Triết Học Là Yêu Mến Sự Khôn Ngoan

I. Dẫn nhập

Đã có rất nhiều định nghĩa về triết học như: “Triết học là tri thức về mọi sự thông qua những căn nguyên tối hậu của chúng, tri thức này được thủ đắc nhờ việc sử dụng lý trí”[1]. Hay theo Aristotle, “Triết học là là khoa học lý thuyết về các nguyên lý đệ nhất và các nguyên nhân đệ nhất”[2]. Mỗi định nghĩa được diễn tả cách khác nhau tuỳ thuộc vào nhãn quan của mỗi triết gia hay đối tượng mà họ đang nghiên cứu. Chúng ta khó lòng đưa ra một định nghĩa rõ ràng, súc tích, bao quát và chính xác hoàn toàn được. Nhưng định nghĩa “Triết học là yêu mến sự khôn ngoan” phần nào thể hiện được nguyên nghĩa của hạn từ “triết học” và giúp con người có cái nhìn khái quát nhất về triết học. Vậy định nghĩa này có nguồn gốc từ đâu? Khôn ngoan là gì? Và như thế nào là “yêu mến sự khôn ngoan”?

II. Nguồn gốc của thuật ngữ “triết học” đến từ đâu?

“Theo một truyền thống lên đến Eraclide Pontico, đồ đệ của Platone, và được trưng dẫn bởi Diogene Laerzio và bởi Cicerone, người đầu tiên sử dụng hạn từ “filosofia” có lẽ là Pitagoras để chỉ về những thần minh thông thái và về chính triết gia. Những người thuộc trường phái Pitagoras cũng bàn về filosofia theo nghĩa là sự khao khát biết về mọi sự, nhất là sự mở rộng tầm nhìn đến các tinh tú trong trật tự vũ trụ”[3].

Pitagoras là người người đã sáng tạo ra thuật ngữ này. Và ông đã không dám tự xưng là bậc khôn ngoan, nhà hiền triết. Theo ông, chỉ có một mình Thượng Đế mới đáng gọi là sophos, còn bản thân ông chỉ đáng là người bạn của khôn ngoan, người mộ mến sự khôn ngoan mà thôi. Về sau thuật ngữ này được dùng để chỉ chính sự khôn ngoan đó, mà người ta gọi là “triết học”. Theo nghĩa này, con người đi tìm sự khôn ngoan vì khôn ngoan (hay sự khôn ngoan tinh ròng), chứ không phải yêu mến sự khôn ngoan vì bất cứ lý do nào khác cả. Vậy sự khôn ngoan tinh ròng đó là gì?

III. Khôn ngoan là gì?

Theo xu hướng tự nhiên, con người luôn có lòng khao khát tri thức, hạnh phúc đích thực. Và muốn tìm kiếm hạnh phúc, con người luôn cần phải gắn chặt đời mình với khôn ngoan. Vậy khôn ngoan là gì? Nó có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống mỗi người?

Trong ngôn ngữ Hy lạp, chữ φιλοσοφία (philosophia, triết học) được kết hợp từ φίλος (philos, người yêu mến, bạn hữu) và σοφία (sophia, sự khôn ngoan/ hiểu biết). “Sophia có ba ý chi tiết có liên hệ với nhau: sự khéo tay; sự hiểu biết, nhận thức, tri thức; sự khôn ngoan thực tiễn.

Sophia bao gồm hai khía cạnh: khía cạnh tri thức (bởi thế tiếng Hi Lạp, sophos vừa có nghĩa là người khôn ngoan, vừa có nghĩa là người thông thái, nhà bác học) và khía cạnh thực tiễn, liên quan đến đời sống, cách xử sự, lối xử thế”[4].

1. Khôn ngoan tri thức

Sự khôn ngoan này cũng gọi là một sự vượt qua. “Vượt qua các hiện tượng để đi sâu vào bản tính sự vật. Vượt qua các sự kiện để truy tầm chính các căn nguyên. Vượt qua con người trình diễn để tìm hiểu con người chính tông. Vượt qua thực tại hữu hình để tìm vào thế giới vô hình. Vượt qua mọi giả dối và phức tạp để tìm cho ra sự thực sau cùng. Đi sâu vào sự hiểu biết như thế, đó là khôn ngoan”[5].

