Khoa Học, Thiên Chúa Và Nền Văn Hóa Thánh

Kristen Daley Mosier

(Người dịch sang Việt ngữ chỉ trình bày sự kiện, không nhất thiết đồng quan điểm thần học và đạo đức với tác giả K. D. Mosier)

Trong suốt mùa hè, vợ chồng tôi bắt đầu xem chương trình (phim) truyền hình Orphan Black (tại Việt Nam, được biết đến là loạt 10 tập (10 seasons), thời lượng 45 phút/ 01 tập với tên  "Hoán Vị" do Canada sản xuất từ năm 2013, kể về cô gái tên Sarah, là nhân chứng của một vụ tự tử. Sau khi chứng kiến vụ tử tự của một phụ nữ giống hệt cô như bản sao và Sarah cảm thấy cơ hội trước mắt khi nạn nhân có nhiều thứ mà mình mơ ước sẽ giúp cô thoát khỏi khó khăn hiện tại, cô đã quyết định hoán vị thay cho trở thành nạn nhân của vụ tự tử - ND). Tôi đã đọc thấy tính mới mẽ trong chuyển đổi khuôn thức giới tính phủ lên tâm thức các nhân vật thế nào và tính độc đáo xuất phát từ tư tưởng nữ quyền khi xây dựng nên các nhân vật nữ cá tính mạnh mẽ. Tuy nhiên, điều thu hút sự chú ý của tôi là sự khắc họa (liên) nhân vị trong sinh học nhân bản di truyền. Ở một mức độ nào đó, diễn thuật của chương trình truyền hình này hoạt động như thể một hệ thống từ ngữ, ngữ pháp phê phán ngành công nghiệp truyền hình vì đã kìm hãm vai trò của phụ nữ một cách kịch tính, phẳng lặng điển hình và vô cùng nhàm chán. Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên, khi phần lớn những lời phê bình khen ngợi đều tập trung ở cấp độ này. (Chú ý Cảnh báo: những bàn luận sau đây chứa đựng mấy luận điểm về diễn biến cốt truyện, sẽ điểm qua những điểm nhấn cốt truyện qua vài mùa đầu tiên.)

Ở mức độ diễn truyện, Orphan Black - Hoán Vị đương đầu với các luận đề cấp cao về biến đổi di truyền, cơ thể phụ nữ và tác nhân, với các đặc tính (phụ nữ) mạnh mẽ sâu sắc. Về góc độ thần học, các mối quan hệ phát triển giữa các "chị em" được nhân bản đưa ra hình ảnh thế tục, rất con người để khắc họa tính hiệp nhất/ độc đáo của Ba Ngôi. Sau đó để phức hợp (và bổ sung) mọi thứ, vào mùa thứ ba, các chị em của dự án Leda gặp phải "anh em" của dự án Castor vì thế hợp thể thành một dải hội tụ giới tính và căn tính về giới. Tất cả đều diễn ra ở mức nhân chủng học thế tục, tuy nhiên các mối quan hệ phản ánh mạnh mẽ các mẫu thức về Ba Ngôi.

Thần học Ba Ngôi đã gợi hứng nên một kiểu thức phục hưng trong những thập kỷ gần đây, phần lớn liên quan đến quan điểm nhìn nhận ba ngôi vị trong mối liên hệ năng động với nhau trong một nguồn mạch quy chiếu cho tính hiệp kết giữa các loài thụ tạo và nhân loại. Trước đây, ngôn ngữ về Ba Ngôi có xu hướng hướng tới một nhận thức tách biệt - ví dụ như Chúa Cha là Đấng Sáng Tạo, Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc, và Chúa Thánh Thần là Đấng Củng Cố - các nhà thần học đương đại đang thúc đẩy đến những nhận thức thấm nhuần hơn. Như vậy, chúng ta thấy Thánh Linh trong Sáng Thế Ký như là hơi thở thần khí (ruah) của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và hơi thở của Ngôi Lời trong các sách Tin Mừng. Các nhà thần học đã tái khám phá tư tưởng các Giáo Phụ Hy Lạp một sự tri thức về Ba Ngôi thông suốt, năng động, nội hàm (perichoretic - indwelling). Ngôi vị nào không hiệp nhất với các Ngôi khác sẽ không tồn tại. Leonardo Boff mô tả sự liên hệ giữa Ba Ngôi trong cách thức tương tự: "Ba Ngôi thể hiện căn tính (Cha), biệt tính (Con), và dị biệt tính (Chúa Thánh Thần)… Qua hiện hữu của một thực tại mở, vị Thiên Chúa hợp nhất trong Ba Ngôi này cũng hợp thành nơi mình những thực tại dị biệt khác nữa; vì thế vũ trụ được tạo ra đi vào sự hiệp thông với thần linh. "[1] Phác họa tầm mức rộng lớn hơn này của Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm sáng tỏ trí tưởng tượng của chúng ta để thấy những mạng lưới và hệ thống kết nối đa dạng.

