Viết Dông Dài Chữ Suy Tư

Triết gia Blaise Pascal từng nói: Người là một cây sậy yếu ớt trong thiên nhiên, nhưng là cây sậy biết suy tư: "L’homme est un roseau pensant". Nhà hiền triết René Descartes lại nói: “Je pense, donc je suis” - Tôi suy tư, vậy thì tôi tồn tại. Con người có suy tư thì mới tồn tại.  Điều này cũng đồng quan điểm với Aristote và Spinoza khi dùng lý trí để nhận biết. Sẽ dư thừa nếu chúng ta đặt những câu hỏi như: con chó, con bò, cái bàn không suy tư vậy tại sao chúng vẫn hiện hữu? Nhưng điểm cốt yếu muốn nhắm tới ở đây là nhờ có lý trí, biết suy tư mà con người có khả năng nhận biết, suy luận một thực tại hiện hữu như chính nó. Có lý trí con người sẽ nhìn con bò, phân biệt con bò, xác định những chuẩn "để con bò là con bò" chứ không phải là con dê. Và nhờ suy tư, ta hiểu cha mẹ là người sinh ra mình chứ không phải ai khác.

Vậy tại sao ta chạy trốn mà không tự thấy và còn phủ nhận rằng mình đang chạy trốn suy tư?

Có những lúc ta tự dối mình! Cũng có lúc ta tưởng tất cả không là gì, không đáng suy nghĩ tới, và ta để cho mình im lặng, không suy ngẫm, không mở lời, không luận, không bàn, không suy tư. Cuộc sống thiếu suy tư thật chẳng rõ là đang theo đà duy thụ vật chất đó sao? Có những chuyên gia trí thức thiếu suy tư thấu đáo đã đẩy xã hội theo guồng máy cơ học chết người, chết thế hệ. Một thế hệ ta bắt gặp giữa đường đi, họ dễ dàng để đầu óc trống rỗng. Có phải xã hội quá bận rộn từ sáng tinh sương, tất bật cho đến đêm về và mê mệt trong giấc ngủ mà đầu óc rơi vào trống rỗng, tâm hồn trơ? Đắng thay chuyện đó thường hiện hữu khắp nơi từ góc chợ đến cuối con đê làng. Thử nhìn vào học đường sẽ thấy học trò chúng ta tiếp thụ quá nhanh không còn giờ để suy tư, cảm nhận theo góc nhìn của riêng mình mà vay mượn của "tri thức" thiên hạ. Thức giả nhiều khi lao lực cho những mục tiêu định sẵn của người khác mà không kịp tìm cho mình ánh sáng riêng trong tâm hồn. Thói quen đối phó vội vã hay tức khắc quên đi đã mệt mỏi trí óc làm sao còn chỗ cho suy tư?

Ta để đầu óc chúng ta hoang dại như những cánh đồng hoang dại. Kỳ thực mảnh đất suy tư phì nhiêu lại là cánh đồng hoang đặt mầm cho cây cỏ, cho những vụn vặt bạc tiền, chức việc. Ngày ngày với ồn ào xe cộ, với tiếng chửi bới trên phố khiến tâm hồn ta trở nên điếc vì vốn dĩ sự nhạy cảm thính giác lương tri đã nặng nề uể oải hóa ra vô cảm, thiếu suy tư và để đầu óc trống rỗng. Ác nghiệt thay, bản chất của  ta là "suy tư". Ta có đầu óc và có khả năng lý giải, sinh ra để mà suy tư. Ôi! Chúng ta mất và để lạc mất những gì ta biết đã có hay vô tình đã có. Ta lướt qua cuộc đời phơn phớt lạc mất nội tâm. Học trò học nhồi học nhét, phải học thuộc lòng, học mà không có giờ để tiêu hóa, học đến nổi đầu óc trở nên đần độn vì không biết suy tư, không biết đặt câu hỏi, không biết sáng tạo. Ki-tô hữu đọc kinh cho thật nhiều mà không suy tư về các kinh mình đã đọc;

Ta sợ những tín đồ kinh sách đọc vanh vách không sót một chữ, nhưng lại không biết cách sống Đạo; Ta sợ người tín hữu nhuần thành nội dung sách giáo lý, nhưng lại sống như người chưa biết Đạo làm người; lại có những người giáo hữu có học thức, trích đoạn kinh văn hơn cả tu sĩ, nhưng lại lộng ngôn phạm thượng. Như vậy có phải là thiếu khiêm tốn suy tư cầu nguyện, thiếu cung cách phục vụ yêu thương, thiếu tấm lòng công bình, tính hòa nhã và thái độ vui vẻ của một người sống Đạo hơn là chỉ biết Đạo?

Trong hành trình tiến bộ của loài người thì suy tư góp phần hình thành nền tảng của mọi tri thức, của khoa học và triết học. Ngôn ngữ là sự phát biểu của suy tư. Có thứ ngôn ngữ sắc gọn như toán học, phức hợp như triết học nhưng tất cả ngôn ngữ đều dựa trên suy tư. Có thể xác tín không sợ sai lầm rằng: "suy tư là nền tảng của nền văn minh nhân loại". Bằng hoạt động của lý trí, con người có thể đạt đến tất cả những kiến giải mà các giác quan không thể. Và chỉ có tri thức dựa trên suy tư, lập luận và chứng nghiệm mới đáng tin cậy. Từ đó có thể thấy vấn đề cơ bản của triết học là sự đề cao suy tư đối lập với cảm giác.

Suy tư là đặt mình trong tâm trạng nghi vấn, suy ngẫm, đi tìm, tập dần dần ý thức chủ quan của mình, và đi đến một cảm nghiệm không thể chối cãi được. Diễn tiến sự nhận thức là một tác động của tinh thần cần phải mở ra trong những bước đi suy tư có trật tự. Suy tư mang lại những phản biện dựa trên những phân tích, lượng giá thông tin về một vấn đề đã có theo những cách nhìn khác nhau nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề; suy tư để đặt các chất vấn về những giả định, giả thiết nhằm tìm kiếm sự thật, lý lẽ rõ ràng, nhất quán về vấn đề; suy tư nhiều khía cạnh khác nhau của một vấn đề để nhận định hay khẳng định đúng sai, chứ không đơn thuần là sự tiếp nhận, duy trì thông tin một cách thụ động.

Ta biết quý trọng kiến thức ta có được khi suy nghĩ thấu đáo về một vấn đề, hiểu biết về phương pháp và suy luận có lý đi đến ước muốn tự phê phán, suy nghĩ có cân nhắc; khát vọng theo đuổi lẽ phải, khách quan, không định kiến; sự khiêm tốn, cảm thông, chính trực, kiên trì, can đảm, tự chủ và tự tin vào lẽ phải; năng lực tư duy rõ ràng, đáng tin cậy, sâu rộng, thiết thực và công bằng, v.v.

10/12/2017

L.m Paulus Nguyễn Tịnh Giang