Mỗi hiện tượng trong thế giới này đều phát xuất từ nhiều nguyên nhân khác nhau và được mọi người xem xét theo nhiều chiều kích khác nhau tùy vào thái độ, sự hiểu biết của từng người. Do đó, việc đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng và cố gắng khám phá bản chất của nó là cách để nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo và sáng suốt. Và để có được sự minh triết trước các vấn đề của cuộc sống, con người cần biết lắng nghe, khiêm tốn trau dồi cho mình những kiến thức từ sách vở, các bậc tiền bối và biết học hỏi từ những người xung quanh, từ những điều bình dị, đơn giản trong cuộc sống hằng ngày.

2. Khôn ngoan thực tiễn

Người khôn ngoan thực tiễn là người sống “vượt trên đời và xa đời”. Vượt trên đời nghĩa là “vượt trên định luật vật chất, trên dư luận, trên sức thúc đẩy mù quáng của đam mê”. Xa đời là “không dính líu để có thể bình tâm xét đoán, không bị ràng buộc để có thể vô tư”[6]. Tóm lại, đó là một thái độ dè dặt nhưng sáng suốt, thận trọng nhưng bình thản. Để làm được điều này, cần phải nỗ lực thực hành không ngừng trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta cần “biết phán đoán một sự vật trong tình huống để rồi biết cách đối phó hoặc xử trí sao cho đạt kết quả tốt nhất. Ở mức độ này, khôn ngoan gần với lương tri (bon sens) mà mọi người bình thường đều có”[7]. Trong cuộc sống, con người có thể tìm được trăm ngàn cách để đạt được sự khôn ngoan. Và cũng có trăm ngàn thầy dạy có thể hướng dẫn con người truy tìm khôn ngoan. Nhưng “Không ai khôn ngoan thay người khác được. Muốn khôn thì chính mình phải học khôn”. Do đó, trước tiên, cần có sự nỗ lực, lòng quyết tâm can đảm và có một mục đích, phương pháp phù hợp mới có thể đạt được khôn ngoan.

Như vậy, có thể nói, khôn ngoan là sự kết hợp giữa tri thức, kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn. Kinh nghiệm đó được tích lũy qua quá trình thực hành. Chính vì thế, sự khôn ngoan phải đi từ khối óc (trí) đến đôi tay (hành). Và người khôn ngoan đích thực là người luôn tìm tòi, không bao giờ dừng lại, không bao giờ thỏa mãn với sự hiểu biết đã có của mình và luôn biết đón nhận chân lý một cách khiêm tốn và sáng suốt.

IV. Như thế nào là “yêu mến sự khôn ngoan”?

Người ta có thể truy tìm sự khôn ngoan mà không yêu mến nhưng không thể yêu mến sự khôn ngoan mà không truy tìm. Để yêu mến sự khôn ngoan, phải hiểu được nguồn suối phát sinh sự triết lý (sự khôn ngoan). Biết xác định cho mình nguồn suối tự nhiên ấy, con người sẽ hiểu thấu và yêu mến sự khôn ngoan.

