So Sánh Thần Lý Học của Thánh Âu-Tinh và Thánh I-Rê-Nê

Sự dữ là một vấn đề được tranh luận nhiều trong cuộc sống, đặc biệt ở trong lĩnh vực triết học. Ban đầu người ta cùng nhau tin tưởng vào Thiên Chúa trong việc đối phó và vượt qua sự dữ. Nhưng sau khi nhận thấy sự dữ xảy ra như một điều tất yếu trong cuộc sống thường ngày, con người bắt đầu đặt lại vấn đề, sự dữ thực sự là gì và đâu là nguồn gốc của sự dữ? Họ quay sang nghi ngờ niềm tin vào một Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện. Trước những thách đố ấy, thánh Âu-tinh và thánh I-rê-nê đã đưa ra hướng giải quyết thần lý học riêng nhằm hòa giải giữa vấn đề sự dữ và sự hiện hữu của Thiên Chúa. Bài viết này sẽ so sánh thần lý học (Theodicy) của các ngài nhằm thấy được sự giống và khác nhau giữa hai hướng giải quyết vấn đề. Nhưng để hiểu rõ hơn về bối cảnh tranh luận về sự dữ, trước hết, việc lược qua đôi nét về sự tồn tại của sự dữ, cũng như vấn đề mà sự dữ gây thách đố được lập luận cụ thể ra sao có lẽ là điều cần thiết.

I. Vấn Đề Sự Dữ Được Đặt Ra

1. Sự dữ là gì ?

Sự dữ có mặt trên đời là điều mà ai cũng phải công nhận, nhưng sự dữ là gì đó là một vấn đề không dễ trả lời. Người ta phải công nhận có sự hiện diện của sự dữ vì nó ở trong đời sống con người một cách nhãn tiền như : bão lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, sóng thần hay bệnh tật, chết chóc. Sự dữ ở bên ngoài và trong chính bản thân mỗi người. Nó được chia ra làm hai loại : Sự dữ về mặt luân lý, điều này bao gồm các hành vi cố ý của con người, ví dụ như giết người ; Sự dữ về mặt tự nhiên, điều này đề cập đến thiên tai, ví dụ như sóng thần. Trong hai loại này, người ta chia cả hai loại này thành hai loại sau: Sự dữ liên quan đến vật chất, điều này có nghĩa là đau cơ thể hoặc đau khổ tâm thần, ví dụ như sợ hãi; Sự dữ thuộc khía cạnh siêu hình, điều này đề cập đến những thứ như sự không hoàn hảo và vận mệnh, ví dụ như dị dạng. Sự dữ rõ ràng như thế, nhưng người ta vẫn gặp khó khăn để đưa ra một câu trả lời rõ ràng và đầy đủ cho câu hỏi sự dữ là gì và nó đến từ đâu. Người ta cũng đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về sự dữ, ví dụ, sự dữ là điều con người không muốn, sự dữ là sự đau đớn, sự dữ là bất cứ điều gì hại đến cơ thể, sự dữ là bất cứ sự thiếu sót nào của thiên nhiên, sự dữ hệ tại trong sự thiếu vắng sự hoàn hảo, sự dữ là sự hỗn loạn hay sự dữ là một ảo tưởng[1] Nhưng, tất cả quan điểm ấy dường như không thể thỏa mãn được lý trí của con người. Từ khó khăn trong việc đi tìm ngọn nguồn về sự dữ, cả người có niềm tin và người không có niềm tin đã đặt lại vấn đề có hay không sự hiện hữu của Thiên Chúa. Đây là vấn đề gây thách đố lớn cho con người, đặc biệt đối với người có niềm tin truyền thống Do Thái-Kitô giáo. Chính vì thế, đó cũng là thách đố dành cho hai thánh Âu-tinh và thánh I-rê-nê trong nỗ lực hòa giải vấn đề sự dữ và sự hiện hữu của Thiên Chúa. Vậy thách đố ấy được người ta lập luận cụ thể như thế nào ?

2. Vấn đề gây tranh luận

Đầu tiên vấn đề được tranh luận bởi nhà triết học Hy Lạp Epicurus (371-270 TCN), Thiên Chúa là Đấng phải vừa toàn năng vừa toàn thiện, nếu không hội đủ cả hai yếu tố này thì không phải là Thiên Chúa đúng nghĩa.[2] Cho nên, vấn đề sự dữ quả là một thách thức đức tin của con người. Làm sao một Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện lại cho phép sự dữ tồn tại trên thế giới?

