Vấn Đề Tâm Lý Trong Việc Quản Trị Mục Vụ

 

Có thể nói, càng ngày người ta càng nhận ra vai trò quan trọng và cả tầm ảnh hưởng rộng lớn của kinh tế trong mọi lãnh vực đời sống. Mỗi năm, nhìn vào chỉ tiêu tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế, người ta có thể nhận ra một nhu cầu đào tạo rất lớn cho các ngành kinh tế và trên thực tế, con số sinh viên nộp đơn dự thi vào trường này hay những ngành có liên quan đến kinh tế hơn hẳn con số thí sinh tại các trường và ngành khác. Có lẽ, một cách chủ quan, nhiều người cho rằng học kinh tế dễ kiếm tiền và có cơ hội trở thành nhà lãnh đạo! Chúng ta không dám quả quyết điều này, nhưng sự kiện đó cho thấy tầm ảnh hưởng của kinh tế tác động trên bề nổi của cuộc sống và theo diện rộng. Vì thế, vô hình trung, người ta cũng thu hẹp tầm nhìn, vai trò, phẩm chất của một người lãnh đạo xung quanh trục kinh tế này. Nói khác đi, có nhiều lãnh vực quản trị nhưng người ta chỉ nhìn thấy quản trị kinh tế như yếu tố quyết định then chốt!

Cũng một cách như thế, đôi khi chúng ta dễ bắt gặp hình ảnh một nhà quản trị mục vụ bị giới hạn và cứ mãi loay hoay với những đề tài về kinh tế. Chính vì thế thiết nghĩ, điều nên làm trước khi bước vào phân tích những yếu tố, cấu trúc, phẩm chất phù hợp và cần thiết của một nhà lãnh đạo mục vụ là cần phân biệt rõ ràng giữa vị thế của một người lãnh đạo ngoài xã hội theo chức vụ với ơn gọi của một người mục tử thực thi ba sứ vụ được trao phó là tư tế, ngôn sứ và vương đế. Vậy nên, trong phần bài viết dưới đây, người viết sẽ bắt đầu bằng việc đưa ra một cái nhìn chung về người lãnh đạo mục vụ với tư cách là một linh mục quản trị một giáo xứ. Sau đó, dựa trên những suy tư và kinh nghiệm bản thân qua một năm thực tập và những gì đã học hỏi được trong giảng khoá, người viết sẽ phân tích một vài yếu tố, cấu trúc và phẩm chất phù hợp và cần thiết cho người lãnh đạo mục vụ này.

1. Nhìn chung về người lãnh đạo mục vụ – một linh mục quản xứ

Trước khi đi vào lãnh vực cụ thể là công tác mục vụ, ta nên biết qua bản chất của việc lãnh đạo cộng đồng. Quả thế, việc lãnh đạo công đồng được xem là việc lãnh đạo sự phát triển con người chứ không phải là sự việc. Thế nên, yếu tố ý thức về con người phải được đặt lên hàng đầu để thấy rằng chủ thể và đối tượng trong tương quan lãnh đạo này là những con người. Bởi đó, tác động của sự lãnh đạo không gì hơn là việc nối kết những con người khác biệt đó lại với nhau.

Bước sang lãnh vực mục vụ, công việc lãnh đạo, một khi được đặt trong bối cảnh này thì không chỉ là hoạt động của hàng giáo sĩ (giám mục, linh mục, phó tế) mà của cả cộng đồng Dân Chúa. Công việc ấy được thực hiện nhân danh Thiên Chúa thông qua sự hợp tác giữa hàng giáo dân và giáo sĩ mà thực hiện những hoạt động mục vụ.