1. Các nguồn suối phái sinh triết lý (sự khôn ngoan)

  • Sự ngạc nhiên

Thông thường, con người chỉ cảm thấy kinh ngạc trước những biến cố, sự việc xảy đến lần đầu tiên hay có một sự gì đó đặc biệt, khác thường. Theo thời gian, nếu một hành động hay sự việc xảy ra lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ trở nên bình thường hay nhàm chán. Hay có những điều ngay từ khi sinh ra, con người đã thấy như là một lẽ tự nhiên, theo định luật phải có như: việc có ngày đêm, việc mặt trời mọc, nắng mưa, gió bão... Thế nên, “Chúng ta đánh mất sự sửng sốt và kinh ngạc về một ngày mới. [...] Chúng ta không nhận biết rằng một ngày mới là một ân huệ quý giá, một ân huệ của đời sống vốn mang lại phúc lành cho chúng ta”[8]. Sự hời hợt, thoáng qua diễn tiến lâu ngày khiến con người mất đi sự kinh ngạc trước vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên và những quy luật mầu nhiệm của Đấng Tạo Hóa. Theo Plato, “nguồn suối phát sinh triết lý là biết ngạc nhiên”. Khi nhìn cảnh tượng huy hoàng của vũ trụ, tự nhiên, con người có ước muốn thám hiểm, khám phá nó không? ‘Aristotle cũng nói: “Chính sự ngạc nhiên thúc đẩy con người triết lý. Thoạt tiên, họ bỡ ngỡ trước những sự vật kỳ lạ họ bắt gặp, dần dà tiến xa hơn, họ đặt những câu hỏi về biến tượng của mặt trăng, về sự vận chuyển của mặt trời và các tinh tú, sau cùng về sự sinh thành của vũ trụ”’[9].

Ngạc nhiên là con đường đưa tới tri thức vì ngạc nhiên thúc đẩy con người đam mê khám phá. “Sự ngạc nhiên trước tiên mang hương vị của niềm vui tràn trề khao khát và kế tiếp mang lấy trong mình bóng tối huyền ảo của cái hư vô đang đến”[10]. Sự ngạc nhiên là động lực mạnh mẽ để con người khao khát khám phá những điều bình thường, đơn giản xảy đến xung quanh mình và đón nhận chúng như một đứa trẻ đón nhận món quà với niềm say mê bất tận.

  • Biết hoài nghi

Trong cuộc sống, có nhiều điều tưởng chừng như ta có thể thấu suốt, nắm rõ nhưng thực sự không có gì xác đáng cả. “Bởi chúng ta sinh ra như trẻ con và thường phê phán các sự vật nhờ giác quan trước khi ta sử dụng được lý trí, cho nên ta thường bị các định kiến làm ta xa cách sự thật của lý tính”[11]. Chúng ta thường bị giác quan lừa dối nhưng chúng ta lại thường tin vào giác quan mà thiếu đi sự suy xét của lý trí. Chúng ta thường tin vào những kinh nghiệm cố hữu đã được lập trình sẵn trong quá khứ hay những tri thức tưởng chừng rất chắc chắn của người xưa để lại. Càng sống lâu, chúng ta càng tin tưởng chắc chắn những kinh nghiệm đã trải qua mà quên đi việc hoài nghi. Cuộc sống luôn biến chuyển, thay đổi theo thời gian, điều có thể đúng hôm nay nhưng lại sai hoàn toàn vào ngày mai. Vì thế, hoài nghi sẽ giúp chúng ta bình tâm nhìn nhận lại vấn đề cách cẩn thận để suy xét kỹ lưỡng tất cả các khía cạnh của vấn đề.

“Muốn tìm kiếm sự khôn ngoan hay đạt tới triết lý, ta phải biết hoài nghi và phải hoài nghi đến cùng. Hoài nghi theo Descartes nghĩa là hoài nghi tất cả để phê bình lại, chớ không phải hoài nghi để phản đối và bỏ qua. Một tư tưởng được gọi là thật khi nó đã chịu đựng nổi sự thử thách của hoài nghi và toàn thắng”[12]. Tóm lại, hoài nghi có phương pháp sẽ giúp ta phát triển óc phê bình vì nếu không hoài nghi triệt để, ta không bao giờ có được triết lý thực thụ.

  • Giới hạn tất yếu

Cuộc sống này luôn có những giới hạn tất yếu. Chúng ta cảm thấy bất lực trước những quy luật tất định của kiếp người. Có những giới hạn chúng ta không thể vượt qua như: tôi không được tự mình chọn sinh ra trong một gia đình giàu có; tôi không tự định cho mình thời gian sống ở đời này; tôi không thể tự né tránh những bất trắc, tai nạn, rủi ro xảy đến trong đời thường... Chính những hoàn cảnh về sự giới hạn tất yếu này sẽ giúp chúng ta ý thức hơn về triết lý. Đó là những câu hỏi phát xuất từ thẳm sâu trong lòng mỗi người.