Nhiều người nghĩ rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, thì điều tất yếu là Ngài phải ngăn chặn và xóa bỏ mọi đau khổ đang tồn tại, vì một khi thực sự đã yêu thương con người, chắc hẳn Ngài không muốn cho người mình yêu phải đau khổ. Nhưng, sự dữ vẫn tồn tại. Vậy phải chăng Thiên Chúa không đủ quyền năng? Nếu thế, Ngài chỉ có thể được gọi là Đấng Toàn Thiện mà không thể được gọi là Đấng Toàn Năng - Một Thiên Chúa yếu đuối. Nếu Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng thì Ngài phải có khả năng ngăn chặn và xóa bỏ sự dữ. Song, sự dữ vẫn tồn tại. Vậy phải chăng là do Ngài không muốn? Nếu thế, Thiên Chúa chỉ có thể được gọi là toàn năng mà không toàn thiện.

Việc quy trách nhiệm về sự dữ cho Thiên Chúa dẫn đến các vấn đề, hoặc Thiên Chúa không phải là toàn năng, hoặc Thiên Chúa không toàn thiện với mọi người, hoặc sự dữ không có thật mà nó chỉ là ảo tưởng, hoặc Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện không tồn tại. Nhưng sự dữ không có thật lại là điều vô lý, cho nên chỉ có thể đặt vấn đề về Thiên Chúa có tồn tại hay không? Nếu Ngài tồn tại và là Đấng toàn năng - toàn thiện, tại sao Ngài lại để cho sự dữ tồn tại?

Có nhiều hướng giải quyết khác nhau, nhưng tất cả đều không thể thỏa mãn được lý trí của con người. Đặc biệt những người có niềm tin vào Thiên Chúa không thể chấp nhận một Thiên Chúa bị giới hạn, hoặc thiếu khả năng hoặc thiếu nhân từ. Cho nên, họ đã nỗ lực để giải quyết vấn đề bằng khả năng suy lý của mình. Nhưng họ không thể tham vọng khám phá một cách trọn vẹn và đầy đủ vấn đề sự dữ bằng lý trí mà chỉ có thể vén mở cho vấn đề đức tin của mình trong việc phân định giữa tin hay không tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện.

Trước những vấn đề thách đố mâu thuẫn về mặt luận lý (logic) giữa sự hiện hữu của một Thiên Chúa toàn thiện-toàn năng và sự tồn tại của sự dữ như thế, hai thánh Âu-tinh và thánh I-rê-nê đã có những hướng giải quyết như thế nào?

II. So Sánh Thần Lý Học

1. Thần lý học của thánh Âu-tinh

Thánh Âu-tinh (354-430) cho rằng Thiên Chúa là nguồn gốc của tất cả mọi sự mà ngài tin rằng đã được tạo ra ex nihilo (hư vô) theo thánh ý chí Thiên Chúa. Kết quả, Thiên Chúa tạo ra mọi thứ trên thế giới hoàn hảo, đây là một thiên đường cho Adam và Eva sống như ý định ban đầu của Thiên Chúa[3] - “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp”.[4] Vậy, tại sao thế giới lại có sự dữ?

Thánh Âu-tinh đã chứng minh Thiên Chúa vô can đối với vấn đề tồn tại của sự dữ, và sự dữ là do ý chí tự do của thiên thần và loài người bị lạm dụng. Ngài lập luận rằng, mặc dù ban đầu mọi sự được tạo ra tốt, nhưng vì thế giới đã được tạo ra từ hư vô, nên nó cũng có khả năng trở nên suy đồi, hoặc bị hư hỏng. Do đó, ngài cho rằng sự dữ đã đi vào thế gian qua tội lỗi nguyên tổ, nơi thiên thần sa ngã cám dỗ khiến cho con người bất tuân Thiên Chúa trong vườn Ê-đen.[5] Thiên thần và con người sa ngã gây ra sự dữ của luân lý (moral evil) và tội lỗi vì sử dụng tự do sai lệch, như tội giết người. Hậu quả của tội là sự dữ thuộc tự nhiên (natural evil) như tai nạn, bệnh tật, bão lụt, hạn hán. Thánh Âu-tinh viết “Mọi sự dữ đều do tội lỗi hay hình phạt của tội gây ra”.[6]  Hay nói cách khác, thế giới với tất cả sự dữ không phải là dự định ban đầu của Thiên Chúa, nhưng đúng hơn, bởi sự sa ngã của loài người do lạm dụng ý chí tự do mà thiên đàng nguyên thủy bị đánh mất. Ở điểm này, thánh Âu-tinh nhìn sự dữ như là một điều tiêu cực đối với con người.

