Hoa Trái Của Phục Vụ Là Bình An

“Có công việc nào đó có thể khiến con người cảm thấy sợ hãi. Thế nhưng giữa những xáo trộn đầy hoang mang vẫn có những con người vượt qua được nỗi sợ hãi và trung thành với sứ vụ yêu thương của mình.”

Tôi vẫn còn nhớ dịp Giáng Sinh 2011, đó là lần đầu tiên tôi bước chân tới một vùng đất cần lắm tình người. Vùng đất ấy là trọng điểm Mai Linh (Bệnh Viện Nhân Ái), nơi dành riêng chăm sóc các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Trọng điểm tọa lạc trên một mảnh đất hẻo lánh thuộc xã Phú Văn, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước.

Cảm nhận cái se lạnh của gió đông năm ấy, tôi đã có chút suy nghĩ về “cái lạnh” tình người của cộng đồng đối các bệnh nhân HIV/ AIDS. Trong bối cảnh xã hội của mọi thời đại, tình người liệu có đang bị đóng băng đối các bệnh nhân hay không? Vị trí của các bệnh nhân HIV/AIDS đang ở đâu trong trái tim mọi người? Họ có được gia đình và cộng đồng đón nhận hay không? Cuộc sống nơi đây có làm cho họ cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo nơi cõi lòng hay không? Điểm tựa niềm tin của họ là ai? Và biết bao suy nghĩ về tình người đối với những thân phận ấy cứ hiện lên trong đầu tôi. Chính vì thế, tôi vẫn mong một ngày trở lại nơi đây để thăm các bệnh nhân, những con người đang cần sự quan tâm của mọi người.

Rồi tôi lại có dịp ghé thăm các bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện Nhân Ái lần thứ hai. Ấn tượng đối với tôi trong hai lần viếng thăm nơi đây đó là sự hy sinh phục vụ của những người nữ tu. Họ đã vượt qua những chướng ngại vật, nỗi sợ hãi, để đến thực thi công việc của Đức Giê-su, người thầy Chí Thánh của mình đã mời gọi. Theo lý tưởng của Giê-su, họ hy sinh cuộc đời mình để đến chữa lành cho những mảnh đời bất hạnh, những con người cô thế cô thân vì phải mang trên mình căn bệnh thế kỷ. Trên đường đến nơi đây, tôi luôn tự hỏi động lực nào thúc đẩy những nữ tu này sẵn sàng lên đường để đến một nơi hẻo lánh phục vụ? Phải chăng họ cũng đã lĩnh hội và cảm nghiệm được “Hoa trái của phục vụ là bình an” như mẹ Teresa Calcutta, một mẫu gương về lòng Bác Ái và Phục Vụ.

Khi nhắc đến các bệnh nhân HIV/AIDS thì chắc hẳn có nhiều người cảm thấy sợ hãi. Nỗi sợ hãi xuất phát từ việc căn bệnh quái ác ấy có thể lây nhiễm. Thực chẳng có gì đáng trách người ta vì nỗi sợ ấy. Thế nhưng, điều đó không đồng nghĩa với việc ủng hộ con người cô lập những bệnh nhân này. Nghe các nữ tu chia sẻ, tôi không khỏi chảnh lòng khi vẫn còn đó những trường hợp bị gia đình, họ hàng, làng xóm bỏ rơi khi phát hiện ra người thân của mình mang bệnh căn bệnh HIV/AIDS. Họ lên án, chỉ trích những lầm lỗi của người khác thay vì đặt vào trái tim mình ngọn lửa yêu thương.

Giữa những xáo trộn của kiếp người, các sơ đã đến để nâng đỡ những bệnh nhân ấy. Dù đến từ những Hội Dòng khác nhau, nhưng họ đến đây cùng một mục đích đó là phục vụ các bệnh nhân HIV/ AIDS. Nơi sứ mạng phục vụ ấy, họ chọn đời mình làm lễ dâng cho Thiên Chúa. Vì đối với họ, dâng hiến đời mình bằng việc phục vụ cách chân tình mới là món quà đích thực dành cho Thiên Chúa. Họ muốn đáp trả Tình Yêu của Thiên Chúa qua việc phục vụ những người HIV/AIDS. Sự thương yêu của họ không chỉ đơn thuần thể hiện bằng lời nói, nhưng hơn hết nó được toát lên bằng hành động. Những con người nhỏ bé ấy thực hiện những nghĩa cử bác ái với một tình yêu bao la. Khác với ý niệm đi tu là né tránh trách nhiệm xã hội, việc làm của họ giúp khẳng định vai trò và sự hỗ trợ đắc lực của người tu sĩ trong công tác xã hội giữa thời đại hôm nay. Đối với những người nữ tu này, “Họ tận hiến đời mình cho Chúa Giê-su Kitô, phục vụ cho anh chị em mình” (ĐGH Phanxico, Yêu Là Cho Đi Tất Cả). Họ là những tấm gương vĩ đại giữa đời thường.