Tuy nhiên, xét theo nghĩa chặt, căn tính và vai trò của một linh mục khác với anh chị em giáo dân. Như giáo dân, người linh mục cũng được mời gọi làm môn đệ của Đức Kitô. Nhưng khác với giáo dân, người linh mục được Giáo hội uỷ thác vai trò lãnh đạo cộng đồng tín hữu. Đây là điều thường thấy nơi các giáo xứ khi cha xứ dưới sự bổ nhiệm của Giám mục giáo phận có trách nhiệm quản trị một giáo xứ. Như thế, mọi mặt trong sinh hoạt giáo xứ từ đối nội đến đối ngoại, từ những nhu cầu thế gian đến nhu cầu tâm linh... đều chịu sự lãnh đạo của cha xứ là người có quyền cao nhất tại đây thay mặt Giám mục giáo phận.

Vậy ta có thể nói gì về người linh mục trong vai trò là người lãnh đạo mục vụ? Chắc chắn, họ phải là nhân tố nối kết các thành viên trong gia đình giáo xứ theo một lý tưởng duy nhất là Đức Kitô. Như đã nói, đang khi bị chi phối bởi rất nhiều hoạt động khác nhau trong một giáo xứ, người linh mục cần biện phân giữa phương tiện và mục đích trong công tác lãnh đạo của mình. Mục tiêu tối hậu là việc đưa đoàn người lữ hành tiến bước về nhà Cha dưới sự dẫn dắt của người đại diện Đức Kitô là linh mục. Còn phương tiện phục vụ cho mục đích ấy cũng vì thế mà phải thích hợp. Chẳng hạn, việc chăm lo đời sống tâm linh cho anh chị em giáo dân thì cần thiết và đúng mục đích hơn là việc xây cất nhà cửa và cơ sở vật chất, nhất là ở những giáo xứ đã tương đối khang trang. Đang khi đó, có thể xem vấn đề kiến thiết cơ sở vật chất như phương tiện hướng đến việc tổ chức đời sống giáo xứ tốt hơn cho việc thờ phượng Thiên Chúa và sinh hoạt trong xứ ở những nơi còn quá nghèo nàn và lạc hậu.

Tóm lại, ta có thể đọc ra một vài yếu tố, cấu trúc và phẩm chất mà một linh mục quản xứ giữ vai trò quản trị mục vụ cần có là: (1) Trở nên người thân cận và đồng cảm với những người mình có trách nhiệm. (2) Giữ vai trò nhân tố liên kết và hợp nhất. (3) Thực thi trong xây dựng niềm xác tín và bình an.

2. Yếu tố con người và sự đồng cảm

Trong nghệ thuật lãnh đạo, người ta đề cập đến nhiều yếu tố cần có nơi một nhà lãnh đạo như: sự nhạy cảm, thoải mái, cảm thông, bao dung, hoà nhã, trung tín, chân thành, tri thức, biết uỷ quyền và giao trách nhiệm, quản lý nguồn nhân lực... Trong đó, điều đáng lưu ý mà một nhà lãnh đạo tinh tế cần nhận ra là chức vụ chỉ đưa đến sự chấp nhận còn uy tín đem người khác lại gần mình.

Rõ ràng, trong vai trò lãnh đạo một giáo xứ, vị linh mục phải đối diện với rất nhiều mối tương quan mang tính tôn giáo. Bởi lẽ, căn tính của một linh mục không cho phép ông xử sự như những người lãnh đạo ngoài xã hội. Người linh mục không thể lấy yếu tố hiệu năng, công việc hay danh tiếng làm lực đẩy và là sự đòi hỏi cho công tác quản trị của mình. Vì lẽ hiện diện trước mặt ông và trong các mối tương quan của ông là những con người. Ông được mời gọi xây dựng với họ mối tương quan trong Thiên Chúa. Nói khác đi, ông đồng thời được mời gọi trở nên người thân cận cho anh chị em của mình cũng như học cách đối xử với người khác như người thân cận của mình.