Có lẽ các nhà thần học đặc biệt nhạy cảm khi truy tìm dấu tích của Thiên Chúa Ba Ngôi ở khắp nơi, nhưng tôi không thể không nhìn thấy những chủ đề này trong khi say mê theo dõi Orphan Black - Hoán Vị. Để bắt đầu, trong loạt phim này mang mô-típ của tính đặc thù được hợp nhất với tính đa dạng trong đó các chị em được nhân bản kỹ thuật, nhưng họ có cuộc đời riêng của mình và những khí chất đặc thù (idiosyncrasies).[2] Alison là một người mẹ của một cầu thủ bóng đá ngoại ô với nhu cầu khắt khe về trật tự, trong khi Cosima là một nhà khoa học đồng tính nữ người thích bị ném đá. While also hearkening back to Trinitarian depictions in art of Three (identical looking) Divine Persons. Beth, một cảnh sát, là người kéo họ ra khỏi màn ảnh và ban đầu, Sarah chỉ tham gia vào việc kiếm tiền bằng cách lấy danh tính của Beth. Các nhân vật được miêu tả cùng một diễn viên làm tăng tính khuếch trương của công ghệ nhân bản di truyền, trong khi đó ta cũng hãy quay lại nhớ về các hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi trong bức tranh nổi tiếng "Ba Ngôi" (thể hiện ba người hoàn toàn giống nhau).

Trong những tập đầu tiên, các nhân vật nhân bản nhận ra rằng họ chỉ có thể tin cậy lẫn nhau mà thôi. Theo thời gian họ phát triển một loại tình yêu tự hiến cho nhau, cũng tượng trưng cho tương quan tình yêu của Ba Ngôi. Chúng ta thấy điều này khi các bản sao nhân bản đó định kỳ phải "diễn lại phiên bản" luân phiên của nhau. Sarah sẵn sàng tiếp tục đóng vai Beth để điều tra xem ai đang theo dõi họ, Cosima giả vờ là Alison trong một sự kiện lớn của trường, và Alison sắm vai Sarah để tiếp tục chăm sóc con gái của Sarah. The force of their connection allows them to eventually bring into the circle of confidence Helena, the clone sister who had been trained to assassinate them but comes to embrace each as sestra. Nguồn lực kết nối đó cho phép họ cuối cùng mang lại cho Helena, người chị em nhân bản vốn được đào tạo để ám sát họ bước vào vòng thành tin tưởng khép kín ôm nhau như tỷ muội (sestra - sister).

Các vấn đề về truyền sinh (generation) xuất hiện khi chúng ta phát hiện ra hầu hết các dòng vô tính không có khả năng sinh con. Suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa Cha đã nhiệm sinh Chúa Giêsu, Con Một, trong Chúa Thánh Thần. Hoạt động truyền sinh, do vậy, bị hạn định (mặc dù không độc quyền) vào Ngôi Vị Cha. Trong trường hợp của chương trình truyền hình sôi nổi của chúng tôi, chỉ có hai phiên bản nhân bản có khả năng sản sinh ra trẻ em: Sarah và Helena, chị em song sinh của Sarah. Thông qua các vấn đề sinh sản, tôn giáo và khoa học gặp nhau trong vòng cung của câu chuyện. Helena bị bắt cóc (trở lại) vào giáo phái "Proletheans" để trở thành một phần của cuộc thử nghiệm khoa học của họ. Thông qua những gì trông giống như một tiến trình IVF (IVF là viết tắt của In Vitro Fertilization - thụ tinh trong ống nghiệm), Helena bị các trưởng giáo phái cấy phôi thai. Vào thời điểm này, Helena vẫn còn về mặt kỹ thuật là một trinh nữ. Trách nhiệm làm mẹ mới này mang lại cho cô một tầm nhìn về sự thay đổi mang tính chuyển đổi diễn ra theo những cách tinh tế và di chuyển trong các tập tiếp theo.