Thánh Âu-tinh cho rằng sự dữ có mặt như là hình phạt của tội. Ngài đưa ra nguyên tắc công bằng đạo đức. Điều này cần thiết vì sự công bằng cho người công chính và kẻ tội lỗi.[7] Nếu giả định rằng có một thế giới mà người lành cũng như kẻ dữ được đối xử như nhau thì cuộc sống thật bất công và không còn ý nghĩa nữa.

Kế tiếp, vấn đề được đặt ra cho thánh Âu-tinh, tại sao thiên thần được tạo ra tốt đẹp lại phản nghịch chống lại Thiên Chúa? Ngài đã cho rằng sự dữ không phải là một thực thể có khả năng riêng, nhưng đúng hơn đó là một sự thiếu vắng điều thiện hảo.[8] Theo thánh Âu-tinh, đây là bản chất của sự dữ. Ngài ví một người làm sự dữ như là ánh mắt đẹp nhưng bị mù quáng vì thiếu ánh sáng.[9] Điều này có nghĩa rằng, sự dữ như là sự thể hiện không trọn vẹn hay sai lệch chức năng vốn dĩ tốt đẹp của chủ thể, ví dụ như dao cắt vào tay là do con người sử dụng sai, còn bản chất của con dao là tốt đẹp; xe đụng vào người khác là do người không tập trung khi lái hoặc không biết lái. Như vậy, theo thánh Âu-tinh, các thiên thần phạm tội vì thiếu sự thiện hảo và các thiên thần thiện hảo ở mức độ khác nhau, nên có những thiên thần phạm tội, có những thiên thần không phạm tội. Nếu thế, tại sao sự thiện hảo lại có mức độ khác nhau giữa các thiên thần, hay phổ quát hơn, tại sao thế giới tốt đẹp lại được tạo ra gồm những hữu thể ở nhiều mức độ cao thấp, lớn nhỏ bất toàn và hoàn hảo khác nhau? Phải chăng từ ngữ “thiện hảo” dành cho thụ tạo và Đấng Tạo Thành có một khoảng cách nhất định?

Thánh Âu-tinh cho rằng cần thiết để có nhiều loại hữu thể trong thế giới và con người cần nhìn thế giới với một khối thống nhất hòa hợp mà không phải là những bộ phận đơn lẻ như khi nhìn một bức tranh vậy. Dù trong thế giới có tồn tại cả mức độ xấu - tốt, cao - thấp và bất toàn - hoàn hảo khác nhau thì chúng đều đóng vai trò làm nổi bật vẻ đẹp tổng quát của toàn bộ bức tranh.[10] Vì được tạo ra từ bàn tay Thiên Chúa, vũ trụ là một sự hài hòa trọn hảo.[11] Có nghĩa rằng mức độ thiếu thiện hảo nơi các thụ tạo (sự dữ) cũng có vai trò trong việc làm nổi bật tình yêu của Thiên Chúa như gam màu tối đã làm nổi bật cho vẻ đẹp của toàn bức tranh dù khi nhìn từng nét đơn lẻ nó gây cảm giác khó chịu cho người xem. Đây có thể là góc nhìn tích cực mà thánh Âu-tinh nhìn về sự dữ. Tuy nhiên, thật khó thuyết phục khi lấy sản phẩm bất toàn do mình làm ra để làm nổi bật sự hoàn hảo của mình. Hơn nữa khi nhìn sự thiện hảo theo một khối thống nhất, dường như thánh Âu-tinh vô tình cho rằng Thiên Chúa không quan tâm sự thiện hảo nơi từng cá nhân riêng lẻ mà chỉ nhấn mạnh đến một khối thống nhất.

