GRATIA ET GAUDIUM IN FIDE

1. DẪN NHẬP CÓ TÍNH SIÊU HÌNH[2]

Để đi vào bài viết với những lập luận nền tảng, người viết dựa vào khoa siêu hình học của thánh Tô-ma A-qui-nô khi lập luận về “Esse như hiện hữu tối hậu của hữu thể”[3] để dẫn nhập với mục đích làm dẫn nhập cho những ý tưởng được nêu lên.

- Nơi hữu thể hữu chất, xét ở góc độ siêu hình, phức hợp “yếu tính – hiện hữu” luôn cấu thành chính hữu thể (yếu tính và hiện hữu là hai nguyên lý không thể phân ly của hữu thể). Yếu tính và hiện hữu thì khác nhau: yếu tính cấu thành hiện hữu, nguồn cho hiện hữu và có khả năng đón nhận hiện hữu để phát xuất các hoạt động; hiện hữu thì bị bị giới hạn và được xác định bởi yếu tính (các cấp độ hiện hữu khác nhau); đồng thời, yếu tính được cấu thành bởi “chất thể - mô thể”. Vì thế, nơi hữu thể thụ tạo hữu chất, mô thể thì xác định cho chất thể. Đó là những suy luận nền tảng và căn bản mà khoa siêu hình học lập luận về hữu thể hữu chất.

- Hiện hữu độc lập (lập hữu) – hiện hữu đón nhận: từ cặp phạm trù “yếu tính – hiện hữu”, soi chiếu cho bản thân trong bài viết này: trong Giáo hội, đặc sủng là chính ân sủng được trao ban từ Thiên Chúa và được đón nhận trong và qua các Đấng sáng lập, từ đó, các Dòng được hình thành. Cách riêng, Dòng Thừa sai Đức Tin (TSĐT) cũng không đi ra ngoài quy luật đó = đức tin là ân sủng trao ban từ Thiên Chúa, được đón nhận qua Đấng sáng lập và thành hình nên Dòng. Sự hiện diện của Dòng là phản ánh sự hoàn hảo của Thiên Chúa khi chính Thiên Chúa trao ban ân sủng là đức tin để Dòng hiện hữu và hoạt động trong Giáo hội. Do đó, trong Giáo hội, không bao giờ có việc so sánh để đi đến việc phân cấp các đặc sủng (Hội Dòng này hơn Hội Dòng khác; Đặc sủng của Hội Dòng này hay hơn Đặc sủng Hội Dòng khác). Các đặc sủng là tốt đẹp như nhau, vì tất cả đều do xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa qua và trong Chúa Thánh Thần[4].

- Cấp độ hiện hữu: từ những lập luận trên, ta nhận thấy rằng, Dòng TSĐT hiện hữu là do “Đức Tin”. Yếu tính là cách thức hiện hữu của một hữu thể [yếu tính được định nghĩa như điều mà qua đó một sự vật là chính nó] = Đức Tin là chính yếu tính” cấu thành “sự hiện hữu” của Dòng trong Giáo hội (Dòng được hiện hữu là do việc đón nhận sự trao ban ân sủng Đức Tin từ Thiên Chúa qua Đấng sáng lập). Đức Tin là chính yếu tính cấu thành Dòng, nên chúng ta có thể xác quyết mạnh mẽ: “nếu không có ân sủng đức tin thì Dòng không tồn tại”. Chắc chắn, sự tồn tại ở đây phải được hiểu theo nghĩa là “tồn tại theo đúng bản tính” (hiện hữu như chính mình và khác với các hiện hữu khác [các cấp độ hiện hữu được ấn định, quy định bởi yếu tính]) => Hoạt động đi sau [và phải phù hợp] với bản tính (Agere sequitur esse): Thừa sai Đức Tin = Esse của chúng ta là đức tin, từ đó mới có agere của chúng ta là thừa sai (khác với các Dòng thừa sai khác, yếu tố thừa sai của chúng ta được xác định bởi: chiêm niệm [được sinh ra từ đức tin] và hoạt động [được phát sinh từ sứ mạng][5] => phải sống phù hợp với ơn gọi của mình). Như thế, ngay cả khi chúng ta hoạt động không phù hợp với bản tính, mà vẫn hiện hữu, điều đó minh chứng rằng tình yêu bao la của Thiên Chúa vượt lên tất cả[6]. Thiên Chúa luôn luôn hiện diện – đồng hành – hướng dẫn Dòng. Nói theo ngôn ngữ truyền thống và cách diễn tả của Kinh Thánh, thì đây chính là ân ban “Thiên Chúa ở cùng[7]

Từ những suy luận dẫn nhập trên, người viết xin đi vào nội dung: ÂN SỦNG VÀ NIỀM VUI TRONG ĐỨC TIN.

2. ÂN SỦNG TRONG ĐỨC TIN

2.1. Hạn từ Ân sủng[8]: GRATIA

Hạn từ La-tinh “gratia” – dịch sang tiếng Việt là “ân sủng”, được dùng để chuyển tải nội hàm của hạn từ Hy-lạpkharistrong Kinh Thánh Tân Ước. Gratia là thực tại xuyên suốt truyền thống thần học La-tinh, khởi đi từ Tertullianô (160-220), và là tâm điểm trong hệ thống thần học của thánh Augustinô (354-430).[9]

Trong tiếng Hy-lạp, từ kharis có tố căn “khar-“, nghĩa là chiếu sáng, sáng lên. Từ này cũng mang đến một nghĩa khác, phát sinh từ động từ “khai-rô”, nghĩa là mừng vui.

(1)Nghĩa chung của từ “kharis” là cái gì đó tươi sáng, tươi vui. Từ đó, cho ra ý nghĩa về sự duyên dáng, vẻ đẹp thể lý bề ngoài. Nhưng theo nghĩa thứ hai, thì kharis còn diễn tả sự toả sáng về một sự quan tâm, lòng quảng đại, một sự ban phát ân điển (như đức vua ban ân điển cho một ai đó). Từ đó phát sinh nghĩa: ân huệ, quà tặng. Cũng từ nghĩa phái sinh, từ kharis còn diễn tả nghĩa trả ơn, đáp đền ơn nghĩa, tạ ơn của người đã thọ ân của một ai đó.

(2) Từ nguyên nghĩa của kharis, chúng ta cũng nên đề cập đến một số từ phát sinh khác đáng được nhắc đến: khariszomai = (làm) đẹp lòng, ban một ân điển; kharitóô = đầy ân sủng; kharitomai = được đầy ân sủng. Người ta còn lưu ý đến thể từ (substantif) của từ ân sủng là kharisma = ân huệ, đặc ân; và trong ngôn ngữ của Ki-tô giáo, từ này nói đến một hình thái đặc biệt của ân sủng: ơn đặc biệt mà một cá nhân nào đó nhận được để thực hiện một số hành vi (chẳng hạn như đặc ân chữa bệnh).

