Trong Phúc âm, Chúa Giêsu đã dặn các môn đệ là đừng kêu ai là “cha” hết, bởi vì tất cả chúng ta chỉ có một cha ở trên trời. Thế thì tại sao lại gọi các linh mục là cha?

 

Chắc rằng khi dặn các môn đệ đừng có gọi ai dưới đất là “cha”, Chúa Giêsu không hề có ý bảo họ về nhà hãy gọi ông thân sinh là “đồng chí” thay vì gọi là cha! Khi đọc Phúc âm, chúng ta thấy rằng đức Giêsu đã muốn dành riêng tiếng “Cha” cho Thiên Chúa. Lý do không những bởi vì đây là một hình ảnh mới mẻ về Thiên Chúa mà Đức Giêsu mặc khải cho nhân loại (Thiên Chúa là Cha gần gũi với chúng ta, chứ không phải là Thượng đế Ngọc hoàng ở trên chín tầng mây), mà còn vì Đức Giêsu muốn bộc lộ một mối tương quan độc đáo của mình đối với Thiên Chúa, mà Ngài gọi là “Abba”. Chúng ta hãy nhớ lại cảnh Đức Maria tìm được con mình ở đền thờ sau 3 ngày thất lạc. Bà mẹ ra như trách móc: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2,48). Thế nhưng thay vì hối hận xin lỗi, Đức Giêsu đã nhắn khéo bà mẹ rằng mình đang lo chuyện của “Cha” đấy chứ. Ông Giuse đâu có phải là cha! Vì lý do đó, không lạ gì mà Đức Giêsu rất cẩn trọng mỗi khi dùng tiếng “cha”. Từ này có ý nghĩa quá đặc biệt đối với Ngài, bởi vậy đừng nên sử dụng bừa bãi.

Chính vì vậy cho nên Chúa Giêsu đã muốn cho các môn đệ của Ngài đối xử với nhau như anh em, bởi vì tất cả đều là con cùng một “Cha”. Thế thì tại sao lại không gọi các linh mục là “anh” mà lại gọi là “cha”?

Thực ra thì trong ngôn ngữ hàng ngày, tiếng “cha” có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tôi chỉ xin lấy một thí dụ qua những sự gán ghép từ ngữ trong tiếng Việt. Tuy cùng bởi một gốc là “cha”, nhưng mà khi nghe nói tới “cha ông” (chẳng hạn truyền thống cha ông) thì “cha” mang ý nghĩa tốt đẹp; còn khi ghép “cha” với “chú” (cha chú), thì nó đã mang nghĩa xấu rồi; và thậm chí có nơi dùng tiếng “thằng cha” với giọng rất là khinh bỉ. Do đó, có thể nói được rằng người ta có thể sẵn sàng gọi các linh mục là “cha” nếu họ có tư cách giống như thân sinh của ta; nhưng chắc chắn là không ai muốn thấy các linh mục cư xử kiểu “cha chú”, bởi vì rõ ràng là trái ngược với Phúc âm. Tuy nhiên, thay vì đào sâu vào khía cạnh ngôn ngữ học, chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử của việc dùng từ “cha” trong Giáo hội. Không phải chỉ có tại Việt Nam, các linh mục mới được gọi là cha, nhưng đây là một tục lệ có trong tất cả các ngôn ngữ: Père (tiếng Pháp), Father (tiếng Anh), Padre (tiếng Tây Ban Nha, Italia, Bồ Đào Nha).

Tục lệ này đã bắt đầu từ bao giờ?

Có thể nói được là nó bắt đầu từ Thánh Phaolô. Trong các thư gửi các tín hữu, Thánh Phaolô đã gọi họ là “anh em” (hay là để khỏi mất lòng các bà, ta có thể tán thêm anh chị em thân mến”). Chúng ta có thể mở thư gửi Rôma (chương 1 câu 13) thì thấy. Thế nhưng hơn một lần Thánh Phaolô đã gọi các tín hữu là con cái (Gl 4,19; 2 Cr 6,13), và ví mình như là cha của họ (1Cr 4,15). Lý do là vì nhờ việc rao giảng Tin mừng,Thánh Nhân đã giúp cho các tín hữu tái sinh vào đời sống mới. Thánh Phaolô đã ví những lao nhọc trong công cuộc tông đồ như những đau khổ cực nhọc của cha mẹ trong việc sinh thành dưỡng dục con cái.