Qua mỗi giai đoạn của cuộc đời, con người sẽ có những câu trả lời khác nhau cho những câu hỏi khôn cùng về mục đích hay sự hiện hữu của mình. Đối diện với những biến cố, những khoảnh khắc khủng hoảng về đời mình, con người luôn tự vấn lương tâm mình về những gì xảy đến với họ để xác định cho mình một lý tưởng, mục đích. Chính sự lung lạc, lo âu, sợ hãi khi đối diện với những thử thách, những điều lớn lao sẽ khiến con người biết tự tìm câu trả lời cho vấn đề họ đang tìm kiếm.

2. Yêu mến sự khôn ngoan.

Truy tìm sự khôn ngoan mà không yêu mến là đang lạc đường. Yêu mến sự khôn ngoan mà không truy tìm là yêu mến giả dối. Vì thế, yêu mến là điều kiện tiên quyết để giúp tìm kiếm được sự khôn ngoan đích thực (tinh ròng). Vậy như thế nào là yêu mến?

Trong tác phẩm siêu hình học của Aristotle, ông phát biểu rằng: “Mọi người tự bản chất đều muốn hiểu biết”. “Theo ông, ước muốn bẩm sinh này không chỉ là ước muốn hiểu biết để làm một cái gì. Ngoài những động cơ thực dụng này, ở con người ta con có một ước muốn hiểu biết những loại sự vật chỉ vì sự hiểu biết thuần túy mà thôi”[13]. Có thể nói, ước muốn hiểu biết này chính là lòng yêu mến, sự khát khao nơi thẳm sâu mỗi con người.

“Yêu mến tự nó đã là một ý hướng. Yêu mến là nghiêng chiều, là hướng về sự khôn ngoan. Ý hướng đó không phải là những chữ nằm chết trên sách vở nhưng phải sống động trong người triết. Người triết phải thực sự có ý hướng đó trong tâm hồn. Có yêu mến người ta mới hứng thú đi tìm. Có tha thiết, người ta mới dễ vượt qua được những trở ngại khó khăn trên đường dẫn tới khôn ngoan”[14]. Sự khao khát, lòng yêu mến ấy thúc đẩy con người tìm kiếm cho mình một phương pháp phù hợp. Vì như Descartes đã nói: “Phương pháp cần thiết cho việc tìm kiếm chân lý, và thà chẳng bao giờ đi tìm chân lý về cái gì cả còn hơn tìm kiếm mà không có phương pháp”[15]. “Phương pháp là điều rất quan trọng. Nếu chính xác, có thể tiết kiệm sức lực và thời giờ mà đưa đến mục đích một cách chắc chắn. Nếu sai lầm, có thể phí mất công phu mà không đưa đến mục đích”[16].

Yêu mến là động lực để con người tìm kiếm sự khôn ngoan. Yêu mến cũng là ánh sáng dẫn đưa con người bước vào con đường của sự khôn ngoan. Nhưng có nhiều lúc con người tìm kiếm sự khôn ngoan mà không ý thức vì lòng khao khát, yêu mến nảy sinh trong lòng họ một cách tự nhiên mà không hề hay biết. Trong mỗi người luôn có hai mặt đối chọi nhau: lòng khao khát, ý chí mạnh mẽ muốn vươn lên và một thể xác nặng nề kìm nén, lôi kéo con người đi xuống. Như C. S. Lewis nói rằng: “Chúng ta là những tạo vật “lưỡng cư” tinh thần. Chúng ta cư ngụ trong hai thế giới khác biệt (mặc dù chúng chồng chéo lên nhau). Chúng ta là những tạo vật có thể xác, chân của chúng ta bám chặt vào đất, nhưng chúng ta cũng là những tạo vật tinh thần những người khao khát nhảy lên Thiên đàng”[17]. Chính vì thế, con người luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, tìm kiếm những giá trị đích thực hay truy tìm chân lý. Và trong đời sống thường ngày, con người vẫn sử dụng những khái niệm cơ bản như: “tự do”, “hạnh phúc” hay “sự sống”... Khi họ trao đổi, tranh luận để tìm cho mình một câu trả lời nhất định nào đó, ánh sáng của sự yêu mến đang dần soi sáng và hướng dẫn họ tìm đến con đường của sự khôn ngoan.