(3) Trong tiếng La-tinh, gratia mang cùng ý nghĩa như trong tiếng Hy-lạp, nhưng trong trật tự hơi khác nhau. Gratia mang nghĩa: làm vui lòng, ân điển, ân huệ, sự tha thứ; từ này mang nghĩa là biết ơn, tạ ơn; và cuối cùng là mang nghĩa mở rộng: vẻ đẹp bên ngoài, sự duyên dáng, thú vị. Tuy nhiên, nguồn gốc của từ gratia trong tiếng La-tinh không đến trực tiếp từ gốc Hy-lạp, có lẽ đến từ tiếng Sankrite gir, nghĩa là “sự ca tụng”.[10]

Tóm lại, từ “ân sủng” vừa có nghĩa là ân huệ, vừa có nghĩa là duyên dáng, xinh đẹp. Ý tưởng “ân huệ” muốn nói đến một cái gì đó được trao (món quà); và đã gọi là “ơn” (ân) thì phải hiểu là do tình thương, chứ không do nghĩa vụ (ân huệ thì khác với bổn phận).[11]

2.2. “Ân sủng trong Đức Tin” nơi người Thừa sai Đức Tin

Sự thích đáng của hạn từ “ân sủng” được sử dụng để diễn tả một ân ban đặc biệt của tình yêu Thiên Chúa trở nên dễ hiểu hơn nếu nhìn nhận rằng có một trật tự trổi vượt tự nhiên, được gọi là trật tự siêu nhiên. Hẳn là, nếu những ơn tự nhiên đã được ban một cách nhưng không, thì những ơn siêu nhiên lại càng được ban tặng một cách nhưng không ở mức độ trổi vượt hơn thế nữa. Những ơn Chúa ban mà chúng ta gọi là “ân sủng” có thể được hiểu chính xác là: Thiên Chúa Ba Ngôi tự thông ban sự sống thần linh của Người cho loài người. Theo đó, chức năng chính của ân sủng không phải để trợ giúp bản tính yếu đuối của chúng ta, nhưng là để nâng bản tính đó lên một trật tự mới, trật tự siêu nhiên,[12] tức là sự sống của Chúa. Ân sủng nâng bản tính thụ tạo và những khả năng của bản tính đó lên một trật tự hiện hữu mới, ở đó chỉ có thần tính cư ngụ.[13]

Câu hỏi đặt ra mang tính chất rất hiện sinh: Làm thế nào để nhận ra ân sủng của Thiên Chúa nơi Dòng? Chính sự hiện hữu của Dòng qua những hoạt động tông đồ phát xuất từ sứ mạng Dòng minh chứng ân sủng Thiên Chúa hiện diện với – hiện diện cùng – hiện diện trong Dòng. Nhờ ân sủng, chúng ta được tham dự vào đời sống Giáo hội, đó chính là khía cạnh cao quí nhất trong chính ơn gọi và đời sống Thánh hiến của chúng ta:

Người Thừa sai Đức Tin chỉ có thể sống trong dấu chỉ ân sủng. Ân sủng, như sự trợ giúp siêu nhiên để kiện toàn tự nhiên, được Đức Giê-su Ki-tô thông ban để bước theo dấu chân Ngài cho đến khi hoàn toàn đồng hoá với Ngài.[14] Chính từ ân sủng tuôn trào niềm vui hầu phác hoạ đời sống người Thừa Sai Đức Tin. Người Thừa sai Đức Tin là người của niềm vui. Để rồi, niềm vui đích thực là hoa trái của đời sống ân sủng được sống trong đức tin.”[15]

3. NIỀM VUI TRONG ĐỨC TIN

3.1. Kinh Thánh nói gì về sự vui mừng[16]

Cựu Ước: Chúng ta có thể xếp thần học về niềm vui trong Cựu Ước theo bốn khía cạnh:

(1) Niềm vui tự nhiên của cuộc đời: niềm vui từ những hồng ân mà Đấng Tạo hóa đã ban cho. (x. Hc 21,27; 26,2; Tv 113,9; Gv 3,22; 9,7; Hc 17,22; 30,21-23).

(2) Niềm vui của lễ hội cộng đoàn: những niềm vui của cộng đoàn, của dân tộc. (x. 1Sam 18,6; 1V 1,40; Tv 126,5; Tv 122).

(3) Niềm vui trong Chúa: niềm vui đích thực đến từ việc con người tuân giữ luật Chúa. (x. Cn 2,14; 14,13; Tv 78; 103; 105; 126).

(4) Niềm vui của thời cánh chung: niềm vui hướng về tương lai vào thời mà Chúa sẽ gửi vị thiên sai để khai mào kỷ nguyên của hòa bình an lạc, thịnh vựợng phú quý. (x. Is 25,8; 40,1; 49,13; 66,10-14; Xp 3,14-15; Ge 2,21.23; x.Tv 96,11-13; 97).

Tân Ước: Tân Ước đề cập đến niềm vui dưới nhiều khía cạnh:

(1) Niềm vui của thời cứu độ: niềm vui khi đấng Cứu tinh xuất hiện. (x. Lc 1,14.58; 2,10; 4,18-21; Lc 6,20-23; Mt 5,2-12).

(2) Niềm vui của Đức Ki-tô: Đức Giê-su mang lại niềm vui cho nhân loại và Ngài chia sẻ những niềm vui của cuộc đời. (x. Lc 10,17-20; 13,17; 18,14 -17).

(3) Niềm vui trong thời cánh chung: Niềm vui được diễn tả dưới hình ảnh của một bữa đại tiệc. (x. Lc 14,15; 22,16.30; Ga 16,20-22; Ga 15,11; 1Ga 1,4; 2Ga 12).

(4) Niềm vui trong gian truân: niềm vui giữa cảnh bách hại, nhưng vượt lên cảm tính tự nhiên và vui trong Chúa, vui trong Thánh Thần. (Mt 5,11-12; Cv 5,41; Rm 14,17; 1Tx 1,6; Pl 3,1; 4,4; 2Cr 13,11).