Trật tự vũ trụ mà thánh Âu-tinh đưa ra: Thứ nhất, Thiên Chúa là Đấng trên hết và là Đấng tạo thành mọi sự. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng trọn hảo, nên Ngài chẳng thể thiếu sự gì và không có ai khác tốt hơn ngoại trừ chính Ngài. Thứ hai, địa hạt các thiên thần gồm các thiên thần và có thiên thần sa ngã quay lưng vớ Thiên Chúa, đã mang sự dữ xuống thế gian. Thứ ba, thế giới con người đã được Thiên Chúa tạo dựng hoàn hảo, nhưng con người vì tội nguyên tổ đã phải chịu hình phạt bằng những thiên tai và đau khổ. Cuối cùng, thế giới tự nhiên của đã được Thiên Chúa tạo dựng hoàn hảo, nhưng như một hình phạt, các thảm họa tự nhiên và những hậu quả khác là kết quả của sự dữ.

Sơ đồ quá trình mà sự dữ đi vào thế gian dựa theo thánh Âu tinh được miêu tả như sau: Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, toàn năng và toàn thiện là khởi đầu công trình tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp. Từ đó, phẩm trật tạo dựng được sắp xếp:Thiên Chúa, Thiên Thần, Con Người, Thiên Nhiên. Do thiếu sự thiện hảo, cho nên con người sa ngã phạm tội. Đây là nguyên nhân của sự dữ về mặt tự nhiên, sau đó tự do con người làm xuất hiện sự dữ luân lý. Theo thánh Âu-tinh, sự tồn tại của sự dữ nhấn mạnh tính thiện hảo của sự sáng tạo. Cho nên kết quả sinh ra mâu thuẫn giữa thiện và ác.

2. Thần lý học của thánh I-rê-nê

Khác với thánh Âu-tinh, trước đó thánh I-rê-nê (130-202) đã cho rằng Thiên Chúa hiện hữu và Ngài đã tạo ra thế giới không hoàn hảo, tất nhiên, con người ban đầu cũng được tạo dựng không hoàn hảo.[12] Điều này không có nghĩa ngài phủ nhận sự toàn thiện của Thiên Chúa. Ngài cho rằng, nếu Thiên Chúa tạo ra thế giới hoàn hảo từ ban đầu thì con người sẽ không được hoàn toàn tự do để cộng tác với Thiên Chúa sáng tạo chính mình. Thánh I-rê-nê chia sự sáng tạo con người của Thiên Chúa qua hai giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất, con người đã tiến hóa thành những sinh vật thông minh, có khả năng tương tác xã hội, hành vi đạo đức và sự phản chiếu trên môi trường của họ (cùng với khả năng nhận thức của Thiên Chúa). Tuy nhiên, sự phát triển này không xảy ra trong chốc lát mà phát triển qua một quá trình dài đấu tranh chống lại một môi trường sự dữ. Chính điều này tạo nên bối cảnh cho giai đoạn thứ hai trong phát triển con người, theo đó con người, thông qua ý chí tự do của riêng họ, đang được thực hiện để trở nên hoàn thiện như Thiên Chúa (likeness of God).[13] Con người không được tạo ra như Adam và Eva hoàn hảo, nhưng là những tạo vật chưa trưởng thành với năng lực tuyệt vời để phát triển tinh thần và đạo đức. Thánh I-rê-nê cho rằng con người được tạo ra trong tình trạng không hoàn hảo dẫn đến trạng thái hoàn hảo. Nói cách khác, con người đang được tạo thành “con cái của Thượng đế”.[14]

Trước đó thánh Âu-tinh đã xem xét điểm xuất phát của sự dữ theo phẩm trật hữu thể từ trên xuống, còn thánh I-rê-nê lại đi theo hướng từ dưới lên. Tại sao thánh I-rê-nê cho rằng Thiên Chúa tạo ra con người theo hai giai đoạn từ thấp lên cao? Ngài trả lời, con người cần từ thấp lên cao để đóng góp phần mình vào việc tạo dựng chính mình. Thật ra, Thiên Chúa tạo dựng con người trong ba khả thể là hư vô, có trí khôn và giới hạn, hoặc hoàn hảo như Thiên Chúa. Nếu con người được tạo ra là hư vô (không có gì) thì con người không có gì để bàn. Nếu con người là hoàn hảo như Thiên Chúa thì mọi đóng góp của con người trở nên vô nghĩa. Thế nên, thánh I-rê-nê cho rằng chỉ khi tạo ra con người không phải hư vô cũng không phải đã hoàn hảo thì con người mới có cơ hội góp phần hoàn thiện chính mình. Chỉ khi con người được tạo ra trong khoảng cách về mặt nhận thức so với Thiên Chúa thì họ mới trở nên trọn vẹn về nhân vị và tự do về đạo đức.[15] Đây là cũng là câu trả lời cho vấn đề tại sao con người được tạo ra như những tạo vật khiếm khuyết hơn là tạo vật hoàn hảo.

