Khám Phá Những Khát Vọng Tự Nhiên Trong Triết Học Plotin Giúp Augustine Tìm Đến Thiên Chúa

Augustine sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại thành phố Tagát, Bắc Phi, mất ngày 28 tháng 8 năm 430. Xuất thân trong gia đình Kytô hữu, nhưng bản thân ông lúc đầu theo dị giáo, từ phái Mani (Manicheism) đến chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa khắc kỷ, chủ nghĩa Platon mới. Sau một thời gian dài tinh thần bị lạc lối trong đêm tối vô tri lầm lẫn và phải tự lần mò tìm ra lối thoát tiến về ánh sáng chân lý, vào năm 386 triết và thần học gia Augustine mới trở lại Kitô giáo.

Trải qua hành trình dài tìm kiếm chân lý, vấn nạn chính yếu của Augustine là làm thế nào để trí khôn con người vươn tới Thiên Chúa? Để trả lời cho vấn nạn này, Augustine đã gạn đục trong những tư tưởng của các triết gia thời trước ngài như Plato, Aristotle, Plotin. Nhưng phải nói rằng, chính tác phẩm “Enneads” của Plotin đã gây ấn tượng mạnh đối với Augustine; nó và đã cung cấp cho ông những điều ông tìm kiếm. Đó là những khát vọng rất tự nhiên của Plotin.

Con đường của Plotin là con đường “lưu xuất” theo nguyên tắc nên tảng: tất cả mọi hữu thể trọn hảo đều là nguyên nhân hữu hiệu và trọn hảo; nghĩa là tuân trào sự trọn hảo của mình một cách tất yếu, làm phát sinh ra hữu thể khác theo hình ảnh của mình. Quá trình lưu xuất đó đi từ trên xuống dưới: Đơn nhất (Thượng đế) --> Tinh thần --> Linh hồn --> Thể xác/vật chất. Ông quan niệm: các sự vật phát tỏa tức là chúng chảy ra từ Đơn Nhất, giống như ánh sáng phát ra mặt trời, nước chảy ra từ một dòng suối mà chính dòng suối đó là nguồn, ngoài nó ra không còn nguồn nào khác. Tương tự, Đơn Nhất là nguồn mạch của mọi sự và mọi sự biểu lộ từ Đơn Nhất; nhưng không sự vật nào bằng Đơn Nhất. Đây là quan điểm của ông về tự nhiên; theo phương pháp đi từ trên xuống.

Tiếp đến, Plotin lại đi từ dưới lên để cảm nhận về một Thực tại tối cao. Đó là một quá trình đi lên của linh hồn con người, theo đó, từ những thực tại cảm giác, nhờ phương tiện chiêm ngưỡng, linh hồn con người cũng dẫn mình vào một hành trình trở về, một hành trình quy hồi đưa linh hồn con người tới sự chiêm ngưỡng của tinh thần; rồi từ tình thần, linh hồn vươn tới Đơn Nhất. Đó chính là khát vọng muốn vươn lên tới Đấng Siêu Việt và hiệp nhất với Đấng ấy để có được niềm hạnh phúc tràn đây của Plotin.

Khi tiếp cận với con đường này, Augustine nhận định:

Bằng giác quan, chúng ta có thể nhận biết được sự vật nhờ ánh sáng (mặt trời) thể lý. Augustine phân tích rằng hành vi cảm giác của con người bao gồm bốn yếu tố: đối tượng cảm giác, cơ quan thể xác, hoạt động của trí khôn, đối tượng phi vật chất. Điều rút ra từ sự phân tích này là có hai loại đối tượng khác nhau mà con người gặp, đó là các đối tượng của giác quan và các đối tượng của trí khôn.

Đối tượng của giác quan đó là những vật chất hiện hữu. Giác quan tạo ra những tri thức, nhưng ở bậc thấp nhất của nhận thức, vì chúng ít chắc chắn do chủ yếu hai nguyên nhân sau: các đối tượng giác quan hay thay đổi và các giác quan của chúng ta hay thay đổi. Vì hai lý do này, cảm giác thay đổi từ lúc này sang lúc khác, từ người này sang người khác.

Đối tượng trí khôn là những đối tượng phi vật chất tạo ra những nhận thức chắc chắn khi trí khôn chiêm ngưỡng những chân lý vĩnh cửu, không lệ thuộc các giác quan, đó chính là chân lý phổ quát, chân lý vĩnh cửu. Theo Augustine cấp độ tri thức cao nhất là nhận thức về Thiên Chúa. Như vậy, con đường đi đến nhận thức về Thiên Chúa, chân lý vĩnh cửu có hai bước là từ bên ngoài bước vào trong và từ dưới thấp hướng lên trên cao.