3.2. “Niềm vui trong Đức Tin” nơi người Thừa sai Đức Tin

Với người TSĐT, niềm vui được cụ thể ở nhiều khía cạnh. Nhưng ở đây, chỉ nêu lên “Niềm vui thiêng liêng” theo hướng dẫn của Đặc sủng Dòng. Như vậy, xin nêu lên chỉ khía cạnh của niềm vui thiêng liêng: (1) Thánh hóa ngày sống nhờ việc cử hành hy tế Thánh Thể; (2) gặp gỡ Thánh Thể và (3) cử hành Kinh thần vụ:

Bí tích Thánh Thể tuyệt diệu là tâm điểm của đời sống Ki-tô hữu, là trung tâm và nuôi dưỡng linh đạo đức tin và nguồn mạch của sứ mạng[17]. Cách cụ thể, điều này đưa mỗi người Thừa sai Đức Tin tới một thái độ trung thành hơn với các giờ phụng vụ và cầu nguyện riêng, dành thời gian dấn thân cho việc tâm nguyện và chiêm niệm, cử hành bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Giáo hội.[18] Mỗi người Thừa sai Đức Tin phải dành thời gian mỗi ngày cho việc chầu Thánh Thể, để đi sâu vào sự thinh lặng trò chuyện với Ngài là Đấng mà chúng ta biết rằng chúng ta được yêu thương, để chia sẻ đời sống chúng ta với Ngài và để đón nhận nguồn khai sáng (enlightenment) để tiếp tục hành trình ngày sống.[19]

4. ĐỨC TIN TRONG ĐẶC SỦNG DÒNG THỪA SAI ĐỨC TIN

4.1. Niềm tin trong Kinh Thánh[20]

Cựu Ước:

Cựu ước diễn tả niềm tin qua hai danh từ phát xuất từ hai động từ ´amanbatah.

-Từ ´aman phát sinh tính từ “amen[21][אמן], nghĩa là “chắc chắn”, “xác thực”, rồi phát sinh nghĩa trạng từ, như “hẳn là như thế”, “đúng vậy”. Động từ ´aman có hai nghĩa:

+ được trợ giúp. Vì tin rằng được Đức Chúa, là Đấng trung tín (´eman) (Is 49,7), trợ giúp nên kẻ tin vững tâm.

+ đặt hy vọng / tín thác, rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã hứa. Vậy “tin” có nghĩa là bám chặt lấy lời hứa của Thiên Chúa và xác quyết Người sẽ thực hiện những gì Người đã hứa.

- Động từ batah cũng diễn tả sự “chắc chắn” và “tin cậy”. Vì thế, “tin vào Đức Chúa” có nghĩa là “xác quyết về Đức Chúa”, “tin cậy vào Người”, “cậy dựa vào Người”; như thế, kẻ tin cảm thấy an tâm về tương lai bởi vì họ ở trong bàn tay của Đấng mà học có thể hoàn toàn tín thác.

Tân Ước:

Trong Tân Ước, niềm tin có một vị trí quan trọng và quyết định, hơn cả trong Cựu Ước. Thực vậy, trong Cựu Ước, động từ ´aman (tin) xuất hiện 51 lần và danh từ ´emunah (niềm tin) xuất hiện 49 lần. Còn trong Tân Ước, động từ pisteuein (tin) và danh từ pistis (niềm tin) xuất hiện 243 lần. Điều đó cho thấy niềm tin trong Tân Ước có một vị trí đặc biệt và một ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Trước hết, chúng ta phân tích những hạn từ mà Tân Ước sử dụng để diễn tả về thực tại “niềm tin”.

Động từ pisteuein [πιστεύειν] có ba nghĩa:

+ tin vào lời của một ai đó nói: “Ông đã không tin (ouk episteusas [οὐκ ἐπίστευσας]) lời tôi” (Lc 1,20).

+ tin vào (eis) một ai đó, tức là: tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa.

+ tin rằng điều chúng ta cầu xin Thiên Chúa hoặc Đức Ki-tô sẽ được nhận lời: “Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà in khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được” (Mt 21,22)

Danh từ pitis [πίστις] có ba nghĩa:

+ sự tin tưởng đặt nơi Thiên Chúa, Đức Giê-su và sự trợ giúp của Người.

+ một tôn giáo chân thật, nghĩa này rất rõ trong câu: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin (pitis) trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).

+ đối tượng hoặc nội dung của đức tin: “chỉ có một niềm tin (mia pistis)” (Ep 4,5), nghĩa là: tất cả các tín hữu tin cùng một điều.

4.2. “Đức Tin” trong Đặc sủng Dòng

Ở mục trên, chúng ta đã tìm hiểu về niềm tin trong ý nghĩa Kinh Thánh với lối tiếp cận những ý niệm mà từng hạn từ biểu đạt trong Cựu Ước (qua hai động từ ´aman batah) và trong Tân Ước (động từ pisteuein và danh từ pitis). Ở mục này, chúng ta cùng tìm hiểu về “nhân đức[22] đức tin” trong Đặc sủng Dòng TSĐT. Thiết nghĩ, trước khi đi vào tìm hiểu, cũng cần phải ghi nhận rằng không phải lúc nào “tin” cũng là “nhân đức”. Trong ngôn ngữ Do-thái và các ngôn ngữ Châu Âu, người ta đơn thuần nói đến “tin”,[23] và phải tùy văn mạch mà dịch: lòng tin, niềm tin, đức tin. Trên thực tế, như sẽ thấy sau, phải chờ đến thời các Giáo phụ, người ta mới đặt vấn đề “tin” như là một nhân đức, nhân đức hướng Chúa (quen gọi là nhân đức đối thần: virtus theologalis).[24]

Thiết nghĩ, cũng không thừa khi nhắc lại chính tiêu đề của mục này “Đức tin trong Đặc sủng Dòng”, như vậy, đức tin không chỉ là một nhân đức nhưng còn là “ân sủng trao ban để cấu thành hiện hữu” Đặc sủng Dòng. Điều này thật quá rõ khi chính Đặc sủng minh định cách rõ ràng:

“Chúng ta được mời gọi sống đức tin là nhân đức đối thần cách đặc thù và sâu xa, đến mức hiến dâng mạng sống. Sứ mạngđức tin thành lập, phác hoạ và phân định đặc sủng và linh đạo Dòng chúng ta.”[25] Vì thế, Thừa sai Đức Tin là danh xưng diễn tả linh đạo và sứ mạng, lối sống và vai trò của Dòng trong Giáo hội.[26]

Với những định hướng trên trong Đặc sủng, chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu hai điều mang tính cốt yếu trong mục này. Thứ nhất, đức tin thành lập, phác hoạ và phân định đặc sủng Dòng, và kế đến, đức tin định hướng và diễn tả linh đạo Dòng.

