Từng Bước, Từng Ngày Trong Ánh Sáng Hy Vọng - 20

Từng ngày...

Lão Tử còn gọi là Lý Nhĩ, tự là Đam. Ông từng đảm nhận chức Tàng Thất Sử thời nhà Chu, tương đương với thủ thư của thư viện quốc gia. Tương truyền ông đã cưỡi trâu xanh ra khỏi Hàm Cốc quan và để lại cho người đời sau cuốn “Đạo đức Kinh”. Cuốn sách này với 5.000 chữ, được chia thành 81 chương.

Chính vì sự đơn giản, mộc mạc này mà cuốn “Đạo Đức Kinh” lại có thể bao hàm những đạo lý vô cùng thâm sâu, bàn luận từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, trên đến trời đất, vũ trụ, dưới đến những chuyện vụn vặt trong cuộc sống.

Dẫu biết rõ bản thân chiếm ưu thế cũng không giành giật với người. Dẫu biết rõ có thể chiếm lợi nhưng không chiếm giữ, làm tổn hại người khác. Bởi lẽ kẻ chỉ muốn chiếm lợi thì sẽ phải chịu thiệt lớn. Tư tâm, tạp niệm quá nhiều sẽ khiến lòng dạ người ấy trở nên hẹp hòi và bị dục vọng cá nhân mình xỏ mũi dắt đi.

Ngược lại, người rộng rãi, khoáng đạt, thâm sâu và bao la như thung lũng thì tâm ắt rộng lớn, tự do tự tại. Họ có thể chứa cả thiên hạ và vũ trụ vào trong tâm mình. Do đó, sự yếu nhược ngược lại lại có thể thắng sự cương cường. Lão Tử cho rằng “thượng thiện nhược thủy”, người thiện vào bậc cao (có đức cao) thì như nước. Nước có thể chảy xuyên qua những tảng đá kiên cố nhất trong thung lũng, không chỗ nào nước không thể đến, chảy xuyên qua và thẩm thấu như ý mình muốn.

Dẫu biết rõ bản thân mình có thể sải cánh tung bay giữa vũ trụ mênh mông nhưng ông vẫn sống những tháng ngày rất giản dị: “Tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc” (Bản thân biết rõ đen trắng, đúng sai nhưng vẫn giả như ngây ngô), “Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư” (Biết mình chiếm ưu thế mà vẫn giữ mình ở thế yếu).

Không tranh chính là một trong những trí huệ quan trọng nhất trong kiếp nhân sinh. Điều này cũng giống như trong cuộc chạy đua việt dã, nếu một người muốn giành được vị trí tốt thì ắt sẽ phải coi những người khác như đối thủ cạnh tranh của mình, sống vậy chẳng phải rất mệt mỏi hay sao? Nếu coi cuộc đời con người như một hành trình đằng đẵng không có mục tiêu định trước, mọi người xung quanh đều là góp phần tạo nên phong cảnh đa dạng tứ bề, há chẳng tốt hơn sao?

Trong ánh sáng hy vọng...

 ... ”Đức GIÊSU KITÔ vốn dĩ là THIÊN CHÚA mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với THIÊN CHÚA, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Tự. Chính vì thế THIÊN CHÚA đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe nghe danh thánh GIÊSU, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh THIÊN CHÚA Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CHÚA”  (x. Pl 2, 6-11).

Trong một ý nghĩa sâu xa hơn, bài thánh thi này từ thư gửi Tín hữu Philipphê của thánh Phaolô cũng khiến cho chúng ta nghĩ tới vị trí của con người trong tương quan với Thiên Chúa. Thật vậy, hình ảnh Đức Kitô trong đoạn thư như diễn tả điều kiện của nhân loại đã bị tội lỗi hạ xuống thấp mà chỉ có sự nhập thể của Con Một Thiên Chúa mới có thể nâng nhân loại lên được mà thôi. Chính Chúa Kitô đã nhận lấy chỗ rốt hết trong trần gian là máng cỏ, thập giá và nhà tạm để cứu lấy con người và ở lại với họ. Chính sự khiêm hạ triệt để đó đã cứu chuộc chúng ta và liên tục trợ giúp chúng ta.

Đức Giêsu đã lấy sứ mạng của người tôi tớ làm sứ mạng của mình. Ngài hiền lành và khiêm nhường trong lòng (x. Mt 11,29), loan báo ơn cứu độ cho người nghèo (x. Lc 4,18), là người phục vụ (x. Lc 22,27), hiến dâng mạnh sống làm giá chuộc cho muôn dân (x. Mc 10,43; Mt 20,26), bị đối xử như một tên tội phạm (x. Lc 22,37), chết trên thập giá (x. Mc 14,24; Mt 26,28), sống lại như lời Kinh Thánh đã nói (x. Mc 8,31; 9,31; Lc 18,31; 24,44. Is 53,10). Bên cạnh đó, danh hiệu “tôi tớ” được các tông đồ áp dụng để loan báo về sự chết của Chúa Giêsu (x. Cv 3,13;4,27), là ánh sáng cho muôn dân (x. Cv 3,25; 26,23), là Con Chiên bị sát tế cách bất công như người tôi tớ (x. Cv 8,32), các vết thương của Ngài đã được chữa lành linh hồn tội nhân (x. 1Pr 2,21-25). Theo Mátthêu, Đức Giêsu là Người Tôi Tớ rao giảng sự công chính cho chư dân và tên Người là niềm hy vọng của họ (x. Mt 12,18-21; Is 42, 1-4).