Chính điều này Augustine khao khát một con đường trở về. Từ những vướng mắc của thú vui thể xác cho ông chứng cớ mạnh mẽ rằng: linh hồn không thể tìm được sự bình an trong thú vui thể xác hay cảm giác. Ông khám phá ra rằng thế giới vật chất này đầy thay đổi và vô thường. Ông cũng nhận ra rằng trí khôn của ông không hoàn hảo vì có khả năng sai lầm. Ông tin rằng chân lý bất di bất dịch phải bắt nguồn từ Thiên Chúa. Bằng cách nào đó, ông đi từ các mức độ khác nhau của kinh nghiệm cá nhân và từ cuộc tìm kiếm tinh thần để đạt tới cái gọi là một “chứng minh” về sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Đặc biệt, quan điểm nhận thức “hướng nội” là tiền đề của học thuyết thần khải – một trong những đặc trưng của tư tưởng Augustine. Đó là sự kết hợp trường phái Platon, chủ nghĩa Platon mới với thế giới quan Kytô giáo, khoa học với thần học. Tự trong sâu thẳm linh hồn con người cảm nhận ánh sáng chân lý không chịu sự quy định của tương quan không – thời gian. Augustine gọi Chúa là “cha của ánh sáng trí tuệ” và “cha của sự soi sáng chúng ta”. Ông xem linh hồn như nguồn sống điều khiển cơ thể trong mọi hoạt động, xem tự nhận thức như khởi điểm của quá trình vươn tới chân lý tối cao.

Theo Plotin nghĩ, thế giới vật chất với vô vàn sự đa dạng, không thể là thực tại đích thực, vì nó luôn luôn thay đổi. Chỉ cái gì không thay đổi mới có thể thực sự “tồn tại”, và vì vậy thực tại không thay đổi này phải là cái gì khác với thế giới vật chất. Thực tại đích thực là Thượng Đế, mà người ta không thể mô tả điều gì rõ ràng về Ngài, ngoại trừ nói Ngài tuyệt đối siêu nghiệm; tức là vượt lên trên mọi sự trong thế giới.

Vì lý do này, Thượng Đế không phải là vật chất, không hữu hạn, không thể phân chia, không có hình thức đặc thù nào cho dù như là vật chất, linh hồn hay trí khôn; vì mỗi thứ đều thay đổi, không thể giới hạn vào một hay những ý niệm nào của trí khôn, và vì thế không thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, và không một giác quan nào đạt tới được, mà chỉ có thể đạt tới nhờ một sự xuất thần huyền nhiệm không lệ thuộc vào một kinh nghiệm nào của lý trí hay cảm giác.

Do đó, Plotin nói đến Thượng Đế như là cái Đơn Nhất, nghĩa là nơi Thượng Đế không có sự phức tạp, Thượng Đế là sự thống nhất tuyệt đối. Ngoài ra, cái Đơn Nhất nghĩa là Thượng Đế không thay đổi, không thể phân chia, không đa dạng, không được tạo thành, và hoàn toàn không bị biến đổi.

Hơn nữa, Plotin còn khẳng định rằng: Cái Đơn Nhất không thể là một sự vật tồn tại nào, mà có trước sự vật tồn tại. Không có thuộc tính tích cực nào có thể gán cho cái Đơn Nhất, vì mọi ý niệm của chúng ta về các thuộc tính đều lấy từ các sự vật vật lý hữu hạn. Vì vậy không thể nói Thượng Đế là cái này chứ không phải cái kia, vì nói như thế nghĩa là chúng ta đang gán cho Thượng đế những giới hạn. Vậy nói Thượng Đế là cái Đơn Nhất tức là khẳng định Thượng Đế là “tồn tại”, Thượng Đế siêu việt thế giới, Thượng Đế là đơn nhất, không có tính nhi nguyên, không có tiềm tính hay giới hạn vật chất, và người siêu nghiệm vượt ra ngoài mọi sự phân biệt.

Tiếp nhận những tư tưởng của Plotin ở trên để nói về Thiên Chúa, Augustine nhìn nhận như sau: Thiên Chúa là Đấng vượt quá giới hạn của lý trí cũng như khả năng nhận biết của con người; ta có thể gán cho Người một số tên gọi, chẳng hạn: Thiên Chúa là hữu thể và là yếu tính, là hữu thể tối cao và bất biến, là chân lý tự tại, là hiện hữu tự tại cao nhất; Người là nguồn căn nguyên của vũ trụ.

Đối với Augustine, Thiên Chúa một đàng như tiềm ẩn, xa xôi, vượt trên hết mọi dữ kiện tiên quyết của kinh nghiệm; đàng khác Thiên Chúa lại hiện diện cách cụ thể, hữu hình trong Đức Giêsu Kitô, vị Thiên Chúa làm người. Vì thế, Thiên Chúa là Đấng siêu việt đồng thời cũng là Thiên Chúa can dự vào lịch sử nhân loại. Thiên Chúa như cái hiện hữu thuần túy hay cao nhất, nghĩa là nơi Thiên Chúa không có sự thay đổi dù từ không hiện hữu sang hiện hữu.