Đức tin thành lập, phác hoạ và phân định đặc sủng Dòng: Như danh xưng khẳng định, những người Thừa sai Đức Tin chúng ta mong muốn hiến dâng cả đời mình cho sứ mạng, loan truyền và làm chứng đức tin ở mọi lãnh vực trên thế giới, nhân danh Đức Ki-tô và qua uỷ thác của Giáo hội.”[27]

Đức tin định hướng và diễn tả linh đạo Dòng: “Linh đạo Dòng chúng ta được diễn tả cách hoàn hảo trong khẩu hiệu “Gratia et Gaudium in Fide – Grace and Joy in Faith – Ân sủng và Niềm vui trong Đức tin.[28]

5. ĐỨC TIN VỚI NGƯỜI TU SĨ TSĐT TRONG BỐI CẢNH TỈNH DÒNG VIỆT NAM

Để đi vào tìm hiểu đức tin theo Đặc sủng Dòng, cách riêng trong bối cảnh Tỉnh Dòng Việt Nam, trước hết, cần sơ lược qua nhãn quan thần học khi suy tư về đức tin.

Trong thần học, đức tin được phân biệt thành hai khía cạnh: chủ thể (subjectiva) và khách thể (objective) như khẳng định sau: “Đức tin” vừa là một hành vi tin tưởng hay tín thác, fides qua, vừa là điều được tin hay được tuyên xưng, fides quae. Cả hai khía cạnh cùng liên kết với nhau cách bất khả chia tách, vì tin tưởng là hành vi gắn bó với một sứ điệp có nội dung khả tri, và việc tuyên xưng đức tin không chỉ là động tác của môi miệng, nhưng phải phát xuất từ cõi lòng. Đức tin là một thực tại thuộc về từng ngôi vị, đồng thời cũng mang tính cộng đoàn cách sâu xa. Khi tuyên xưng đức tin, các Ki-tô hữu nói “tôi tin” và cũng nói “chúng tôi tin”[29]. Tiêu chuẩn của thần học Công giáo là lấy đức tin của Giáo Hội làm nguồn mạch, bối cảnh và chuẩn mực của mình. Thần học nới kết fides quafides quae lại với nhau. Thần học trình bày cặn kẽ giáo huấn của các tông đồ, cũng như Tin Mừng về Đức Giê-su Ki-tô “đúng theo lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3.4), chính là quy luật và tác nhân thúc đẩy cho đức tin của Giao hội[30].

Xét về khía cạnh chủ thể (fides qua creditur, fides subjectiva), “lòng tin, đức tin” là thái độ tín thác vào Thiên Chúa, chấp nhận lời Chúa. Chúng ta chấp nhận điều Chúa dạy bởi vì Ngài là Chân Lý[31]. Do đó, Fides qua, tức đức tin xét như quyết định sống và suy tư sau biến cố mạc khải của Thiên Chúa. Đức tin là gì, nếu không phải là cái nhìn mới, cái nhìn của Thiên Chúa về thế giới và con người mà thần học tìm cách để hiểu tất cả những gì liên lụy đến cái nhìn đó.[32]

Đức tin là việc con người phó dâng bản thân cho Thiên Chúa (TIN VÀO), đáp lại việc Ngài đến gặp gỡ ta (Tin vào Thiên Chúa, tin vào những gì Thiên Chúa mạc khải, Thiên Chúa là đối tượng duy nhất của đức tin. Nhìn ở khía cạnh này, chúng ta nhận thấy: đức tin là nhân đức “hướng Chúa”).

Xét về khía cạnh khách thể (fides quae creditur, fides objectiva), đức tin được hiểu về những “điều phải tin” (những chân lý, đạo lý đức tin). Toàn thể những chân lý được mạc khải họp nên một tổng bộ, đối tượng cho các cuộc nghiên cứu thần học.[33] Như vậy, Fides quae nhắm đến nội dung đức tin. Thần học không có tham vọng nắm lấy Thiên Chúa, cho dù những khái niệm mà nó diễn đạt có tinh tế đến đâu.[34]

Đức Tin là việc con người chấp nhận các chân lý cứu độ mà Thiên Chúa tỏ lộ (TIN VỀ). Tin vào Thiên Chúa và những chân lý cứu độ, đòi hỏi nơi con người những nỗ lực sống để bày tỏ niềm tin của mình qua những hành động và chọn lựa liên quan đến cuộc sống của chính mình.

5.1. Đức tin nơi người tu sĩ TSĐT Việt Nam

Ở mục này, chúng ta tự chất vấn chính mình: chúng ta hiện tại hóa đức tin của mình thế nào trong ơn gọi với sứ mạng đặc thù, cách riêng là trong bối cảnh Việt Nam? Điều đó không thể không thôi thúc chúng ta nếu muốn sống đời tu sĩ trong ơn gọi đặc thù, cách riêng, trong kinh nguyện hằng ngày, chúng ta vẫn cầu xin cho chúng ta trở nên “tu sĩ TSĐT đích thực[35]. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi chúng ta ở giữa của thế giằng co: một bên thì phải trung thành với ân sủng đón nhận từ Thiên Chúa, bên kia thì phải sống đúng bản chất với ân sủng được nhận lãnh trong sứ mạng đặc thù qua những chỉ dẫn từ Hiến pháp Dòng[36]. Đó là nguyên tắc nền tảng chung, nhưng khi hiện tại hóa sứ mạng trong bối cảnh đặc thù, chúng ta phải chân nhận còn nhiều bất cập nếu không muốn nói là có đôi khi mất định hướng vì chưa diễn tả hết được sự chỉ dẫn từ những định hướng nền tảng của Dòng.

Trong tinh thần đồng trách nhiệm, bản thân người viết cũng không biết phải làm gì, nhiều khi chất vấn chính mình, bản thân cũng có câu trả lời theo kiểu sáo ngữ tầm thường rất con người “phó thác hoàn toàn cho Chúa” theo nghĩa là chấp nhận sự an nhàn bản thân, còn Chúa sẽ làm mọi sự trong khi chính mình thì cứ an nhàn.

Trong sự quan phòng, chính Thiên Chúa sẽ bù đắp cho những thiếu sót. Và rồi bản thân cũng nhận thấy rằng Giáo hội không bỏ rơi con cái mình. Chúng ta được sinh ra từ Giáo hội. Dòng chúng ta thuộc về Giáo hội, được dự phần vào đời sống của Giáo hội. Vì thế, chúng ta có được sự hướng dẫn từ phía Giáo hội, cụ thể là chính Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Những lời Đức Thánh Cha như sự định hướng cho chúng ta phải thực hiện cuộc “hoán cải mục vụ”[37], nghĩa là phải lật ngược lại định hướng mục vụ, nếu không chúng ta cũng đang chỉ “mục vụ bảo tồn” củng cố bề ngoài, chưa hoán cải thực sự:

Chúng ta hãy đi ra, đi ra để cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Giê-su Ki-tô [...] Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục.[38]

Ở đây, xin được nêu lên vài suy nghĩ mang tính lý thuyết chung theo như Đặc sủng Dòng đã định hướng và Giáo huấn của Giáo Hội trong thời gian gần đây:

Sống đức tin và nhờ đức tin để sống đúng căn tính[39]: điều này đòi hỏi chúng ta phải trở về với chính Đặc sủng để nâng tầm hiện hữu. Đời sống thánh hiến chưa phản ánh được vẻ đẹp của Đặc sủng để thu hút từ bên trong, nếu không, chúng ta cũng như một tổ chức bác ái từ thiện. Các cơ chế, đường hướng cần phải hướng về chính mục tiêu căn cốt đó. Từ kinh nghiệm thực tế, chúng ta cũng nhận ra điều này: nhu cầu mục vụ thì rất đa dạng nhưng nhu cầu cần và phù hợp với chính Đặc sủng thì cần phải canh tân. Chúng ta cảm thấy được mời gọi trở thành những chứng nhân về niềm tin cách can đảm và mạnh mẽ cho những người nam và nữ hôm nay để giúp họ tìm ra con đường trở về với Chúa Cha qua Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ, là sự sự sống sung mãn và là nguồn mạch của niềm vui.[40] Chúng ta là những con người của đức tin: chúng ta được sinh ra và sống trong đức tin, vì thế phải biết điềm tĩnh, cẩn mật, chuyên chăm trong cầu nguyện, thận trọng, khôn ngoan, đơn sơ, khiêm tốn, thánh thiện và uyên bác.[41]

Đào tạo Đức Tin trong Sự Quan Phòng Của Thiên Chúa[42]: Đức tin trong sự quan phòng của Thiên Chúa là đức tin kinh nghiệm và đây là đời sống của Dòng. Nhờ đức tin mà người Tu sĩ TSĐT can đảm phó thác để sống trong sự quan phòng: “Dòng TSĐT là một Dòng sống nhờ sự Quan Phòng của Chúa.”[43]

Biết khơi lên “hồn đức tin” của mọi hoạt động tông đồ hướng đến mọi thành thành phần dân Chúa để nuôi dưỡng tâm tình khao khát nên Thánh và hướng dẫn mọi người đến con đường nên Thánh bằng chính đức tin: “Dấu hiệu thứ nhất trong các dấu hiệu tuyệt vời này là bám vững vào Thiên Chúa, Đấng yêu thương và nâng đỡ chúng ta. Nguồn sức mạnh nội tâm này giúp chúng ta kiên trì giữa những thăng trầm của cuộc sống, nhưng cũng giúp chúng ta chịu đựng sự thù nghịch, phản bội và những khuyết điểm của người khác. “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (Rm 8,31): đây là nguồn bình an được thấy nơi các Thánh. Sức mạnh nội tâm này giúp chúng ta có thể làm chứng cho sự thánh thiện bằng lòng kiên nhẫn và kiên trì khi làm việc lành, trong cái thế giới vội vã, ồn ào và hung hăng của chúng ta hôm nay. Đó là dấu hiệu về lòng trung thành phát sinh từ tình yêu thương, vì những ai đặt niềm tin (pístis) của mình vào Thiên Chúa thì cũng có thể trung thành với những người khác (pistós). Họ không bỏ rơi người khác trong cơn khốn khó; họ đồng hành với người khác trong cơn lo âu và chán chường của những người này, mặc dù hành động này không mang lại sự thỏa mãn tức thì.”[44]

“Nội tâm hóa đức tin” = “Ở LẠI TRONG” để mang những giá trị biến đổi trong mọi thực tại dưới ánh sáng => khi ở lại trong, chúng ta sẽ có được những hiểu biết và kinh nghiệm đức tin.

6. TẠM KẾT

Trong truyền thống[45] của Dòng, “Đức Tin” mang lại đặc tính kép: vừa là tác nhân cấu thành hiện hữu (ân sủng), vừa là nội dung tuyên xưng – sống (niềm vui), để từ đó, để mang lại cảm nghiệm: “ân sủng – niềm vui trong Đức tin”.

Trong ơn gọi đặc thù của Dòng, “Đức Tin” chính là nguồn sự sống của mỗi thành viên. Đức tin đó được ghi lại trong Đặc sủng, cụ thể hóa trong Hiến pháp và hiện tại hóa trong chính đời sống, việc làm của mỗi thành viên. Đức tin đó được khơi dậy từ chính Chúa Thánh Thần, được gợi hứng qua chính Đấng sáng lập và được chuẩn nhận theo thẩm quyền của Giáo hội.

Trong cảm nghiệm đức tin cá nhân (đức tin như là một hành vi nhân linh [lý trí – ý chí – tự do nơi chủ thể tin = Tôi tin]) đời sống người tu sĩ TSĐT là đời sống phải phù hợp với Đức tin qua những chọn lựa hiện sinh. Cách cụ thể, chúng ta có thể đúc kết để viết lên “BÀI CA ĐỨC TIN” của người TSĐT dựa trên những gì mà Đặc sủng Dòng soi sáng trong ba khía cạnh: tâm tình – ý hướng – cách sống.

Người TSĐT THÀNH HÌNH CHÍNH MÌNH TRONG ÂN SỦNG ĐỨC TIN (cảm thức Căn Tính = gặp được chính mình trong đức tin).

Người TSĐT được mời gọi SỐNG ĐỨC TIN TRONG ÂN SỦNG VÀ NIỀM VUI (cảm thức Linh Đạo = gặp được ân sủng trong đức tin).

Người TSĐT được mời gọi hiến dâng để hiến thân đời mình làm CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN (cảm thức Sứ mạng = gặp được Thiên Chúa trong đức tin).

Người TSĐT luôn được mời gọi ĐÓN NHẬN TRONG ĐỨC TIN với mọi hoạt động, sứ vụ nhằm mưu ích cho mọi thành phần dân Chúa (cảm thức về hoạt động tông đồ = chúng ta được tham dự vào đời sống Giáo hội = gặp được tha nhân trong đức tin)

Người TSĐT luôn được mời gọi PHÓ THÁC TRONG ĐỨC TIN (cảm thức phong cách sống = gặp được niềm vui trong đức tin).

Tất cả những điều viết trên nhằm soi sáng cho bản thân người viết với những câu hỏi đặt ra cách nghiêm túc khi xét mình: Tại sao chọn ơn gọi Thừa sai đức tin? Sống bậc sống Thánh hiến trong ơn gọi Thừa sai Đức Tin, bản thân sẽ được gì với Chúa? Bản thân phải làm gì để sống ơn gọi Thừa sai Đức Tin cách sung mãn, có ý nghĩa? Dù còn nhiều hạn chế, nhưng những câu hỏi đặt ra đó được người viết cố gắng giải trình và diễn tả qua những ý tưởng trình bày trên.

