hệ (Linh mục, Giám mục) là vâng phục chính Chúa Giêsu mà các ngài nhân danh (in persona Christi) để giảng dạy, thánh hóa và cai trị. Sự vâng phục và kính trọng này không làm mất danh dự, địa vị và trách nhiệm của Giáo dân trong Giáo Hội, mà ngược lại, còn chứng tỏ đức tin trưởng thành và đúng đắn của người tín hữu Chúa Kitô nữa, vì như lời Thánh Công Đồng Vatican II đã dạy, người Kitô hữu khi vâng phục các chủ chăn trong Giáo Hội “đã theo gương Chúa Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết để mở đường hạnh phúc của sự tự do con cái Thiên Chúa cho tất cả mọi người”.[16] Tuy nhiên, Giáo Hội cũng mong đợi người Giáo dân can đảm và khôn ngoan thi hành trách nhiệm của mình, xuất phát từ Bí tích Rửa Tội qua vai trò ngôn sứ, tư tế và vương đế như đã trình bày trong bài này.

Các vị chủ chăn được kêu gọi không những “phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của Giáo dân trong Giáo Hội”, mà còn “nên sẵn sàng chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ” được trình bày nữa.[17] Nhưng Giáo dân cũng phải kính trọng các chủ chăn của mình, ngay cả khi phải trình bày với các ngài những ưu tư xây dựng của mình về một vấn đề nào có liên quan đến lợi ích chung của Giáo Hội, của Giáo xứ hay Cộng đoàn. Tóm lại, phải có sự tương kính giữa mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội. Tôn trọng lẫn nhau vì vai trò và địa vị của mình cho mục đích xây dựng và phát triển Giáo Hội của Chúa, là phương tiện cứu rỗi cho mọi người, mọi dân tộc ở mọi thời đại. Tôn trọng để cùng giúp nhau chu toàn bổn phận và trách nhiệm của mình trong Giáo Hội.

Hàng giáo phẩm, Giáo sĩ, Tu sĩ và Giáo dân đều có chung một sứ mạng là hoạt động tích cực để mở mang “Nước Chúa” trên trần thế, hầu cho nhiều người được hưởng Ơn Cứu độ của Chúa Kitô. Tất cả đều có chung một khát vọng là được nên thánh như Cha trên trời là Đấng chí Thánh, mặc dù khác nhau về địa vị và phương thức thi hành sứ mạng của mình trong Giáo Hội. Sự khác biệt này không làm thương tổn đến địa vị của một thành phần nào trong Giáo Hội, mà chỉ nói lên tính đa dạng của ơn gọi phục vụ mà thôi. Mong mọi người ý thức điều quan trọng này để có thái độ sống thích hợp hầu tránh gương xấu về nguy cơ tranh chấp quyền bính trong Giáo Hội.

 

Lm . FX. Ngô Tôn Huấn, catechesis.net

 


[1] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, no. 8.

[2] Ibid., no. 14.

[3] cf. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, no. 1536.

[4] cf. The Rites of the Catholic Church, 1964.

[5] cf. Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, IV, no. 31.

[6] cf. Ibid., no. 33.

[7] x. Công Đồng Vatican II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, V, no. 24.

[8] cf. Bộ Giáo Luật, 1983, cans. 511-14 & 37.

[9] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Lumen Gentium, no. 36.

[10] cf. Ibid., no. 28.

[11] cf. Ibid., IV, no. 37.

[12] Ibid., IV, no. 37.

[13] Ibid., no. 31.

[14] cf. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, nn. 1536, 1551.

[15] Ibid., no. 37.

[16] Ibid., IV, no. 37.

[17] Ibid., IV, no. 37.