Theo thánh I-rê-nê, ý tiền định của Thiên Chúa là xây dựng một thế giới không hoàn hảo. Ngài không có mục đích xây dựng một thiên đường tại thế, vì thế giới là nơi xây dựng linh hồn và là con đường để con người thực hiện tự do trở thành “con cái Thiên Chúa”, “người thừa hưởng cuộc sống vĩnh hằng mai sau”.[16]  Thánh I-rê-nê đã gợi ý rằng “thiện hảo” của con người xuất phát từ sự đáp ứng với các quyết định đạo đức được tạo ra trong một thế giới không hoàn hảo.

3. Điểm giống và khác nhau giữa các học thuyết

3.1 Khác nhau

Mối quan tâm chính của thánh Âu-tinh là dùng thần lý học để chứng minh Thiên Chúa vô can đối với nguồn gốc tồn tại của sự dữ bằng cách đặt trách nhiệm lên những hữu thể phụ thuộc, cụ thể là thiên thần và con người, vì họ đã cố ý lạm dụng quyền tự do được Thiên Chúa ban cho. Ý định tạo dựng ban đầu của Thiên Chúa là một thế giới hoan lạc như nơi mà Adam và Eva sống trước khi phạm tội. Ngược lại, thần lý học của thánh I-rê-nê chấp nhận trách nhiệm tối thượng của Thiên Chúa về nguồn gốc của sự dữ, vì ý định tạo dựng ban đầu của Ngài không phải là một thiên đường mà là một thế giới như hiện nay. Tuy nhiên, thánh I-rê-nê tìm cách cho thấy mục đích tốt của Thiên Chúa khi tạo ra một vũ trụ trong đó điều ác là không thể tránh khỏi.

Thánh Âu-tinh cho thấy sự thiện hảo của Thiên Chúa là sự tràn đầy của Ngài ban từ trên xuống theo cấp bậc và hiện hữu trên thế giới: Thiên thần - con người - động vật - thực vật - vật chất... Con người đã được tạo ra như là một phần của một hệ thống phân cấp các dạng tồn tại. Sự dữ có thể truy nguyên được về sự giới hạn của một thế giới phụ thuộc (ký sinh). Tuy nhiên nó góp phần vào sự hoàn hảo thẩm mỹ khi nhìn từ quan điểm thiêng liêng; và sự tồn tại của sự dữ luân lý được hài hòa trong tổng thể hoàn hảo này bằng hình phạt thể hiện công bằng. Trái lại, trong quá trình tạo dựng, thánh I-rê-nê nhìn sự vật theo chiều hướng đi lên, con người được tạo ra không hoàn hảo để tiến tới hoàn hảo. Học thuyết của thánh I-rê-nê trình bày, con người không hoàn hảo được cộng tác với Đấng Tạo Dựng và được đánh giá bởi tình yêu cá vị thiêng liêng như là một kết thúc trong chính mình. Thế giới tồn tại để trở thành một môi trường cho cuộc sống của con người, và sự không hoàn hảo của nó là không thể thiếu cho nỗ lực hình thành chính mình nên “con cái Thiên Chúa”.

Thần lý học của thánh Âu-tinh nhìn vào quá khứ và dùng tội nguyên tổ trong sự sa ngã của thiên thần và con người cho lời giải thích về sự tồn tại của sự dữ trong vũ trụ của Thiên Chúa. Ngược lại, Thánh I-rê-nê tìm ra sự lời chứng minh cho sự tồn tại của sự dữ trong sự thiện hảo vô hạn (vì vĩnh cửu) mà Thiên Chúa đang mang ra khỏi tiến trình tạm bợ này.