Tóm lại, người TSĐT phải luôn luôn biết tái khám phá và làm sống động đức tin của mình thành một lời tuyên xưng đức tin: “nên đồng hình động dạng với Đức Ki-tô - mặc lấy Đức Ki-tô - mang lấy những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su - sống như Ngài đã sống”. Từ đó, mới “hy vọng dám” hiến thân trong đức tin để đón nhận ân sủng và niềm vui, hân hoan biến đời mình thành một hy tế dâng lên Thiên Chúa để phục vụ mọi thành phần dân Chúa./.

 Tu sĩ Giuse Vũ Duy An, MF

 

[1] Bài viết là một cố gắng suy tư về Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin. Vì thế, trong khuôn khổ bài viết, người viết chỉ nêu những nhận định chủ quan từ phía cá nhân trong một nỗ lực tìm hiểu.

[2] Trong mục này, chúng ta thử đặt ra những câu hỏi để trả lời dưới nền tảng những khái niệm siêu hình: Cái gì làm nên Dòng? Cái gì làm nên căn tính của Dòng, làm cho Dòng khác với các Hội Dòng khác? Ở đây, người viết chỉ mượn những khái niệm siêu hình để nhìn nhận (tiếp cận ở góc độ triết học về hữu thể). Thiết nghĩ, để có cái nhìn chính xác hơn ở nhãn quan Thần họckhía cạnh Luật của vấn đề đang bàn thảo, xem thêm: Giuse Phan Tấn Thành, O.P., Giải thích Giáo luật, tập III – Các Hội dòng tận hiến và Tu đoàn Tông đồ, (Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2017), tr.249-268. Liên quan đến nội dung đang đề cập, người viết chỉ nêu lên những gì thấy liên quan, cụ thể như sau:

  • Đặc sủng: trong thần học về đời tu, “đặc sủng” có thể xét ở ba khía cạnh khác nhau: (1) Đặc sủng của đời tu; (2) Đặc sủng của những vị sáng lập Dòng tu; (3) Đặc sủng của mỗi Dòng tu.
  • Đặc sủng Dòng TSĐT, số 20-46 bàn về: Bản chất, Mục đích và Sứ vụ của Dòng (số 20-22) và Linh đạo (23-46). Ở đây, xin trích dẫn cách hiểu về một số thuật ngữ liên quan:
  • Bản Chất (natura): nghĩa là hình thức cụ thể nào diễn tả nếp sống tận hiến, tựa như hình thức của một Dòng tu, một Tu hội đời, Tu đoàn tông đồ; một Hội dòng giáo sĩ hay giáo dân, với đời sống ẩn sĩ hay cộng đồng.
  • Mục Tiêu (finis): tức là mục đích, sứ mạng vị sáng lập nhằm tới. Ngoài mục tiêu chung của tất cả các Dòng tu (Vinh danh Thiên Chúa, thánh hóa bản thân, cứu rỗi các linh hồn), mỗi Dòng còn có thêm một mục tiêu riêng nữa. Nên lưu ý, mục tiêu này không hoàn toàn đồng nhất với một hình thức hoạt động tông đồ, bởi hoạt động ấy thường chỉ là một phương tiện, nhằm để đạt tới mục đích.
  • Tinh Thần. Tiếng Latinh là “spiritus”, một từ xem ra chính xác hơn là “spiritualitas” (quen dịch là: linh đạo). Tuy cả hai đều phát nguyên từ Thánh Thần (Spiritus), nhưng tiếng “spiritualitas” thường dùng theo nghĩa học thuyết về đường nên thánh (giả thiết một nền thần học hệ thống về một chân lý nào đó); vì vậy, khó có thể đảm bảo Dòng nào cũng chỉ có một linh đạo riêng (trên thực tế, không thiếu trường hợp nhiều Dòng khác nhau cùng theo đuổi một linh đạo như nhau: ta cứ nhìn hàng chục Dòng nữ cùng mang danh là Biển Đức, Carmêlô, Phanxicô, Đaminh thì biết). Còn tinh-thần của Dòng thì bao gồm không những con đường thánh hóa, mà còn cả những cách cai quản, hoạt động, xử thế,... (Thí dụ: ta có thể coi đường lối dân chủ như một nét của tinh thần Dòng Đaminh, chứ không xếp vào những yếu tố của linh đạo được). Ta có thể ví tinh thần như linh hồn quy tụ những yếu tố khác nhau của đời sống trong một Dòng.

[3] Ở đây, người viết chỉ bàn về hữu thể hữu chất, không liên hệ gì đến hữu thể vô chất (hữu thể thần thiêng). Vì các khái niệm trưng dẫn trong bài viết chỉ đúng khi bàn về hữu thể hữu chất mà thôi.

[4] Nhìn vấn đề ở góc độ này (góc độ siêu hình “yếu tính – hiện hữu”), chúng ta sẽ có những điểm sáng để lí giải cho những thắc mắc mang tính hiện sinh mà ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần chất vấn chính mình hay người khác. Cụ thể là:

  • Đối với các Hội dòng được thiết lập mà nay giải tán (tan rã), vậy Đặc sủng ban đầu của Thiên Chúa trao ban nơi Hội Dòng có còn hay mất?
  • Cách riêng, vì đây là bài viết mang tính suy tư về Đặc sủng Dòng TSĐT, là tu sĩ TSĐT, chúng ta có quyền tự hỏi về Đấng sáng lập của Dòng mình?

Chìa khóa giải đáp cho những câu hỏi trên có thể nói vắn tắt theo góc độ siêu hình như sau: ân sủng trao ban bị giới hạn bởi thụ tạo đón nhận, nhưng không vì thụ tạo, mà ân sủng không hiện hữu hay vô hiệu. Ân sủng vẫn luôn hiện diện, nhưng nơi thụ tạo, ân sủng được đón nhận tương hợp với bản tính, mà bản tính nơi hữu thể hữu chất thì giới hạn, nên bản tính không phản ánh hết được ân sủng. Chính vì thế, mà Đặc sủng Dòng mở rộng thêm chính chiều kích này: “Ta phải biết phân biệt giữa các vị sáng lập là những người đón nhận một Đặc sủngbản thân chính Đặc sủng, vốn được tặng ban cho Giáo hội. Đặc sủng là sự biểu thị thánh ân, là ân huệ được trao ban mà không tính toán đến công trạng hay sự trưởng thành của các vị sáng lập, được Thiên Chúa Ba Ngôi trao cho từng cá nhân riêng lẻ hay các cộng đoàn nhằm phục vụ Giáo hội.

[5] “[...] Sứ MạngĐức Tin thành lập, phác hoạ và phân định Đặc sủng và linh đạo dòng chúng ta.” (Lời mở đầu cho Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin).

