Nhìn “Lòng Trắc Ẩn” Theo Mạnh Tử Dưới Lăng Kính Hiện Tượng Luận Của Emmanuel Lévinas

Giữa những xao động của xã hội, con người phải chứng kiến không ít xung đột giữa các cá nhân hay tổ chức gây ra nhiều hậu quả đau thương để lại biết bao thương tích cả thể xác lẫn tinh thần. Tuy nhiên, thực tế cuộc sống cho thấy, vẫn còn rất nhiều người luôn đối xử tốt với nhau, dù cho họ gặp người xem ra là xa lạ. Một lối nhìn lạc quan cho vấn đề này là tự bản chất con người luôn có lòng trắc ẩn đối với tha nhân. Điều này đã được Mạnh Tử (372-289 B.C) xây dựng ngang qua học thuyết tính thiện của mình. Cách cụ thể, ông nhấn mạnh đến mỗi con người có cái lòng trắc ẩn. Đây là khởi điểm mà triết lý đạo đức của Mạnh Tử được xây dựng, nghĩa là mọi ứng xử của con người được xây dựng dựa trên trách nhiệm đạo đức với nhau. Ở bên Tây phương, Lévinas (1906-1995) - triết gia người Pháp gốc Do Thái - cũng cho rằng con người có trách nhiệm đạo đức với tha nhân và được thể hiện qua sự đối nhân xử thế. Nếu như thế, liệu rằng quan niệm về lòng trắc ẩn của Mạnh Tử có thể phù hợp với hệ thống hiện tượng luận của triết gia Emmanuel Lévinas hay không? Bài viết này xin thử nhìn “lòng trắc ẩn” theo Mạnh Tử dưới lăng kính hiện tượng luận của Lévinas. Qua đó, người viết mong tìm được sự bổ trợ nơi phương pháp hiện tượng luận của Lévinas trong việc hiểu khái niệm “lòng trắc ẩn” của Mạnh Tử.

1.Lòng trắc ẩn theo Mạnh Tử

Thực ra, Mạnh Tử gọi lòng trắc ẩn của con người là lòng thương xót, đó là hạt mầm của đức Nhân (benevolence). Bên cạnh đức Nhân, theo Mạnh Tử, con người còn có ba nhân đức khác nữa, đó là: Nghĩa, Lễ, Trí. Bốn nhân đức này xuất phát từ tâm thiện hảo (good mind-heart) mà con người được Trời phú bẩm cho. Đức Nhân như là nhân đức cốt lõi của con người, còn ba nhân đức còn lại dường như là cách thức để hiện thực hóa đức Nhân trong việc đối nhân xử thế. Khi ai đó nói rằng con người có đức Nhân, thì cũng đã ngụ ý con người có ba nhân đức còn lại, vì khi thiếu đi một nhân đức thì con người không còn là người đúng nghĩa. Ông nói: “Nhân là Tâm của con người.”[1]. Khi Mạnh Tử nói “lòng trắc ẩn là hạt mầm của đức Nhân”, thì có vẻ như, lòng trắc ẩn tự nó chưa trở thành nhân đức, nhưng nó vẫn đang ở tình trạng tiềm thể. Để nó trở nên hiện thể, thì con người cần phải tự tu dưỡng bằng thực hành các hành động đạo đức cụ thể.

Khi nói về lòng trắc ẩn của con người, Mạnh Tử đã mô tả bằng ví dụ sau:

Con người đều có lòng không nhẫn tâm khi nhìn sự đau khổ của người khác… Nói rằng là con người đều có lòng không nhẫn tâm trước hoạn nạn của người khác là dựa vào việc nếu như con người bất ngờ thấy một đứa trẻ bị ngã xuống giếng thì có lòng chột dạ xót thương. [2]

Lòng chột dạ xót thương này không đơn giản từ yếu tố như việc mong nhận được tâm tình của người khác, danh tiếng của mình, hay ghét tiếng khóc sợ hãi của đứa trẻ.[3] Lòng chột dạ xót thương này đúng hơn xuất phát tự nội tại bên trong, hay còn gọi là nội tâm. Nó được phú bẩm trong mỗi con người, nghĩa là trong mỗi con người đã có lòng trắc ẩn với tha nhân, nhất là khi phải chứng kiến những đau khổ của họ. Hơn nữa, theo Mạnh Tử, để cho con người thực sự là người thì con người phải có lòng trắc ẩn, ông nói: “Người không có lòng trắc ẩn không phải là người.”[4]