Tôi hỏi thăm một số bệnh nhân về cảm nhận của họ khi đến sống nơi đây, có người chia sẻ: “Tôi sống ở đây được 5 năm rồi. Mặc dù tôi nhớ nhà lắm, nhưng nhờ cầu nguyện tôi thấy cuộc sống bình an hơn. Tôi được gặp Chúa qua sự chăm sóc và hướng dẫn của các sơ. Họ là những người mẹ của chúng tôi.”

Tôi muốn nhắc lại một lần nữa câu nói của mẹ Teresa Calcutta: “Hoa trái của phục vụ ấy là bình an”. Nhờ phục vụ, những người nữ tu này đã mang bình an của Chúa đến cho các bệnh nhân. Còn gì cao cả hơn những nghĩa cử cao đẹp ấy! Những công việc đơn sơ của các sơ thể hiện sức mạnh của lòng bác ái. Họ là điểm tựa tinh thần và đời sống thiêng liêng của các bệnh nhân. Họ sưởi ấm những trái tim đang bị giá lạnh vì sợ cô độc. Có lẽ, họ đang khẳng định lời của Đức Thánh Cha Phanxico chia sẻ: “Ở đâu có những người thánh hiến ở đó luôn có niềm vui!”. Tôi cũng cảm nhận được niềm vui mà các sơ mang đến cho các bệnh nhân. Niềm vui ấy được thể hiện nơi ánh mắt yêu mến mà các bệnh nhân dành cho những người mẹ tinh thần của mình. Tất cả niềm vui đều nhờ lòng cảm thấy bình an. Các nữ tu chia sẻ: “Khi bước chân đến đây, các bệnh nhân đều cảm thấy tuyệt vọng. Sự hối hận muộn màng của họ ít được cộng đồng chấp nhận. Họ biết mình không sống được bao lâu nữa. Nhưng sau khi được các sơ an ủi, họ nhận ra điều quan trọng đối với họ bây giờ là sống vui giây phút hiện tại. Dù có lúc, vì bệnh tật đọa đày, các bệnh nhân chửi bới, la hét, nhưng các sơ vẫn không nản chí. Mục đích của các sơ là giúp họ sống vui mỗi ngày, để họ nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Chính vì thế, có nhiều người đã xin được chịu phép rửa để trở nên thành viên chính thức trong gia đình Giáo Hội.”

Khi nói về tình người, đọc bài thơ Thượng Đế Sinh Ra Mặt Trời của nữ nhà thơ Đức Christa Reinig (1926), tôi cảm thấy nó như một dư chấn lớn đối với bản thân. Nhà thơ diễn tả rằng gió, mặt trời và các vì sao “luôn ở bên con người”, nhưng giữa con người với nhau thì chỉ còn đó sự im lặng. Tôi không biết tại sao.

“Tôi hỏi con người

Con người với em thế nào?

– Con người im lặng không ai trả lời tôi.”

“Con người sống với nhau thể nào?” có lẽ đang vang vọng đâu đó nơi cuộc đời này. Có bao người vẫn đang đi tìm lời đáp trả cho câu hỏi ấy. Và khi nhìn hình ảnh các nữ tu nơi đây, tôi nhận thấy các sơ đã giải được câu hỏi của nhà thơ Christa Reining năm xưa qua hành động của mình. Những gì tôi cảm nhận về sự yêu thương mà các sơ dành cho bệnh nhân sẽ còn mãi trong tôi.

Đó là bài học thực tế về sứ mạng dấn thân phục vụ. Học nơi các sơ, tôi hy vọng bản thân mình có thể góp phần gì đó cho đời. Nếu không được là ánh trăng, tôi xin được làm vì sao sáng tỏ. Tôi mong trái tim mình không bị đóng băng trước những mảnh đời bất hạnh. Nhờ đó tôi mới có thể mang bình an của Chúa đến cho họ.

Phạm Phạm