[6] Dưới nhãn quan Thần học, điều này có thể nhìn nhận như là việc Thiên Chúa cho phép xảy ra cách gián tiếp và đồng thời, nhưng chỉ như là phương tiện để đạt được một cứu cánh (cấp độ hiện hữu) cao hơn xét trong trật tự tự nhiên để nhận ra trật tự siêu nhiên đến sau đó.

[7] Đọc lại lịch sử Dòng, chúng ta xác tín: Thiên Chúa Ở Cùng Dòng qua trung gian Giáo hội, cách cụ thể, truyền thống Dòng (từ khi thành lập đến nay) được ghi lại trong Đặc Sủng và được cụ thể hóa trong Hiến Pháp:

  • Sắc Lệnh Thành Lập Dòng” được Đức Hồng Y Joseph Siri, Tổng Giám mục Giáo phận Genoa kí ngày 25/12/1982.
  • Sắc Lệnh Phê Chuẩn 5 Năm Bản Hiến Pháp Mới” được Đức Hồng Y Agostino Vallini, Giám quản Rôma ban hành ngày 01/11/2014.
  • Sắc Lệnh Phê Chuẩn Dứt Khoát Bản Hiến Pháp” được Đức Hồng Y Angelo de Donatis, Giám quản Rôma ban hành ngày 23/05/2019.
  • Vì được sinh ra từ Giáo hội, được tham dự vào đời sống Giáo hội, do đó, hành vi đức tin của chúng ta (Fides quae [chấp nhận các chân lý cứu độ được mạc khải]Fides qua [phó dâng bản thân cho Thiên Chúa theo những gì được mạc khải]) cần được nuôi dưỡng từ chính những chỉ dẫn của Giáo hội (Huấn quyền).

[8] Định nghĩa Ân sủng theo sách GLHTCG, số 1996: “Ân sủng là một hồng ân, một sự trợ giúp nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta đáp lại lời kêu gọi của Ngài: trở thành con cái Thiên Chúa, làm nghĩa tử, tham dự vào bản tính Thiên Chúa, và vào sự sống muôn đời”.

Để đào sâu suy tư về Ân sủng trong nhãn quan Thần học hệ thống, xem thêm: Lm Phêrô Trần Ngọc Anh, Nhân học Ki-tô giáo, tập 2, Tội nguyên tổ và Ân sủng, (Sài gòn: Nxb Phương Đông, 2015), tr.315-381. Ở đây, xin chỉ trích dẫn những gì liên quan đến nội dung bài viết (tr.351-352).

  1. Ân sủng được trình bày gần như một thực tại hai mặt:

+ Về phía Thiên Chúa: ân sủng chẳng là gì khác ngoài chính Thiên Chúa tự thông ban chính mình cho con người để trở thành con của Người (chính Thiên Chúa là ân sủng, bởi vì bản chất của người là tình thương ban phát).

+ Về phía con người: ân sủng là hiệu quả của tác động vừa nói trên con người. Nói cách khác, về phía Thiên Chúa, ân sủng là chính Thiên Chúa đã thành của con người; về phía con người, ân sủng lại là chính con người đã trở nên đáng yêu, đã được “thần hóa” do sự hiện diện của Thiên Chúa trong họ.

Quả vậy, ân sủng cốt yếu là sự chiếu cố, là tình bạn hữu, là sự thông hiệp mà Chúa Cha dành cho con người. Ân sủng được hiện thân nơi Đức Giê-su Ki-tô và được thông ban, như ân huệ Thánh Thần, đến tận nơi sâu nhất của bản tính con người. Như thế, về phía con người, đón nhận ân sủng là tham dự vào sự sống và tình yêu của Chúa Ba Ngôi: họ được đón tiếp và nhìn nhận như những nhân vị đích thực.

  1. Ân sủng (được “ban không” cho con người) cốt ở việc họ được thông hiệp với Thiên Chúa và sống tình bằng hữu với Người. Đó là những điều tốt lành mà con người (với bản tính tự nhiên của loài thụ tạo) chẳng có quyền được hưởng. Chúng được thông ban qua việc tình yêu Thiên Chúa được đổ vào lòng họ và Thiên Chúa Ba Ngôi đến và ở lại nơi họ.
  2. Về phía Thiên Chúa, ân sủng chính là ý muốn tự thông ban chính hữu thể của Người cho con người, cách dứt khoát và vô điều kiện. Nó tất phải sinh hiệu quả trong đời sống của họ: sự cưu ngụ của Thiên Chúa Ba Ngôi nơi con người làm cho họ trở nên những thụ tạo mới (hữu thể của họ được biến đổi, được nâng cao, được thần hóa).

[9] Fr. Phaolô Cao Chu Vũ, O.P., biên soạn, Lịch sử và thần học Ân sủng, Trung tâm Học vấn Đaminh 2018, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.13.

[10] Các khái niệm và giải thích phần này lấy trong: Lm. Đaminh Nguyễn Hữu Cường, O.P., Giáo Trình Bí Tích Tổng Quát, Sài Gòn 2020, Tài liệu lưu hành nội bộ, Trung tâm Học vấn Đaminh, tr.41.

[11] Lm Phêrô Trần Ngọc Anh, Nhân học Ki-tô giáo, tập 2, Tội nguyên tổ và Ân sủng, (Sài gòn: Nxb Phương Đông, 2015), tr.173-174.

[12] Nói theo ngôn ngữ bình dân, ở đây, nhờ Ân Sủng mà chúng ta thấy thế nào “Đẳng Cấp Hiện Hữu” như đã nói ở phần dẫn nhập (chú thích của người viết).

[13] Trích tự do trong Fr. Phaolô Cao Chu Vũ, O.P., biên soạn, Lịch sử và thần học Ân sủng, Trung tâm Học vấn Đaminh 2018, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.16-18.

[14] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 18.

[15] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 19.

[16] Phần này tổng hợp từ bài viết với nhan đề “Thần học về niềm vui” của tác giả Giuse Phan Tấn Thành, O.P., đăng trên Website: http://daminhvn.net/suy-tu-nghien-cuu/than-hoc-niem-vui-niem-vui-theo-kinh-thanh-6976.html, truy cập ngày 02/06/2020.

[17] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 39.

[18] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 24.

[19] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 42.

[20] Trích tự do trong Fr. Phaolô Cao Chu Vũ, OP, biên soạn, Tin – Cậy – Mến, Đời sống thuộc về Chúa, Trung tâm Học vấn Đaminh 2018, tài liệu lưu hành nội bộ, tr.67-80.