Một cám dỗ rất lớn đối với bất lỳ nhà lãnh đạo nào là phải đạt được hiệu quả trong công việc quản trị. Dường như cũng nằm trong quy luật đó, nhiều linh mục đánh mất yếu tố con người trong việc quản trị của mình. Quả thật, thay vì quản lý nguồn tài nguyên con người, ông lại giảm thiểu và giản lược nguồn tài nguyên ấy chỉ còn là chức vụ và công việc! Ở nhiều giáo xứ “toàn tòng”, người ta có thể cảm nhận ngay được một khuôn phép tổ chức nề nếp theo các giáo khu, trong các đoàn thể và với từng chức vụ. Tuy nhiên, cũng chính ở những nơi ấy, người ta cũng dễ nhìn thấy hình ảnh của một “pháo đài” khép kín trong các hình thức tôn giáo, trong sự phòng thủ và “khử trừ” mọi sự xâm nhập từ bên ngoài vào. Đã có những người khác tôn giáo cảm thấy rất khó sống trong một khu vực toàn dân Công giáo nếu như họ vô tình định cư ở đấy. Rõ ràng, đó là một nghịch lý, bởi thay vì cảm nhận được tình Chúa qua tình người thì họ chỉ nhận thấy sự khép kín và loại trừ. Như vậy, một cách nào đó, có thể nói đây là hậu quả của một lối quản trị cơ cấu, chức năng và hiệu quả để rồi đánh mất đi “hồn sống” mang tính tôn giáo và tâm linh.

Nói cách khác, khi nhìn nhận yếu tố con người như điều cần lưu tâm trong việc quản trị, người linh mục cũng thấy mình cần trở nên người thân cận với anh chị em giáo dân và không cho phép mình còn đứng bên ngoài cuộc đời họ để điều khiển, lãnh đạo, ra lệnh, xếp đặt nữa... nhưng là cùng đồng hành, chia sẻ và đồng cảm với họ trong thân phận chung của phận người. Thiết nghĩ, đây không hẳn là điều “không tưởng” trong nghệ thuật lãnh đạo, trái lại, càng ngày người ta càng nhận ra rằng thành công trong việc quản trị đặt nền tảng trên thành công trong tương quan người-người. Bởi thế, điều này lại là một đòi hỏi mạnh mẽ hơn cả trong ơn gọi của một linh mục quản trị giáo xứ. Chắc chắn rằng, khi ý thức mình cũng chỉ là người làm công trong ‘vườn nho’ là Giáo hội của Chúa, người linh mục không thể tự đặt cho mình vị trí cao hơn người khác vì không ai có quyền tự phong cho mình là mục tử! Nhưng trái lại, khi được kêu gọi trở thành mục tử, người linh được mời gọi phục vụ và hiệp nhất với anh chị em mình.

Chúng ta hy vọng và cầu nguyện biết bao cho những linh mục chưa ý thức đủ về yếu tố đồng cảm này trong ơn gọi của mình. Vẫn còn đó những linh mục lấy quyền mục tử mà trấn áp và loại trừ anh chị em giáo dân. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội nhiều biến động và ngày càng phân hoá sâu sắc như ở Việt Nam hôm nay, chúng ta cần biết bao những linh mục “đứng mũi chịu sào” và đồng cảm bước đi trên cùng một con đường như anh chị em giáo dân của mình. Bởi lẽ, họ được chính Đức Kitô mời gọi là kẻ vực dậy các tâm hồn, là đầu tàu cho đoàn tàu và là kẻ chia sẻ cùng một thân phận làm người như tất cả mọi người, để qua họ, Giáo hội được liên kết và hiệp nhất trong cùng một Thân Thể.

3. Nhân tố liên kết và hợp nhất

Người ta vẫn nói: người lãnh đạo là người không làm gì cả nhưng lại làm tất cả. Từ kinh nghiệm trong cộng đoàn, ta có thể nhận ra một nét rất đặc thù nơi người làm bề trên hay người có trách nhiệm quản trị cộng đoàn đó là sự liên kết các thành viên và làm cho cộng đoàn ấy tâm đầu ý hợp. Cũng thế, có lẽ một giáo xứ được phát triển không hẳn do có người lãnh đạo tài ba cho bằng người lãnh đạo ấy biết nối kết và khơi nguồn cho việc phát triển tài năng nơi các thành viên trong giáo xứ.