Lòng trắc ẩn mà Mạnh Tử nói đến không chỉ dừng lại đối với con người, nhưng còn đối với con vật nữa. Cụ thể, khi vua Tuyên thấy con bò mà người ta mang đi sát tế với vẻ hoảng hốt của nó, giống như kẻ vô tội bị đem đi hành hình, thì vua không nhẫn tâm và đã tha cho nó. Vua ra lệnh thay con bò bằng một con dê để mang đi sát tế. Mạnh Tử cho rằng, vấn đề chính là vua không nhẫn tâm chứng kiến cảnh đau đớn của con vật bị mang đi giết, hay thâm sâu hơn là cảnh người vô tội bị mang đi hành hình. Nếu nhìn thấy cảnh đau đớn của con dê bị mang đi giết, thì hẳn nhà vua cũng tha cho nó.[5] Qua câu chuyện này, Mạnh Tử dường như ngụ ý rằng, lòng trắc ẩn dành cho mọi sự chỉ có thể được hoạt động khi gặp gỡ hoàn cảnh của các đối tượng, nghĩa là lòng trắc ẩn của tôi được đánh thức bởi các đối tượng bên ngoài tôi cách cụ thể qua việc gặp gỡ. Việc chứng kiến có thể thực hiện bằng cách trực tiếp như cảnh thấy đứa trẻ rơi xuống giếng hoặc qua việc hình dung đối tượng (người vô tội bị mang đi xử tử) mà mình xót thương ngang qua trung gian như nhìn thấy khuôn mặt con bò bị mang đi giết.

Những mô tả này về quan điểm lòng trắc ẩn của con người đối với người khác theo Mạnh Tử có thể trả lời vấn đề về nền tảng hay lý do mà con người có trách nhiệm đạo đức với tha nhân. Đó là, tôi được sinh ra và thực là tôi chân xác (true self) khi có lòng trắc ẩn. Lòng trắc ẩn là nền tảng mà tôi có năng động trong tâm là chột dạ xót thương tha nhân, đặc biệt khi họ gặp hoạn nạn và đau khổ. Lòng trắc ẩn này mở ra các hành vi ứng xử đạo đức mà con người dành cho nhau. Lòng trắc ẩn luôn ở trong tâm thế bị động (passivity), nó có trước mọi tự do, suy nghĩ, chọn lựa và mọi hành vi ứng xử mà con người thực hiện. Lòng trắc ẩn luôn có ở đó và luôn ở trạng thái hoạt động (ví như hạt mầm) dù nó có bị ẩn giấu bởi hoàn cảnh hay bởi tác động của người khác lên ý thức, tự do, suy nghĩ và hành vi của tôi. Nó ở tâm thế bị động là vì nó bị bắt buộc hướng tới tha nhân vì điều tốt cho họ. Nếu lòng trắc ẩn trong tôi không hướng tới tha nhân vì điều tốt cho họ thì tôi đánh mất chính mình, tôi không còn là tôi chân xác nữa. Cho nên, tôi có lòng trắc ẩn với tha nhân, thì lòng trắc ẩn mở ra trách nhiệm đạo đức của tôi đối với tha nhân. Lòng trắc ẩn như là sợi dây nối kết mối tương quan của tôi với tha nhân, được hiện thực hóa qua việc làm đạo đức nơi đời sống xã hội.