[21]Tin” trong Kinh Thánh Cựu Ước còn có nghĩa là bám lấy Thiên Chúa, ở lại trong Thiên Chúa [động từ Híp-ri אמן = ´mn = (1) vững chắc, bền chặt; (2) tin] (chú thích của người viết).

[22] Định nghĩa về Nhân Đức:

  • Platon hiểu nhân đức như “sự kiểm soát của lý trí con người trên những đam mê”. Ông là người đầu tiên đưa ra danh sách gồm bốn nhân đức: tiết độ, can đảm, khôn ngoan và công bình. (trích dẫn trong Ban Từ vựng Công Giáo - Ủy ban Giáo lý Đức Tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Từ điển Công Giáo, (Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2016), tr.639.
  • Triết gia Aristotle định nghĩa: nhân đức là “cái làm cho người sở hữu nó được tốt, và làm cho công việc của họ được tốt [Vitur est quae bonum facit habentem, et opus eius bonum reddit]” (trích dẫn ở ST I-II, q.55, a.3, sed contra).
  • Thánh Augustine định nghĩa: nhân đức là “đức tính của tâm hồn, nhờ đó chúng ta sống ngay chính, và không ai sử dụng sai quấy, mà Thiên Chúa đã đặt chúng tác động trong chúng ta mà không cần chúng ta [Virtus est bona qualitas mentis, qua recte vivitur, qua nullus male utitur, quam Deus in nobis sine nobis operatur]” (trích dẫn ở ST I-II, q.55, a.4, sed contra).
  • Sách GLHTCG, số 1803: “Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện. Nó khiến nhân vị không những thực hiện những hành vi tốt, mà còn cống hiến những điều tốt nhất của bản thân mình. Người nhân đức hướng về điều thiện với tất cả sức mạnh giác quan và tinh thần của mình; họ theo đuổi và chọn lựa điều thiện bằng những hành động cụ thể của mình.

[23] Liên quan đến nội dung bài viết, chúng ta cùng tìm hiểu một số ý nghĩa và cách diễn tả theo nghĩa tầm nguyên liên quan đến từ “Tin”. [cước chú này lấy lại trong bài viết: “Đức tin trong Thần học” in trong tạp chí Thời sự Thần học, số 58 (tháng 11/2012), của tác giả Giuse Phan Tấn Thành, O.P., tr.13.].

  • Trong tiếng La-tinh, ngoài danh từ fides (và những từ cùng gốc fidelis, fidelitas) còn có động từ credere (và những từ cùng gốc: credibilis, credibilitas).
  • Một cách tương tự, tiếng Pháp có danh từ foi và động từ croire (từ đó: croyance), thêm vào những từ gốc La-tinh: crédibilité, fidèle, fidélité.
  • Trong tiếng Anh, danh từ faith (với các từ ngữ liên hệ: faithful, faithfulness), còn hành vi được gọi là to believe (từ đó có: belief, biliever); ngoài ra còn có những từ gốc La-tinh: credit, credentials, fidelity.
  • Trong tiếng Việt, “tin” hoặc “tín” cũng được ghép với nhiều từ khác: tin tưởng, ti cậy, tín ngưỡng, tín thác, trung tín, tín nhiệm,v.v..

[24] Phan Tấn Thành, O.P., Đời sống Tâm linh XI – Thần học Đức Tin, Học viện Đaminh 2013, tr.17-18.

[25] Lời mở đầu cho Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin.

[26] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 12.

[27] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 01.

[28] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 16.

[29] Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Thần học ngày nay – viễn cảnh nguyên lý và tiêu chuẩn, Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam 2012, số 13.

[30] Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Sđd, số 15.

[31] Giuse Phan Tấn Thành, O.P., Nhập Môn Thần Học, Học viện Đaminh 2010, tr. 42 – 43.

[32] Marcel Neusch, Dấu Vết Thiên Chúa – Những Yếu Tố Của Thần Học Căn Bản, Minh Thanh Thủy và Lm. Trần Ngọc Anh chuyển ngữ, (Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2017), tr. 39.

[33] Giuse Phan Tấn Thành, O.P., Nhập Môn Thần Học, Học viện Đaminh 2010, tr. 42 – 43.

[34] Marcel Neusch, Dấu Vết Thiên Chúa – Những Yếu Tố Của Thần Học Căn Bản, Minh Thanh Thủy và Lm. Trần Ngọc Anh chuyển ngữ, (Hà nội: Nxb Tôn Giáo, 2017), tr. 38.

[35] Kinh cầu cho các “ân nhân trong gia đình Thừa sai Đức Tin”.

[36] Hiến pháp Dòng là chỉ dẫn nền tảng để giúp chúng ta biết sống và biết làm những gì, làm như thế nào để thể hiện đúng căn tính là tu sĩ Thừa sai Đức Tin. Chính vì thế, việc phê chuẩn chính thức và dứt khoát bản Hiến pháp Dòng do Đức Hồng Y Angelo de Donatis, Giám quản Rôma ban hành ngày 23/05/2019 là một biến cố vĩ đại, dấu ấn bậc nhất trong lịch sử phát triển Dòng. Vì nếu không có Hiến pháp, chúng ta chẳng là gì, không có cơ sở nào để dựa vào mà tồn tại hay vận hành, hoạt động.

[37] Ở đây, xuất phát từ chính bối cảnh hiện tại, bản thân người viết chỉ đề cập đến việc “hoán cải mục vụ” theo như chiều kích hoạt động trong Linh đạo Dòng.

[38] x. Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 49.

[39] Điều này đòi hỏi chúng ta phải sống và cụ thể hóa Đặc sủng thành những hoạt động cụ thể theo hướng dẫn của Hiến pháp Dòng đã được Giáo hội chuẩn nhận. Nếu không, Đặc sủng và Hiến pháp chỉ là những bản văn chết, không mang lại lợi ích gì cho đời sống của chúng ta.

[40] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 01.

[41] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 33.

[42] Xem thêm Quy chế Tổng quát về đào tạo của Dòng Thừa sai Đức Tin (Bản văn được thông qua bởi Tổng Tu Nghị VII, ngày 26 tháng 9 năm 2017), số 243-251.

[43] Đặc sủng Dòng Thừa sai Đức Tin, số 45.

[44] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Gaudete et Exsultate – hãy vui mừng hân hoan về ơn gọi nên thánh trong thế giới hôm nay, Bản dịch tiếng Việt của Lm Đaminh Ngô Quang Tuyên, số 112.

[45] Ở đây, từ Truyền thống có thể hiểu theo nghĩa là Gia sản của Dòng xét vì: “chủ tâm và ý định của các vị sáng lập, đã được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội châu phê, về bản chất, mục đích, tinh thần và đặc tính của mỗi dòng” và “những truyền thống lành mạnh”. (x. Giáo luật điều 578, §l).