Những Thách Đố Trong Đời Sống Cộng Đoàn

Ngày hôm nay, người ta gọi là “thế giới siêu phẳng”. Thế giới đem lại cho cuộc sống con người trở nên thuận tiện và dễ dàng hơn nhiều. Ở đâu trên vị trí của địa cầu, người ta cũng có thể biết rõ một sự kiện trên thế giới mới xảy ra. Tuy nhiên, con người cũng bị chi phối bởi sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật. Điều này “vô tình” kéo theo “những con người hiền lành” vào vòng xoáy của lối sống thực dụng. Ngày hôm nay, không còn những khung cảnh “những gia đình sum họp bên mâm cơm sáng trưa tối mỗi ngày” và thay vào đó là chiếc Tivi, Smatphone…, một buổi cơm chung “mạnh ai người đó ăn”. Sẽ rất khó để có được không khí gia đình quen thuộc như xưa. Nguyên nhân nào làm cho các gia đình mất đi nếp sống tốt đẹp đó?

Dừng lại một chút để suy gẫm về vấn đề này, ta có thể thấy cuộc sống hôm nay không cho phép họ tách lìa khỏi cộng đồng. Khi họ tham gia vào một công việc thì buộc họ phải chạy theo thời gian. Đây là một trong những nguyên nhân mà cuộc sống hôm nay khác với ngày xưa. Cho nên, bây giờ hầu hết trong gia đình, các thành viên không còn nhiều thời gian để sống với cùng với nhau, ăn chung với nhau…tất cả dường như cứ chạy theo công việc, và công việc cứ luôn theo sát họ suốt ngày đêm, nhiều lúc họ không có thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn. Phải chăng sự ảnh hưởng của đồng tiền đã làm cho cuộc sống của họ phải bắt buộc như vậy? Hay vì nhu cầu của cuộc sống mà họ phải lặn lội suốt đêm suốt ngày để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu cá nhân? Tôi thiết nghĩ rằng: Tất cả những ai sản xuất ra nhiều của cải vật chất để làm giàu cho gia đình, cho xã hội đó là một điều tốt. Nhưng điều quan trọng mọi người biết làm việc theo mục đích hướng thiện thì kết quả của họ mới có giá trị đích thực.

Nhìn vào đời sống dâng hiến, thế giới tục hóa và lối sống đề cao cá nhân đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống tu trì. Điều này, nó cũng đang dần làm thay đổi tư tưởng, suy nghĩ của tầng người trong mỗi dòng tu. Và nó còn ăn sâu vào một số thành viên trong cộng đoàn làm cho họ mất dần đi căn tính đời tu. Mặt khác, nó còn tạo ra những “căn bệnh thời đại” trong cộng đoàn. Nghĩa là theo cách suy nghĩ “tân thời” thì khi thời thế thay đổi thì mình cũng phải thay đổi theo để không bị lạc hậu với thời đại?