Con người được sinh ra trao ban lòng trắc ẩn. Điều này là món quà giúp tôi có khả năng trở thành thánh nhân (sage). Chính nó cũng là điều làm cho tôi có trách nhiệm với tha nhân và thế giới. Có như thế tôi mới thực là tôi chân xác (thiện hảo). Như thế, tôi chân xác luôn ở trong mối tương quan trách nhiệm với tha nhân. Trong đời sống xã hội thông thường, theo Mạnh Tử, cung cách ứng xử đạo đức phải theo trật tự, cụ thể như giữa vua tôi, cha con, anh em và mọi người khác.[6] Tuy nhiên, việc hiện thực hóa tròn đầy lòng trắc ẩn của con người như thánh nhân (sage) thì vượt trên mọi cấp bậc ấy.[7]

2.Nhìn theo lăng kính hiện tượng luận của Lévinas

Trước khi áp dụng phương pháp hiện tượng luận của Lévinas để nhìn quan điểm mà Mạnh Tử đưa, người viết thiết nghĩ cần hiểu theo Lévinas, tôi và tha nhân có tương quan và trách nhiệm như thế nào? Đâu là lý do nền tảng mà tôi phải có trách nhiệm với tha nhân (con người)?

Theo Lévinas, khi bàn về con người, người ta không nên chỉ tập trung vào chính tôi (self) một cách độc lập mà bỏ quên Tha Thể[8] (Other) ở nơi mỗi con người. Lévinas cho rằng Tha Thể ở trong tôi. Việc ở trong tôi không có nghĩa tôi chủ động chiếm hữu Tha Thể, nhưng đúng hơn tôi được ai đó ban tặng cho. Hơn nữa, ông còn khẳng định chính Tha Thể đánh thức tôi, đặc biệt khi tôi gặp khuôn mặt (face) cụ thể của tha nhân. Việc đánh thức này không xác định trong ý nghĩa của thời gian vật lý. Nếu tôi gặp gỡ tha nhân (con người) cụ thể cách trực tiếp, mặt giáp mặt (face-to-face) thì hẳn nhiên tôi sẽ được Tha Thể qua người đó đánh thức tôi, và nếu tôi gặp gỡ người nào đó qua trung gian như sách báo, phim ảnh... thì cũng chính qua người ấy mà Tha Thể đánh thức tôi. Nhìn tha nhân dưới nhãn quan của Lévinas, tôi phải ý thức tha nhân tạo nên tôi. Viêc tạo nên theo nghĩa, qua tha nhân, Tha Thể đánh thức sự tồn hữu của tôi, không có tha nhân thì tôi không ý thức được sự tồn hữu của mình cách chân xác. Đây là tính liên chủ thể giữa tôi và tha nhân. Khi tôi gặp gỡ tha nhân, thì tôi phải nhìn tha nhân, dù họ là ai, trong tư thế để qua tha nhân tôi nhận ra Tha Thể - siêu việt và vô hạn. Hay nói cách khác, một mặt, trong mức độ được trao ban, tôi có thể nhận ra Tha Thể ngang qua khuôn mặt cụ thể của tha nhân như yêu thương, đau khổ...; mặt khác, Tha Thể vượt qua sự nắm bắt của tôi. Vì thế, tôi phải có trách nhiệm với tha nhân, dù đó là một người độc ác như Hít-le. Lévinas khẳng định rằng “Trong thực tế, tôi có trách nhiệm với tha nhân, thậm chí khi họ phạm tội... Tất cả mọi người điều có trách nhiệm với người khác và chính tôi hơn là ai khác”.[9]

Lévinas một đàng hướng đến tư thế mở ra của tôi (self), nhưng không quên cái được ban tặng là Tha Thể. Tôi không chỉ tri thức về Tha Thể, nhưng tôi còn làm đạo đức (moralizing) trên nền tảng có Tha Thể trong tôi. Lévinas không dừng lại ở việc hiểu nhưng còn đi đến việc thực hành đạo đức cho tha nhân cách cụ thể. Làm đạo đức (moralizing) là tư thế đúng đắn của tôi đối với tha nhân. Khi tôi có trách nhiệm với Tha Thể ngang qua việc làm đạo đức (moralizing) cho tha nhân cụ thể thì cũng đồng nghĩa với việc tôi có trách nhiệm với chính mình. Có như thế, tôi mới là tôi chân xác.[10] Cho nên, nền tảng mà tôi có trách nhiệm đạo đức với tha nhân vì tôi được trao ban Tha Thể.