Tôi đã rất tâm đắc với suy nghĩ của một cha xứ nọ khi ông nói về công tác điều hành giáo xứ của mình. Theo ông, nếu biết rằng chính Chúa Thánh Thần mới là nhân vật chính trong mọi sinh hoạt của giáo xứ thì không có lý do gì người linh mục lại giữ cho mình ‘vai trò ngôi sao’ trên sân khấu. Thay vào đó, mọi người, bao gồm cả cha xứ, cùng giúp nhau hoàn thành tốt vai trò được giao của mình, đồng thời giúp cả những ai chưa biết phải đảm nhận vai trò nào tìm thấy niềm an vui đáp lời đảm nhận một vị trí thích hợp cho riêng họ.

Tôi vẫn có cảm tưởng rằng, nhiều cha xứ vẫn giữ cho mình vị trí trung tâm trong công tác điều hành để rồi bảo thủ và đôi khi độc đoán trong những quyết định. Hẳn rằng, xã hội hôm nay có cái nhìn dân chủ hơn trong tất cả mọi công tác quản trị. Vì lẽ đó, quản trị với mô hình mũi tên mà người lãnh đạo ở vị trí đầu mũi phần nào sẽ kém hiệu quả hơn mô hình vòng tròn bắt tay nhau, trong đó người lãnh đạo tuy cũng chỉ là một móc xích như bao móc xích khác trong vòng tròn nhưng lại giữ vai trò là nguồn khích động và nối kết cả vòng tròn lại với nhau.

Càng ngày người ta càng nhận thấy cần phải có nhiều hơn các người cố vấn cho một vị trí lãnh đạo nào đó. Vấn đề phát sinh ở chỗ xã hội ngày càng được chuyên môn hoá cao độ cũng như từ đó đòi hỏi nhiều kỹ năng để giải quyết các vấn đề nảy sinh không ngừng mỗi ngày. Thế nên, không một linh mục quản xứ nào được đào tạo để có thể phù hợp và đủ năng lực đáp ứng tất cả những đòi hỏi trên! Bởi thế, điều này đồng nghĩa rằng họ cần sự cộng tác của nhiều người, cũng như chính họ cần trở nên nhân tố của sự liên kết và hợp nhất. Hơn thế, trên phương diện đời sống tôn giáo, sự liên kết và hợp nhất diễn tả điều sâu xa bên trong và cũng là dấu chứng của niềm tin cho một thực tại đang tới và vẫn đang hiển hiện là Nước Trời.

Nhìn một cách bao quát có thể nói, Giáo hội Việt Nam cần tạo cho được những mạng lưới cấu trúc liên kết và hợp nhất khởi đi từ những tổ chức và các vị mục tử lãnh đạo hàng đầu như Hội đồng Giám mục Việt Nam, các Giám mục giáo phận rồi đến linh mục đoàn các giáo phận và linh mục quản nhiệm các giáo xứ... Sự hợp nhất và liên kết ở hàng lãnh đạo này là nguồn sức mạnh tạo nên tiếng nói thống nhất để truyền thông, loan báo, kêu gọi, hỗ trở và bênh vực những anh chị em giáo dân cũng như khẳng định quyền có tiếng nói trong những vấn đề bác ái, xã hội, công lý và hoà bình. Một khi sức mạnh liên kết và hợp nhất nơi các vị lãnh đạo lại được sự tham gia đồng tình và nhiệt tâm dấn thân nơi hết thảy mọi người giáo dân thì có thể nói sức mạnh thiêng liêng mà Đức Kitô vẫn khẳng định khi Người xây dựng Giáo hội trên đá tảng là thánh Phêrô sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ có thể xoay chuyển và làm biến đổi mọi tình thế. Nói khác đi, khi các vị lãnh đạo không còn ‘manh mún lo toan’ cho những vinh quang riêng tư của chính mình thì khi đó họ nhận thấy sức mạnh của sự liên kết và tính hiệp nhất trong cộng đoàn lớn lao như thế nào!