Nhu cầu cuộc sống, nhu cầu học tập, khiến ai cũng băn khoăn, trăn trở, lo lắng; không biết mình phải sống như thế nào, học tập như thế nào và “tu” như thế nào. Đó là những câu nghi vấn luôn diễn ra trên khuôn mặt của mọi người. Đối với những người “đi theo con đường hẹp” thì câu nghi vấn đó lại rất khó trả lời. Nhưng không ai muốn ngồi nguyên một chỗ mà chấp nhận “theo số phận” và họ cố gắng tìm mọi cách để được đáp ứng theo nhu cầu của mình. Tuy nhiên, những nhu cầu đó không phải là hoàn toàn xấu, nhưng là điều tốt khi nếu nó đáp ứng tốt cho việc học tập, phát triển trí năng hay phục vụ cộng đoàn. Tuy nhiên, nó xấu tức là những nhu cầu đó phục vụ cho việc thỏa mãn cá nhân. Người đời thường nói “lòng tham thì vô đáy”, cho nên không khi nào có thể lấp đầy được khoảng trống trong lòng con người. Vấn đề ước muốn sở hữu vật chất của con người ngày càng tăng cao, do đó, họ không thể chấp nhận “dùng mãi” cái mình đang có, mà họ luôn thay đổi nhu cầu để phù hợp với thời đại. Điều này nói lên một xã hội đang phát triển không ngừng. Nhưng đàng sau đó ẩn chứa những điều tệ hại mà người đời không nhận ra. Họ cứ thế bị cuốn hút vào vòng xoáy của thời đại mà không bứt ra được. Người ta không thể ngồi yên được khi nhà bên cạnh sắm được một chiếc xe mới, trong lúc mình chưa có, dẫu là một cái xe cũ. Và thế là họ tìm mọi cách để có được chiếc xe như nhà bên cạnh, nhưng khi có xe rồi họ lại muốn có xe tốt hơn và thế là họ bất chấp dư luận để đạt được ý muốn. Có kẻ còn bán rẻ lương tâm để đổi lấy nhu cầu với ý đồ thỏa mãn thân xác. Lối sống này đã ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của những người dâng hiến, họ bị chi phối mỗi ngày, lắm lúc còn làm cho họ “mù quáng” bước nhầm vào bóng đêm của sự dữ. Đây chính là điều căn bản làm cho những người sống đời dâng hiến mất dần đi căn tính cộng đoàn. Vì một khi bị vật chất chi phối, họ chỉ lo trau chuốt cho vật dụng của mình, họ không còn nhiều thời gian để dành cho việc tâm linh, phục vụ nữa. Vì thế, trong lời bài hát “Từ trái tim con” của linh mục Thái Nguyên có đoạn: “Xin cho con thấy những đổi thay lòng con đây đã bao lần chạy theo lợi danh đã nhạt phai tình nghĩa anh em”. Thật chí lý khi linh mục Thái Nguyên đã nhìn thấy biết bao tình nghĩa anh em đã bị phai nhạt dần, vì họ không còn thời giờ quan tâm đến nhau. Họ suốt ngày bận bịu với công việc, họ chỉ lo cho “cái danh” của mình thôi, và thế là “vô tình” họ để Chúa và anh (chị) em sang một bên.

Đối với những người đi theo con đường dâng hiến thì sao? Họ có bị vấp ngã bởi danh lợi đó không? Thưa là có, họ cũng là những con người như bao con người mình trần mắt thịt khác, cho nên họ cũng mang trong mình những “căn bệnh” yếu đuối của thời đại. Do đó, lòng ước muốn luôn đè nặng lên tâm hồn và họ luôn thao thức cho cuộc đời của mình. Có người còn cho rằng: “sinh bất phùng thời”, phải chăng số phận mình sinh ra không đúng thời, cho nên cuộc sống của mình luôn gặp khó khăn? Bởi vậy, có nhiều người đã chọn con đường đi tu, nhưng dưới con mắt một số người đời thì họ cho rằng: đi tu là để trốn tránh cuộc đời, trốn tránh khó khăn và tìm nơi an nhàn. Tác giả Lm. Nguyễn Trọng Viễn đã đề cập đến một số “bạn trẻ đi tu để tìm một vị thế trong tổ chức và thể hiện mình trong những sinh hoạt của Giáo Hội. Linh mục vốn được trọng dụng hơn các tu sĩ, bởi vì linh mục có vị thế quan trọng hơn trong các tổ chức và sinh hoạt; tu sĩ có khả năng hoạt động có vẻ như vẫn “hợp thời” hơn những tu sĩ sống tinh thần Tin Mừng cách âm thầm…Như thế chúng ta cũng hiểu tại sao người Việt Nam thích đi tu làm inh mục nhiều hơn, thích các dòng hoạt động nhiều hơn, và thường đánh giá một giáo sĩ hay tu sĩ theo khả năng tổ chức và sinh hoạt chứ không phải trong ý nghĩa đời sống Đức Tin và giá trị Tin Mừng.”