Điều quan trọng đối với ông là Thiên Chúa và thế giới tương quan mật thiết với nhau, và thế giới phản ánh tư tưởng vĩnh cửu của Thiên Chúa dù rằng Thiên Chúa không đồng nhất với thế giới nhưng siêu việt. Đây là lý do khiến ông rất xác tín rằng người nào cành hiểu biết nhiều về Thiên Chúa thì càng hiểu biết sâu xa về bản chất của thế giới và đặc biệt về bản chất đích thật của con người.

Có thể nói, Thượng Đế của Plotin là một Đấng Đơn Nhất và ông cho rằng: niềm khao khát của con người là được hợp nhất và hưởng niềm hạnh phúc trong tình yêu của Thượng đế. Plotin mô tả con đường linh hồn vươn tới sự hiệp nhất với Thượng Đế là một nhiệm vụ đầy cam go và đau khổ. Để vươn tới sự hợp nhất và hưởng niềm hạnh phúc trong tình yêu của Thượng Đế, người ta phải phát triển lần lượt các đức hạnh tri thức và đạo đức. Chính điều này đã ảnh hưởng đến Augustine.

Mọi khái niệm triết học của Augustine cách này hay cách khác đều quy về vấn đề thân phận đạo đức của con người. Vì vậy, theo ông, lý thuyết đạo đức không phải là một đề tài đặc biệt hay độc lập. Tất cả mọi sự đều dẫn đến đạo đức, cho con người thấy rõ con đường chắc chắn nhất dẫn tới hạnh phúc nơi Thiên Chúa, là mục tiêu của con người. Thân phận con người làm cho họ luôn tìm kiếm hạnh phúc. Các triết gia Hy Lạp cổ đại đã từng coi hạnh phúc như là tột đỉnh của đời sống tốt lành, lý thuyết của Augustine cho chúng ta một sự đáng giá mới mẻ về cái tạo nên hạnh phúc và làm cách nào để đạt được hạnh phúc. Ví du, trong khi Aristotle nói rằng người ta đạt được hạnh phúc khi họ hoàn thành những chức năng tự nhiên của họ bằng một đời sống quân bình; thì Augustine lại cho rằng hạnh phúc đòi người ta vượt lên khỏi tự nhiên để đạt tới siêu nhiên. Augustine diễn tả quan điểm này cả bằng ngôn ngữ tôn giáo lẫn triết học. Trong cuốn “Lời Tuyên Xưng”. Ông viết: “Lay Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, vì thế tâm hồn chúng con sẽ được nghỉ ngơi nơi Ngài” . Một các triết học hơn, ông diễn tả cùng ý niệm này bằng cách nói rằng cấu tạo của bản tính con người “là nó không thể tự mình là cái tốt mà nhờ đó nó được hạnh phúc” . Augustine một lần nữa khẳng định không phải thiên nhiên mà là Thiên Chúa đã tạo ra con người. Do đó con người luôn mang dấu vết của tạo hóa nơi mình; nghĩa là, có những tương quan thường xuyên, hiện thực và tiềm thể; giữa loài người và Thiên Chúa. Không phải tình cờ mà con người tìm kiếm hạnh phúc. Sở dĩ họ tìm kiếm hạnh phúc là vì họ có sự khiếm khuyết, hữu hạn; cũng không phải tình cờ mà họ chỉ có thể tìm kiếm hạnh phúc nơi Thiên Chúa, vì họ được Thiên Chúa tạo dựng để chỉ tìm thấy hạnh phúc nơi Thiên Chúa. Chính khát vọng được hợp nhất và tìm được hạnh phúc nơi Đấng Đơn Nhất của Plotin đã ảnh hượng đến Augustine.

Tóm lại, Augustine tiếp nhận triết học của Plotin để tạo thành một hệ thống triết học Plato-Kitô. Ông biến những kinh nghiệm của bản thân cùng với những hệ thống triết học Plotin, để tìm con đường đi đến Thiên Chúa, nguồn chân lý vĩnh cửu. Augustine đã nhấn mạnh rắng Thiên Chúa tồn tại tuyệt đối, không pha tạp. Thiên Chúa Tồn tại bao gồm các đặc tính và các cấp độ cơ bản: 1) tính vĩnh cửu, bất biến, không chịu sự chi phối của thời gian, không bị hủy diệt; 2) tính đơn giản, không phân chia; 3) mô thức thuần túy. Thiên Chúa là tồn tại hoàn hảo nhất – tồn tại tối cao, thực thể tối cao, mô thức tối cao, điều lợi tối cao. Tồn tại của Thiên Chúa là tồn tại siêu nhiên, siêu thời gian, siêu không gian, phi vật chất, vĩnh cửu. Và chính sự tồn tại này mà Thiên Chúa đã trở thành niềm khát khao của con người để được sự hợp nhất và niềm hạnh phúc nơi Thiên Chúa. Một khát vọng rất tự nhiên.

 

Giuse Phạm Minh Thành, MF