V. Tạm kết

“Triết học do con người, của con người và về con người mà con người không ai giống ai nên sẽ có có nhiều định nghĩa triết học khác nhau”[18]. Thế nên, người ta đưa ra nhiều định nghĩa về triết học và chẳng có mấy khi có hai triết gia cùng đồng ý với nhau về một định nghĩa. Vì thế, qua suốt thời gian dài của lịch sử tư tưởng nhân loại, thuật ngữ triết học được hiểu theo nhiều phương diện và mang nhiều sắc thái, ý nghĩa khác nhau. Mỗi triết gia chỉ sống trong một giai đoạn nhất định của cuộc đời nhưng con đường triết học thì dài vô tận nên những định nghĩa về triết học của họ cũng có những giới hạn nhất định. Thế nên, qua định nghĩa: “Triết học là yêu mến sự khôn ngoan”, ý nghĩa nguyên thủy của thuật ngữ này vẫn còn giữ được sự nguyên vẹn của nó và được rất nhiều triết gia cũng như mọi người chấp nhận.

Giuse Nguyễn Văn Đông, MF

 

 

[1] M. ARTIGAS, Nhập môn triết học, dịch giả Đỗ Bảo Ngọc, Nhà XB (không), Năm XB (không), tr 11.

[2] NGUYỄN HỒNG GIÁO, Triết học nhập môn, lưu hành nội bộ, 2003, tr 23.

[3] NGUYỄN NGỌC HẢI, Tại sao phải học triết học?, lưu hành nội bộ, 2015, tr 40.

[4] NGUYỄN HỒNG GIÁO, Triết học nhập môn, lưu hành nội bộ, 2003, tr 22.

[5] BÙI TUẦN, Triết học và học triết, lưu hành nội bộ, 1988, tr 40.

[6] BÙI TUẦN, Triết học và học triết, lưu hành nội bộ, 1988, tr 39.

[7] NGUYỄN HỒNG GIÁO, Triết học nhập môn, lưu hành nội bộ, 2003, tr 25.

[8] MICHAEL D. MOGA, Những câu hỏi khôn cùng, dịch giả Lê Đình Trị, Phương Đông, Tp. HCM, tr 42.

[9] K. JASPERS, Triết học nhập môn, Trung Tâm Học Liệu, Sài Gòn, 1969, tr 12.

[10] NGUYỄN NGỌC HẢI, Tại sao phải học triết học?, lưu hành nội bộ, 2015, tr 73.

[11] LƯU HỒNG KHANH, Triết học nhập môn – triết học Đông Phương, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2005, tr 49.

[12] THU GIANG, NGUYỄN DUY CẦN, Thuật tư tưởng¸ Đồng Tháp, Sài Gòn, 1995, tr 197.

[13] S. E. STUMPF, Lịch sử triết học và các luận đề, dịch giả Đỗ Văn Thuấn – Lưu Văn Hy, Lao Động, Hà Nội, 2007.

[14] BÙI TUẦN, Triết học và học triết, lưu hành nội bộ, 1988, tr 37.

[15] NGUYỄN HỒNG GIÁO, Triết học nhập môn, lưu hành nội bộ, 2003, tr 50.

[16] BỬU DƯỠNG, Triết-Học-Quan, Văn Đàn, Sài Gòn, 1968, tr 100.

[17] KERRY WALTERS, Tìm kiếm niềm vui trọn hảo với Thánh Phanxicô Assisi, dịch giả Lê Đình Trị, Hồng Đức, Tp. HCM, 2015, tr 22.

[18] BÙI TUẦN, Triết học và học triết, lưu hành nội bộ, 1988, tr 34.