Vũ trụ quan nhân bản vô tính hoàn thiện bởi các mẫu thức thần học giao thoa với mô-típ khoa học. Chính câu chuyện phim này bảo lưu một phê bình quyền bính thậm chí trước khi nó luận bàn về các nguyên tắc đạo đức của hoạt động di truyền học. Khởi sự, mối đe dọa lớn nhất dường như đến từ những quyền lực (nam tính) mơ hồ và những tay sai phục vụ giám sát các phiên bản nhân bản vô tính. Toàn bộ hệ thống giám sát được thực hiện như một cuộc thử nghiệm khoa học và nhắm vào việc giữ cho phiên bản nhân bản (nữ giới) tồn tại trong môi trường riêng biệt. Trong truyện phim, Sarah và Helena vô tình làm hỏng hệ thống như là hai phiên bản vô tính "hoang dã" thoát ra khỏi vòng giám sát và dấn bước vào một loạt các sự kiện dẫn họ sâu vào các mạng lưới âm mưu. Có một sự mâu thuẫn về phương diện công nghệ, vốn có khi (các) nhân vật chính không chỉ là những sản phẩm công nghệ mà còn chủ động tìm kiếm sự sống trên cái chết, tình yêu vượt qua cấm đoán và loại trừ.

Các chị em trong phim sớm biết rằng những người trong hệ thống giám sát của Viện Dyad chịu một khuyết tật về di truyền gây tử vong. Cosima, trong nghiên cứu riêng tìm câu trả lời từ những phiên bản nhân bản đã chết và phát hiện ra cô cũng đang rơi vào tình trạng đó. Khả năng miễn nhiễm của Sarah mở ra những khả năng mới để tìm kiếm các phương thuốc chữa bệnh. Điều này trở thành một câu chuyện cứu rỗi trong lịch sử, bao gồm các yếu tố bí tích, và thậm chí mở rộng ra cho dòng nhân bản nam Castor. Trong mùa thứ hai, chúng ta thấy khả năng cứu rỗi mang kiểu vật chất khi Kira tặng Cosima trước hết là chiếc răng, sau đó là một số máu tủy xương. Một số hiệu quả chữa bệnh xảy ra, nhưng nó không phải là một 'sửa chữa' vĩnh viễn. Khi cốt truyện về dòng nhân bản Castor phát triển, phụ nữ cảm thấy một trách nhiệm quan hệ quan trọng. Chúng ta thấy những khoảnh khắc khi sự hòa giải được đưa ra cho những anh em thoát khỏi nhận thức rằng ơn cứu độ của một ai đó là ơn cứu độ cho tất cả mọi người.

Hy vọng vào việc chữa lành bệnh, và chữa lành bệnh xảy ra khi các chị em cùng nhau thu hút sức mạnh và hỗ trợ rồi mang đến khả năng chữa bệnh cho những người đi xung quanh nữa. Orphan Black chắc chắn không phải là một cẩm nang lời dạy của Chúa, nhưng nó cung cấp một số hình ảnh kích thích thần học và cho phép chúng ta xem xét các phép ẩn dụ truyền thống về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nền thần học Ba Ngôi năng động tạo cơ sở cho sự suy tư sâu sắc hơn về thế giới vật chất được sáng tạo của các tác giả như Leonardo Boff, Jürgen Moltmann và Elizabeth Johnson. Để nói về quan hệ Ba Ngôi trong lĩnh vực sáng tạo chỉ đơn giản có nghĩa là tìm kiếm các mối quan hệ không thể tách rời giữa các thực thể rời rạc, vốn có thể nhỏ như quần xã các ty thể hoạt động trong các tế bào nhân chuẩn, hay như vòng đời của cây tuyết tùng, nấm, và cây tuyết tùng; hoặc mênh mông như các chất khí và các phân tử liên hợp trong hàng triệu thiên hà. Với nhân vật Sarah và các chị em, sự thống nhất được tìm thấy không chỉ ở phong cách tĩnh ở mức độ di truyền học, mà còn trong sự phối hợp của họ khi chiến đấu đơn giản là chỉ để sống còn như những cá thể con người hoàn thiện chứ không phải là những phiên bản phục vụ các thử nghiệm khoa học. Bằng cách này, chúng ta có thể coi Orphan Black - Hoán Vị biểu trưng một hình ảnh về tính riêng biệt và sự hiệp nhất thần thánh, qua những mô tả về thí nghiệm di truyền học, và từ đó khám phá thêm một phép ẩn dụ về hình ảnh Thiên Chúa.

 

Chuyển ngữ: L.m Fx. N.V.T

[1] Leonardo Boff, Trinity and Society, translated by Paul Burns (Maryknoll, NY: Orbis, 1988), p. 3. 

[2] Another way to look at it is in reference to nature versus nurture debates, which is how most critics address the theme.