Sống Tâm Tình Tạ Ơn

Trong thông điệp Đức tin và Lý trí (Fides et Ratio), số 12, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhận định: “Vậy lịch sử trở thành nơi chúng ta có thể nghiệm thấy những việc Thiên Chúa làm cho nhân loại”.  Như thế, dưới nhãn quan đức tin, qua lịch sử chúng ta có thể thấy rõ bàn tay yêu thương và sự quan phòng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Khởi đi từ gia phả của dòng họ vua Đa-vít, sách Sử biên niên đã cho ta cái nhìn khá cụ thể về tổ tiên của dân Ít-ra-en, một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Hơn nữa, tác giả đã trình bày vua Ða-vít như hình ảnh vương quyền của Thiên Chúa; đền thờ Giê-ru-sa-lem như là dấu chỉ sự hiện diện và tình thương của Thiên Chúa, để từ đó nhắc nhở dân Ít-ra-en phải luôn thi hành thánh ý Thiên Chúa và nỗ lực sống tâm tình tạ ơn Thiên Chúa.

Có rất nhiều phương cách để ta tiếp xúc với Thiên Chúa, tạ ơn là một trong những con đường dẫn ta đến gặp gỡ và tương giao với Ngài. Bởi thế, từ thâm cung cõi lòng, vua Đa-vít đã cất lên những lời chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa: “Giờ đây, lạy Thiên Chúa chúng con thờ, xin dâng Ngài muôn câu cảm tạ và ca tụng Danh Thánh hiển vinh” (1Sb 29, 13).  Vua Đa-vít cũng nhận ra mình là người được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân. Từ một con người nhỏ bé, nhút nhát, Đa-vít đã được Thiên Chúa thương cất nhắc lên làm vua Ít-ra-en, được che chở và gìn giữ khi đối diện với quân thù. Hơn nữa, Thiên Chúa còn hứa ban cho vua Đa-vít một dòng dõi hùng cường và từ dòng dõi ấy sẽ xuất hiện Đấng Cứu Thế. Trước những ân sủng đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban, vua Đa-vít đã không tự mãn hay kiêu ngạo. Trái lại, vua Đa-vít đã khiêm tốn nhìn nhận mình là thân phận thấp hèn yếu đuối,“là khách ngoại kiều và khách trọ” (1Sb 29, 15). Hơn nữa, vua Đa-vít đã ý thức được mình không là gì nên từ sâu thẳm cõi lòng đã thốt lên rằng:“con là ai, và dân của con là gì, mà chúng con cả lòng tự ý dâng hiến như vậy” (1Sb 29, 14). Như vậy, khi đón nhận nhiều hồng ân như vậy, chúng ta phải hết lòng tạ ơn Thiên Chúa.

Theo lẽ thường, khi nhận từ ai một ân huệ nào đó, ta thường nói lời cảm ơn và tìm cách để đáp ơn. Nhưng đối với Thiên Chúa, ta lấy gì để đền đáp cho cân xứng? Không hẳn là hoàn trả ân huệ đã nhận hay dâng một điều gì đó để đền đáp, theo kiểu "hòn đất ném đi hòn chì ném lại". Nhưng đúng hơn, là nhìn nhận ơn Chúa ban và đón nhận ân sủng nhưng không của Ngài. Tạ ơn không khác gì nhìn nhận mình là người chịu ơn, là kẻ tuỳ thuộc vào Thiên Chúa. Tạ ơn có thể được gói ghém trong nhiều tâm thái khác nhau: rung cảm, vui mừng, kính phục hay biểu lộ ý thức của con người trước những kỳ công của Thiên Chúa. Nhưng phải tạ ơn như thế nào? Có nhiều hình thức tạ ơn khác nhau như: ca ngợi, tôn vinh, tuyên xưng, hay chúc tụng. Nhưng nếu tạ ơn gắn liền với tâm tình chúc tụng, ca ngợi, thì thật là bài ca tạ ơn tuyệt vời.  Vậy tạ ơn khi nào và đem lại lợi ích gì cho ta? Khởi đầu kinh Tiền Tụng trong thánh lễ, bao giờ chúng ta cũng nghe đọc: "Tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con". Chính đáng và phải đạo, vì chúng ta là con cái được Chúa Cha ban cho muôn vàn ân phúc, mà trên hết là ơn cứu độ. Vì thế, chúng ta càng tạ ơn thì càng được ơn cứu độ.

“Đời sống của chúng ta cũng là lời đáp cho khởi xướng đầy yêu thương của Chúa, đó là sự nhận biết, sự suy phục Thiên Chúa và thờ phượng tạ ơn” (GLHTCG, 2063). Dẫu biết là bất xứng nhưng sống tâm tình tạ ơn luôn là điều cần thiết đối với chúng ta. Bởi lẽ "tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa" (1Cr 15,10). Dĩ nhiên, chúng ta cần được người khác nhắc nhở về tinh thần cảm tạ và lòng biết ơn. Nhưng trên hết, tự bản thân chúng ta cần ý thức để sống tâm tình tạ ơn. Hơn nữa, tâm tình tạ ơn phải phát xuất từ đáy lòng, từ con tim, nếu không thì chỉ là động thái hời hợt bên ngoài.

Quả vậy, sống tâm tình tạ ơn không chỉ sinh nhiều ích lợi cho chúng ta, mà còn biểu lộ niềm tin sung mãn vào Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của mọi sự. Mong sao đời sống của chúng ta, từ những ý tưởng trong tâm trí, những lời nói trên môi miệng, đến những việc chúng ta làm, tất cả là một lời chúc tụng tạ ơn dâng lên Thiên Chúa, để làm vinh danh Ngài.

Antôn Trần Ngọc Tin, MF