Chúng ta hy vọng và cầu nguyện nhiều để sự liên kết và hợp nhất này được nhân rộng và áp dụng nơi các giáo xứ để đời sống giáo xứ không phải là một thứ ‘tổ chức quan triều’ mà cha xứ là ‘ông vua’ quyết định tối cao cách độc lập. Trái lại, tình liên đới, sự cộng tác, tinh thần trách nhiệm, tình bác ái, huynh đệ, những giá trị Tin mừng về một cộng đoàn hiệp nhất yêu thương... sẽ được tỏ hiện nơi sinh hoạt giáo xứ, mà trong đó vị mục tử là người linh mục mang lấy hình ảnh Chúa Kitô như chiếc cầu nối, nguồn cỗ vũ và duy trì  để sự  liên kết và hợp nhất ấy diễn ra cách hiện thực trong mọi mặt đời sống giáo xứ.

4. Thực thi trong xây dựng niềm xác tín và bình an nội tâm

Có lẽ ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, con người cần cho mình niềm xác tín và bình an nội tâm. Điều này lại càng đúng hơn nữa với những ai là Kitô hữu. Bởi lẽ, một mặt, trước những biến động của thiên nhiên và xã hội, con người chợt thấy mọi sự ra như vô thường. Mặt khác, nhìn vào thân phận hữu hạn, người ta lại càng thấy hoang mang hơn nữa vì dường như sau tất cả những gì mà con người dám hãnh diện và bám víu, họ không thể giữ lại cho mình một điều gì ngoài thực tế là cái chết sẽ lấy đi tất cả. Chính vì thế, niềm tin tôn giáo đôi khi cũng khởi đi từ những cảm nghiệm cuộc sống, những nhận thức đơn sơ và khát vọng sâu thẳm nơi mỗi người.

Hẳn là mỗi Kitô hữu khi hiện diện nơi nhà thờ, khi sinh hoạt hay phục vụ trong cộng đoàn giáo xứ, họ luôn xác tín về sự hiện diện đích thật của Thiên Chúa trong cuộc đời họ. Hơn thế, sự hiện diện ấy còn được cụ thể hoá nơi bầu khí của giáo xứ, các sinh hoạt và nhất là nơi vị lãnh đạo giáo xứ. Rõ ràng, trong tư cách người quản trị cộng đoàn, vị linh mục quản xứ là dấu chỉ của sự qui tụ, hợp nhất và niềm tin trong cộng đoàn. Không ít anh chị em tín hữu thấy rằng họ cần được chia sẻ sự xác tín và bình an nội tâm nơi vị lãnh đạo của họ. Quả thế, người ta có thể tìm thấy nhiều đáp ứng khác nhau nơi môi trường xã hội: có những nơi để giải trí, vui chơi, sinh hoạt; có những nơi để học tập, lao động, kiếm tiền; có những nơi để trao đồi, gặp gỡ, đàm luận… Nhưng chỉ duy nơi các giáo xứ, nơi mỗi thánh đường, người tín hữu tìm kiếm sự hiện diện cách đặc biệt, riêng tư với Thiên Chúa, với vị Thầy mà đời này và đời sau họ quyết đi theo! Vì lẽ đó, chính ở nơi đây, họ cũng khao khát được chia sẻ, bồi dưỡng thêm niềm tin nơi cộng đoàn, nơi vị lãnh đạo giáo xứ. Đặc biệt, họ khao khát sự bình an đích thực được lan toả nơi những con người có bình an nội tâm trong Chúa mà không nơi đâu ở môi trường ngoài xã hội họ có thể tìm thấy.