Đức Giêsu khiêm hạ, vâng phục Thánh ý Chúa Cha, Người mặc lấy nơi mình sự cô đơn, đau khổ trọn vẹn của con người để cứu lấy con người và phục hồi sự sống, tước bỏ quyền lực của tử thần và âm phủ trên con người. Vực sâu tỗi lỗi và các điều xấu xa trong mọi phương diện của con người đã thâm nhập vào tận đáy tâm hồn Ngài, Người hoảng sợ nhưng vẫn khiêm nhường vâng theo ý Chúa Cha để đem lại cho nhân loại ơn hoán cải và sự sống vĩnh cữu. Chúa Giêsu bị khủng hoảng trước cái chết gần kề, bị kẻ phản bội hôn lên mặt làm dấu hiệu bán đứng Người,  bị các môn đệ bỏ rơi. 

Do sự khiêm hạ, Người cảm nghiệm được sự đau khổ, nên đã chạnh lòng thương đám đông lầm than vất vưởng (x. Mt 9,36), xúc động trước những người đau khổ (x. Mt 20,34; Lc 7,13). Tinh thần tự hủy, trở nên xác phàm như mọi phàm nhân, Người nhạy cảm trước nỗi khổ của người khác, một sự nhạy cảm chỉ có nơi những người đã từng có kinh nghiệm về sự đau khổ. Chúa Giêsu gặp những đau khổ do người khác gây ra cho Người, người ta nghĩ là Người mất trí (x. Mc 3,21). Các Kinh sư nói Người bị quỷ ám (x. Mc 3,22). Các thượng tế và biệt phái cho Người là tên bịp bợm (x. Mt 27,63), trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tin vào Người (x. Ga 9,22), tìm cách gài bẫy Người (x. Mc 10,2; 12,13-23). Nhiều lần họ còn toan bắt và định giết Người. 

Chỉ vì quá yêu nhân loại tội lỗi mà Chúa Giêsu đã hủy mình ra không, xuống thế làm người, Giáng Sinh vào giữa đêm Đông lạnh ngoài cánh đồng, trong hang bò lừa, nôi nằm là cái máng cỏ của chúng. Cả cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là tuyệt đối không cửa không nhà, cũng không cầm nắm chút chi bạc tiền lợi lộc danh vọng thế trần: mà chỉ có để ban phát tình yêu thương và sự cứu độ. 

Bước đi trong ánh sáng hy vọng...

Chúa Kitô như mẫu gương của sự khiêm nhường và nhưng không: từ Người chúng ta học được sự kiên nhẫn trong các thử thách, sự hiền dịu trong các xúc phạm, sự vâng phục Thiên Chúa trong khổ đau, trong khi chờ đợi Đấng đã mời gọi chúng ta nói với chúng ta: "Này bạn, xin mời bạn lên trên" (x Lc 14,10).

Con đường khiêm hạ là con đường của Tình Yêu. Con đường khiêm hạ là con đường nhập thể của Đức Kitô, Đấng đã xuống tới mức tột cùng của thân phận làm người khi sống cuộc đời của mình trong nghèo hèn, khiêm hạ, bị khinh miệt, chống báng và loại trừ, bị coi là điên dại và bị quỉ ám, bị bắt bớ, sỉ nhục, đóng đinh cho đến chết ...

Lạy Chúa, Chúa đã hạ mình xuống vì lòng tha thiết yêu thương con người. Chúa hạ mình xuống để say mê, để cảm phục, để đi theo, để bám lấy và để dâng hiến tất cả đời mình cho một tình yêu.  Con không thể hạ mình như Chúa nếu chưa biết yêu như Chúa yêu.  Xin bàn thêm cho con lòng tin và tình yêu mến để con biết sống khiêm hạ.  Tình yêu của Chúa chính là sức mạnh biến đổi của tâm hồn, mang lại sự sống mới lạ lùng cho con.  Bài học khiêm hạ của Chúa làm tan biến cao vọng và lối sống kiêu hãnh, để con có thể xuống thật thấp, thật gần, thật sâu sát với mọi người.  Xin Chúa làm cho con đường khiêm hạ mở ra qua biến cố Nhập thể để con biết được là Tình Yêu đã đến, đã thấm nhập, đã biến đổi tận tâm can con.

Linh mục F.x Bửu Minh