Giờ đây, nếu chấp nhận với Mạnh Tử rằng lòng trắc ẩn của tôi giúp tôi là tôi chân xác, thì dưới lăng kính của Lévinas, việc nhận ra tôi có lòng trắc ẩn ấy cũng là nhận ra sự tồn hữu của tôi. Việc nhận ra lòng trắc ẩn ấy là nhờ sự đánh thức của Tha Thể ở trong tôi. Sự đánh thức của Tha Thể trong tôi là khi tôi có cuộc gặp gỡ với tha nhân cụ thể. Chính nhờ qua tha nhân mà tôi nhận ra được Tha Thể đánh thức sự tồn hữu hay lòng trắc ẩn của tôi. Cụ thể, qua câu chuyện mà Mạnh Tử đưa ra, việc nhìn thấy đứa trẻ bị nạn là cuộc gặp gỡ với nó và nhờ cuộc gặp gỡ ấy nhận ra mình có lòng trắc ẩn. Từ lòng trắc ẩn mà con người có trách nhiệm với đứa trẻ (người khác). Nhưng Mạnh Tử đã không đề cập đến yếu tố Tha Thể vô hạn có trong mỗi con người. Dường như Mạnh Tử chỉ mới dừng lại ở mối tương quan giữa lòng trắc ẩn trong tôi và tha nhân ngoài tôi. Và giờ đây, qua lăng kính hiện tượng luận của Lévinas, người ta dường như có thể giúp Mạnh Tử lấp vào chỗ trống ấy.

 Tôi nhận ra mình thương xót, là nhận ra bản tính của mình, và cũng là nhận ra sự tồn hữu của mình, tất cả yếu tố này là nhờ tha nhân (đứa trẻ) mà tôi gặp gỡ (nội tâm). Tôi có trách nhiệm với nó không chỉ vì tôi được phú bẩm lòng trắc ẩn, nhưng tôi còn được trao ban Tha Thể nữa. Khi thấy cảnh hoạn nạn của đứa trẻ bị rơi xuống giếng, thì cũng là lúc tôi nhận ra khuôn mặt đau đớn của Tha Thể ở trong tôi.[11] Như thế, lòng trắc ẩn giờ đây không chỉ là tiếng gọi chủ động của tôi, mà còn là sự đánh thức của Tha Thể. Cho nên, tôi luôn có trách nhiệm với đứa trẻ, vì tôi có trách nhiệm với Tha Thể trong tôi, và với việc nhận ra sự tồn hữu của mình (ý thức và sống đúng bản tính của mình).

Mối quan tâm của Mạnh Tử và Lévinas là nền tảng mà con người cần đối xử trách nhiệm đạo đức với nhau, cụ thể trong đời sống xã hội. Có lẽ phần nào do cả hai ông cùng phải chứng kiến cảnh chiến tranh loạn lạc và cảnh con người bị giết hại. Mạnh Tử và Lévinas cùng cho rằng mỗi người phải sống trong mối tương quan với tha nhân (interconnected). Họ cùng cho rằng lòng trắc ẩn thúc dục tôi có trách nhiệm là điều tốt cho tha nhân, vì thế tôi phải lệ thuộc vào tha nhân. Nhưng việc đặt nền tảng mà tôi phải sống trong mối tương quan trách nhiệm đạo đức với tha nhân thì có sự khác nhau giữa Mạnh Tử và Lévinas. Mạnh Tử không nói rõ cụ thể giữa lòng trắc ẩn ở trong tôi và tha nhân ngoài tôi có mối quan hệ nội tại như thế nào. Trái lại, Lévinas nói rõ lòng trắc ẩn của tôi tương quan với tha nhân ngoài tôi thì luôn dựa trên nền tảng có Tha Thể trong tôi. Dưới góc nhìn của Lévinas, người ta có thể sử dụng ý niệm Tha Thể bổ khuyết cho vấn đề Mạnh Tử.