Thầy Giêsu đã có lần dạy cho các môn đệ của Người biết rằng đời sống nội tâm là việc ăn chay và cầu nguyện thì đủ sức xua trừ cả những thứ quỷ dai dẳng bám lấy con người mà các ông đã không thể trừ khử được. Cũng thế, đời sống giáo xứ không thể chỉ là cái vỏ bên ngoài của những sinh hoạt giống như các tổ chức trần thế khác. Trái lại, nó cần được xây dựng bên trong bởi sự xác tín và bình an mà người linh mục cần sống và chia sẻ với hết thảy anh chị em giáo dân. Một số cha anh đi trước tôi vẫn thường chia sẻ rằng: không bao giờ là đủ cho một linh mục đối với đời sống nội tâm sâu xa và một xác tín đức tin mạnh mẽ thể hiện nơi sứ vụ của mình. Có lẽ rằng, đây là phẩm chất làm nên yếu tố và cấu trúc mà một người quản trị mục vụ phải lưu tâm. Thật vậy, khó có thể nói đến yếu tố đồng cảm hay một cấu trúc liên kết hợp nhất mà một cha xứ có thể làm được khi nơi ông không có sự xác tín của đức tin và bình an nội tâm. Điều đó đồng nghĩa rằng khó có thể mang Đức Kitô đến với người khác khi chính mình chưa cảm nghiệm thấy Đức Kitô trong cuộc đời.

Do vậy, có thể hiểu rằng quản trị mục vụ không phải là công việc của ‘bề nổi’. Đúng hơn, phải nói rằng công tác quản trị của người linh mục là việc nối kết các tâm hồn lại với nhau. Hiểu như thế, người linh mục ý thức hơn việc xây dựng những giá trị bên trong là sự bình an và niềm xác tín mạnh mẽ. Hẳn rằng, khi đòi những ‘người thợ làm công’ phải trả lời về ‘phận vụ’ của mình đối với ‘vườn nho’, Thiên Chúa không mong đợi nơi ‘người quản lý trung tín’ những báo cáo về xây cất nhà cửa, những hoạt động bác ái xã hội, những tiếng tăm hay những sinh hoạt rầm rộ trong giáo xứ cho bằng niềm tin và sự bình an mà họ đã xây dựng được nơi tâm hồn mỗi giáo dân! Vậy nên, chúng ta hy vọng và cầu nguyện nhiều cho các hoạt động mục vụ của những vị linh mục nơi các giáo xứ được phát xuất và triển nở từ đời sống nội tâm đầy an bình và xác tín nơi Thiên Chúa và trong thầy Giêsu.

Tóm lại

Những yếu tố, cấu trúc và phẩm chất trên đây nơi một nhà lãnh đạo mục vụ được người viết nêu lên như là những chia sẻ suy tư và có phần mang tính chủ quan. Tuy nhiên, xét trên một phương diện nào đó, những suy tư này cũng mang tính đóng góp cho một lối nhìn về người mục tử thực thi vai trò quản trị trong bối cảnh xã hội và con người hôm nay. Dẫu biết rằng xã hội Việt Nam có những nét đặc thù riêng về văn hoá-chính trị, nhưng đó không thể là ‘ngăn trở không thể vượt qua’ khiến chúng ta không dám mạnh dạn xây dựng một cái nhìn mới về phong cách, lối sống và cả thực hành tâm linh nơi những người quản trị cộng đoàn cũng như trong chính công việc quản trị.

Một cách nào đó, bài học của những nước phương Tây về một lối thực hành có phần quá ‘tục hoá’ trong việc quản trị mục vụ khiến cho vai trò của người mục tử cũng bị đánh đồng như một công chức, thì ở Việt Nam có lẽ tâm thức về việc quản trị này vẫn còn đang ở thái cực ‘quan triều’. Dường như cả hai thực trạng này đều là thái quá và bất cập đối với lý tưởng quản trị mục vụ như người mục tử nhân lành là Đức Kitô. Bởi thế, cần lắm những nhận định và tầm nhìn xa rộng để không rơi vào lối cũ của Tây phương nhưng cũng cần những tư tưởng ‘cách mạng’ hầu làm mới phong cách và con người quản trị, đặc biệt những người được gọi để sống và thi hành việc phục vụ người khác như chính thầy Giêsu đã đến và đã phục vụ!

 

Phêny Ngân Giang, OP., http://catechesis.net/