Tiếp theo, thánh Âu-tinh nhấn mạnh về sự sa ngã (trong chương hai, sách Sáng Thế) đóng một vai trò then chốt và Thiên Chúa vô can đối với nguồn gốc sự dữ. Trong khi đó, thánh I-rê-nê cho rằng không phải nhất thiết phủ nhận trách nhiệm của Thiên Chúa về sự dữ, nhưng ngài muốn nhấn mạnh đến quy trình tạo dựng trong chương một của sách Sáng Thế

Điểm cuối cùng, thánh Âu-tinh cho rằng, sẽ có ngày phán xét sau cùng để thể hiện sự công bằng, kẻ lành được lên thiên đàng còn kẻ dữ phải sa họa ngục chịu phạt muôn đời. Trái lại, dựa vào thánh I-rê-nê, nếu theo thánh Âu-tinh, tội lỗi vĩnh viễn không được giải phóng và sự dữ sẽ mãi tồn tại.

3.2 Giống nhau

Quan niệm thẩm mỹ về sự hoàn hảo của vũ trụ theo thánh Âu-tinh giống với quan niệm của thánh I-rê-nê trong tư tưởng về sự hoàn hảo của sự sáng tạo. Đó là tin rằng, sau khi hoàn tất tiến trình tại thế, thiên đàng sẽ là một điều tuyệt vời như để sửa đổi tất cả những gì đã xảy ra trên hành trình tiến về đó.

Cả hai học thuyết đều thừa nhận trách nhiệm của Thiên Chúa về sự tồn tại của sự dữ. Thánh I-rê-nê thì đã trình bày rõ ràng rằng sự dữ ở trong ý tiền định của Thiên Chúa. Đối với thần lý học của thánh Âu-tinh, mặc dù Thiên Chúa vô can về nguồn gốc của sự dữ, nhưng không có nghĩa Thiên Chúa thờ ơ với những sự dữ con người đang đối diện. Bởi vì khi chỉ ra vai trò của sự dữ trong bức tranh tổng thể vũ trụ đẹp đẽ, thì thánh Âu-tinh đã ngầm chỉ ra trách nhiệm thiêng liêng của Thiên Chúa đối với sự tồn tại của nó.

Các ngài gặp những hạn chế thuộc luận lý (logic) để chứng  minh sự toàn năng của Thiên Chúa. Bởi vì, trong khả năng giới hạn của mình, các ngài đã không hòa giải được trọn vẹn những vấn đề mâu thuẫn giữa sự dữ và hiện hữu của Thiên Chúa mà người ta đang băn khoăn. Do đó, mỗi học thuyết đưa ra đều gặp phải những phê bình mạnh mẽ của người khác.[17]

Các ngài dựa vào ý chí tự do để bàn vấn đề sự dữ, tuy nhiên thánh Âu-tinh dường như nhấn mạnh hơn về hậu quả do sử dụng tự do sai lệch. Còn thánh I-rê-nê dường như nhấn mạnh ý chí tự do con người được tạo ra với một khía cạnh tích cực hơn là cho con người có cơ hội tự mình góp phần vào công việc làm cho mình trở nên con cái Thiên Chúa.