Tóm lại, quan niệm lòng trắc ẩn của con người mà Mạnh Tử giải thích, nếu nhìn dưới lăng kính hiện tượng luận của Lévinas, không chỉ là nói lên lòng trắc ẩn với con người cụ thể vì đó là bản tính của tôi, nhưng còn là lòng trắc ẩn với Tha Thể ở trong tôi. Cho nên, tôi ý thức sự tồn hữu chân xác của mình không chỉ vì tôi nhận ra bản tính trắc ẩn của mình, mà còn vì Tha Thể trong tôi đánh thức tôi. Từ đây, tôi phải có trách nhiệm với Tha Thể bằng việc làm đạo đức cho tha nhân. Vì nhờ tha nhân, mà tôi nhận ra được phần nào khuôn mặt của Tha Thể. Hơn nữa, Lévinas còn giúp người ta rõ hơn các vấn đề như nền tảng tôi nhận ra mình có lòng trắc ẩn, đó là nhờ Tha Thể trong tôi, ngang qua cuộc gặp gỡ với tha nhân cụ thể; việc nhận ra lòng trắc ẩn ấy là việc nhận ra sự tồn hữu của mình (lòng trắc ẩn); cuộc gặp gỡ người khác không chỉ là cách thế mà tôi nhận ra nhận ra tôi có lòng trắc ẩn mà tôi còn nhận ra khuôn mặt của Tha Thể; tôi là tôi chân xác không chỉ là tôi có lòng trắc ẩn, mà tôi còn có Tha Thể - vô hạn ở trong tôi. Và lòng trắc ẩn thì luôn ở trong mối tương quan với Tha Thể, ngang qua tha nhân cụ thể. Lòng trắc ẩn ấy hiển nhiên không phải là bản tính bị tách biệt, không có mối tương quan nào.

Bộ môn: Hiện Tượng Luận

Giáo sư hướng dẫn: An-tôn Trần Khắc Bá, SJ

Học viên: Giuse Phạm Văn Thế, M.F.

Lớp triết II

 

Tài liệu tham khảo:

Critchley, Simon. Introduction. Trong The Cambridge Companion to Lévinas. Edited by Simon Critchley and Robert Bernasconi. Cambridge University Press, 2004.

Edelglass, William. Lévinas on Suffering and Compassion. Trong Sophia vol. 45, no 2, 2006, tr. 44-49.

Lévinas, Emmanuel. Philosophy, Justice and Love. Trong Entre Nous: Thinking of the Other, New York: Columbia University Press, 1998.

Lévinas, Emmanuel. Toàn Thể và Vô Hạn. Trong Toàn Cảnh Triết Học Âu -Mỹ thế kỷ XX. Phan Quang Định biên dịch. Nxb Văn Học, 2008, tr. 626-628.

Lévinas, Emmanuel. The Same and the Other. Trong God, Death, and Time. Bettina Bergo dịch, Stanford University Press, 2000, tr. 140-143.

Mạnh Tử. Trong Tứ Thư. Quốc Trung biên dịch. Nxb Văn Hóa Thông Tin, 2006.

Morgan, Michael L. The Cambridge Introduction to EMMANUEL LÉVINAS. Cambridge University Press, 2011.

 

[1] Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, trong Tứ Thư, Quốc Trung biên dịch, Nxb: Văn Hóa Thông Tin, 2006, tr. 531-532

[2] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, trong Tứ Thư, tr. 424-425

[3] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tr. 424-42

[4] Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tr. 424-42

[5] X. Mạnh Tử, Lương Huệ Vương thượng, tr. 370-373

[6] X. Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, tr. 544.

[7] X. Mạnh Tử, Tận Tâm thượng, tr. 536, 570-571.

[8] Lévinas sử dụng hai thuật từ Other và other để diễn đạt tư tưởng của mình, cho nên người viết xin sử dụng Other (Autrui) là Tha Thể -vô hạn và other (autre) là tha nhân (thuộc về một phần của Tha Thể) để dễ phân biệt khi trình bày.

[9] Emmanuel Lévinas, Phylosophy, Justice and Love”, trong Entre Nous: Thinking of the Other (New York: Columbia University Press, 1998), tr. 107.

[10] X. Emmanuel Lévinas, The Same and the Other, trong God, Death, and Time, Bettina Bergo dịch, (Stanford University Press, 2000), tr. 140-143; Emmanuel Lévinas, Toàn Thể và Vô Hạn, trong Toàn Cảnh Triết Học Âu -Mỹ thế kỷ XX, Phan Quang Định biên dịch, (Nxb Văn Học, 2008), tr. 626-628.

[11] X. William Edelglass, Lévinas on Suffering and Compassion, trong Sophia vol. 45, no 2, 2006, tr. 52-53.