Hình thức trên, chúng ta thấy ngày càng phổ biến khi khi đời sống của những người dâng hiến chỉ lo cho hình thức “bề ngoài”, tức là trau dồi những kĩ năng thuyết giảng thế nào cho hay, cho hợp lòng giáo dân để khẳng định mình trong sinh hoạt. Tất nhiên, những điều đó là cần thiết; nhưng chúng ta cũng thấy có nhiều vấn đề được nói ra trên tòa giảng nhưng chỉ là những cái trống rỗng, vì người nghe xong cũng không thấm được bao nhiêu, và điều quan trọng là người nghe có thực hành được điều đó hay không, mà ngay chính người nói cũng khó sống được như mình nói. Điều này Linh mục Nguyễn Trọng Viễn gọi là “bệnh sáo ngữ”. Chính vì điều đó mà người ta quên đi phần quan trọng trong đời sống tâm linh, sống theo tinh thần Tin Mừng của mình. Chúng ta thấy không hiếm những tu sĩ, giáo sĩ, trong vai trò trách nhiệm của mình đã hết mình khuyên nhủ dạy dỗ giáo dân những điều hay lẽ phải; nhưng khi rời khỏi vị thế của mình trong một hoàn cảnh khác thì lại ứng xử một cách khá “vô tư” như bất cứ người nào khác, những cách ứng xử không biểu lộ một chút nào của tinh thần Tin Mừng.

Trong đời sống cộng đoàn cũng không tránh khỏi những lúc anh em xích mích với nhau, và cứ thế tuôn ra những lời “độc địa” không thua kém gì ngôn ngữ “vãng lai”. Mặt khác, trong đời sống “chung” còn “sản xuất” ra nhiều căn bệnh khác, nếu chúng ta không biết “dừng đúng nơi, đậu đúng chỗ” thì căn bệnh của chúng ta ngày càng nặng thêm, mà còn khó bề chữa chạy. Cổ nhân dạy: “Lòng ham muốn không nên quá tự do, vui thú không nên đến cực độ”, tất cả những gì “quá” đối với chúng ta, cũng làm cho chúng ta ra “ô uế”. Chúng ta cần phải biết cân đo đong đếm những việc trước khi chúng ta làm, những việc chúng ta hành động, những lời chúng ta phát ngôn. Ngạn ngữ Tây Phương có nói: “Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Còn Khổng Tử : “Đạm bạc dĩ minh trí, ninh tĩnh nhi chí viễn”(sống cuộc sống thanh bần để cho trí luôn luôn sáng suốt, sống nơi yên tĩnh để cho chí luôn nhìn xa). Nhưng thực hành lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc sống mới là điều thiết nhất cho chúng ta: “Tại sao anh em gọi Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa!, mà anh em không làm điều Thầy dạy? Ai đến với Thầy, mà nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. Người ấy được ví như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước song ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá hủy tan tành” (Lc 6,46-49).

Như vậy, dù sống ở môi trường nào; ngoài xã hội hay trong cộng đoàn tu trì, muốn có sự bền vững, gắn kết với nhau thi chúng ta phải lấy nền tảng từ Đức Kitô để làm đòn bẩy cho cuộc sống của chúng ta. Không có một linh dược trần gian nào có thể chữa hết những căn bệnh “ác tính” trong đời sống đức tin của chúng ta. Nhưng chúng ta biết kết hợp linh dược đó với Đức Kitô thì ta tin chắc rằng, mọi căn bệnh “khó tính” cũng sẽ được loại ra khỏi cuộc sống của chúng ta. Trong “Thông điệp Chúa Giêsu gửi thế giới” Qua Sơ Josepha Menendez Dòng Thánh Tâm năm 1890-1923: “Trái Tim Cha ban cho những của lễ hèn mọn một giá trị phi thường, vì điều Cha muốn là tình yêu. Chính vì Tình yêu mà Cha tìm kiếm. Cha yêu mến những linh hồn và Cha chờ đợi sự đền đáp bằng tình yêu của chúng. Do đó mà Trái Tim Cha phải chịu nhiều thương tích bởi lẽ thay vì tình yêu, Cha chỉ gặp những thờ ơ lạnh lùng. Con hãy cho Cha tình yêu và các linh hồn. Con hãy kết hợp các việc làm của con vào Trái Tim Cha. Hãy ở lại với Cha vì Cha luôn ở với con. Cha là tình yêu và Cha chỉ thích tình yêu mà thôi. Các linh hồn có biết Cha chờ đợi chúng với lòng Thương xót như thế nào không. Cha là Tình yêu của mọi Tình yêu . Cha chỉ có thể nghỉ an bằng cách thứ tha” (Tiếng gọi tình yêu. trg 188).

Nguyễn Trình, MF