III. Kết luận

Nhìn chung, hai học thuyết của các ngài cơ bản là khác nhau, nhưng trong đó vẫn có những điểm tương đồng nhất định. Mỗi học thuyết các ngài đưa ra đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Thánh Âu tinh đã trả lời đầy đủ cho ý nghĩa bản chất, nguồn gốc và hình thức, đồng thời tách biệt được Thiên Chúa với sự dữ. Ngài nhấn mạnh tới sự tự do của con người và sự dữ luân lý: Tội của con người đã mang sự dữ vào thế gian. Như thế, sự toàn năng của Thiên Chúa được bổ túc mà không mất đi sự toàn thiện, bởi một Thiên Chúa có khả năng tạo ra con người có tự do lựa chọn thì toàn năng hơn là một Thiên Chúa sáng tạo ra một con robot chỉ biết theo mệnh lệnh. Tuy nhiên, sự đánh đồng tội lỗi với sự dữ đã tạo nên cái nhìn bi quan về lịch sử con người, nghĩa là xem lịch sử con người giống như một lịch sử đền tội. Suy tư “sinh ra là để đền tội” có thể vô tình ủng hộ thuyết tiền định, đôi khi khiến con người bi quan hoặc phó mặc. Còn đối với thánh I-rê-nê, ngài chỉ nhắm đến khía cạnh chức năng công cụ của sự dữ. Sự dữ có vai trò tích cực trên hành trình giúp con người trưởng thành về đạo đức luân lý. Sự dữ tồn tại là để con người đạt đến một sự thiện lớn hơn. Điều này củng cố sự toàn thiện của Thiên Chúa. Từ tiến trình mà thánh I-rê-nê đưa ra, cho thấy lịch sử con người không phải là một hình phạt đền tội mà là một tiến trình huấn luyện về mặt đạo đức luân lý. Tuy nhiên, học thuyết này cũng chưa thể hóa giải một cách trọn vẹn vấn nạn sự dữ. Nếu sự dữ thuộc thể lý (động đất, song thần…) vượt quá sức chịu đựng của con người thì nó sẽ làm cho con người mất đức tin thay vì củng cố đức tin của họ. Hơn nữa, đôi khi sự dữ do chính con người tạo ra lại đổ lỗi cho Thiên Chúa. Như vậy, người ta có thể thấy rằng khi đưa ra những giải thích về sự dữ đều để lại những vấn đề khó hiểu khác. Thay vì đi tìm giải thích cách tuyệt đối, liệu con người có nên tìm cách để xây dựng cuộc tốt hơn trước những khó khăn của cuộc sống không? 

Giu-se Phạm Văn Thế, Triết I

 

Tài liệu tham khảo

Hick, John H. Evil and the God of Love. Palgrave Macmillan, 2010

Hick, John H. Philosophy of Religion. Edited by Beardsley, Elizabeth, Tom Beauchamp and Monroe Beardsley, 4th ed, California: Prentice-Hall, Inc, 1990

Moga, Michael D. Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực. Người dịch Lê Đình Trị. Tp. Hồ Chí Minh: NXB. Phương Đông, 2013.

Thomson, Mel. Triết học tôn giáo. Người dịch Đỗ Minh Hợp. Hà Nội: NXB. Chính trị Quốc gia, 2004.

Trần Quang Thái, ed. Một số vấn đề triết học tôn giáo.Tp. Hồ Chí Minh: NXB. Tổng hợp, 2011

Website:http://www.markedbyteachers.com/gcse/religious-studies-philosophy-and-ethics/1-compare-and-contrast-the-augustinian-and-irenaean-theodicies. (truy cập ngày 28/6/2018)

 

[1] X.Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, người dịch Lê Đình Trị, Nxb Phương Đông, 2013, tr. 182-195

[2] X. http://www.markedbyteachers.com/gcse/religious-studies-philosophy-and-ethics/1-compare-and-contrast-the-augustinian-and-irenaean-theodicies. (truy cập ngày 28/6/2018)

[3] X.Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, dịch giả Lê Đình Trị, (Sài Gòn: NXB. Phương Đông, 2013), 213-214

[4] St 1, 31 (Bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

[5] Qua việc con người ăn trái cấm từ cây biết lành biết dữ, trực tiếp chống lại thánh ý Thiên Chúa.

[6] X. John H. Hick, Philosophy of Religion, Eds Elizabeth Beardsley, Tom Beauchamp and Monroe Beardsley, 4th ed, (California: Prentice-Hall, Inc, 1990), 42

[7] Ibid., 42

[8] X.John Hick, Evil and the God of Love, (Palgrave Macmillan, 2010), 38

[9] X. John H. Hick, Philosophy of Religion, 42

[10] X.Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, người dịch Lê Đình Trị, (Tp. Hồ Chí Minh: NXB Phương Đông, 2013), tr. 214-215

[11] X.John H. Hick, Philosophy of Religion, 42

[12] X.Michael D. Moga, Trong sự tìm kiếm tôn giáo đích thực, người dịch Lê Đình Trị, 218

[13] X.Mt 5,48 (không phải bằng Thiên Chúa)

[14] X.John H.Hick, Philosophy of Religion, 44-45

[15] X.John H.Hick, Philosophy of Religion, 44

[16] X.John H.Hick, Philosophy of Religion, 46

[17] X.John H.Hick, Philosophy of Religion, 42-44; 48