 

Thực ra thì đây không phải là điều gì mới lạ trong lịch sử. Tục lệ Do Thái đã gọi các ông thầy của mình là cha (kiểu như sư phụ” bên Đông phương của ta), thí dụ như ông Êlisêu đã kêu ông Êlia, thầy của mình, là “cha” (sách Các Vua, quyển 2, chương 2 câu 12).Hơn thế nữa, người Do Thái còn dùng tiếng cha không những trong tương quan cá nhân (kẻ đã sinh ra hay là đã dưỡng dục mình) mà còn trong tương quan của cả dân tộc (tương tự như người mình đôi khi nói đến cha già của dân tộc”); đó là khi họ gọi Abraham là cha của Israel, không phải cha về đàng huyết nhục cho bằng cha về đức tin. Kiểu nói này còn phản ánh trong Phúc âm theo thánh Gioan chương 8, câu 39.

Nhưng phong tục Do Thái có ảnh hưởng gì đến các Kitô hữu nữa đâu, nhất là khi mà Chúa Giêsu đã muốn dành riêng tiếng “Cha” cho Thiên Chúa?

Như đã nói trên đây, tuy rằng Chúa Giêsu đã muốn dành tiếng “Cha” cho Thiên Chúa, nhưng Ngài không hề dạy các môn đệ hãy tước quyền làm cha của các thân sinh của mình! Một cách tương tự như vậy, qua lối nói của Thánh Phaolô, ta có thể nhận ra được rằng các Kitô hữu đầu tiên cũng gọi các thầy dạy của mình là cha, nhất là khi nói tới những ông thầy không dạy chữ nghĩa văn tự cho bằng dạy đạo lý đức tin, những ông thầy giúp cho mình được tái sinh vào đời sống ơn nghĩa Chúa.

Như vậy, các linh mục được gọi là cha theo nghĩa là thầy dạy đạo lý và ban bí tích phải không?

 

Đúng thế,tuy vậy, cũng nên biết là trong lịch sử Giáo hội, tiếng “cha” không phải chỉ dành riêng cho các linh mục. Tiên vàn, có nơi đã gọi Đức Kitô là “Cha” bởi vì Ngài là thầy bậc nhất của chúng ta. Nhưng mà tục lệ này không được phổ biến cho lắm, bởi vì trong kinh nguyện phụng vụ, tiếng “Cha” đã được dành cho Thiên Chúa Cha rồi. Trong số các phần tử của Giáo hội, tiếng “cha” được dành cách riêng cho các Giám mục. Trên đây tôi có nói đến từ ngữ “cha của dân tộc” theo tục lệ Do thái. Các Kitô hữu ở các thế kỷ đầu tiên ra như cũng muốn tiếp tục truyền thống đó. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, ai đáng được liệt vào hàng “cha của dân tộc”? Thưa rằng các Giám mục khi phải bảo vệ đạo lý đức tin của Giáo hội. Từ đó, văn chương Kitô giáo nói tới hai loại cha: các “giáo phụ” và các “nghị phụ”. Trong nguyên gốc La-tinh, “giáo phụ” có nghĩa là “cha của Giáo hội” (Patres Ecclesiae), còn các “nghị phụ” có nghĩa là “cha của công đồng” (Patres Conciliares). Cả hai từ có liên lạc mật thiết với nhau. Các Giám mục đi họp công đồng được gọi là “nghị phụ” (nghĩa là cha), bởi vì họ là những người đã định nghĩa đạo lý đức tin và đời sống kỷ luật của Giáo hội, đặc biệt vào các thế kỷ đầu tiên khi mà đức tin bị tấn công về phía các lạc giáo hay người ngoại giáo. Cũng vì lý do đó mà các ngài được gọi là “Giáo phụ” (cha của Giáo hội), bởi vì không những các ngài đã đóng vai trò dậy dỗ các tín hữu, nhưng mà các ngài còn là những chứng nhân đức tin của những thế hệ đầu tiên. Vì thế có thể ví như những “cha ông” khai sơn lập quốc của Kitô giáo, những kẻ gầy dựng truyền thống Kitô giáo.

Cũng như kiểu các vị sáng lập một Dòng tu được gọi là “tổ phụ” phải không?

Đúng thế, duy có điều là nhiều khi chúng ta dùng danh từ “phụ” của Hán ngữcho nên không thấy sự liên hệ tư tưởng. Chẳng hạn chúng ta quen với tiếng “giáo phụ” mà quên rằng nó có nghĩa là “cha của Giáo hội”. Trước khi áp dụng tiếng “tổ phụ” cho những vị sáng lập các Dòng tu, văn chương Kitô giáo đã áp dụng nó cho những người khai sinh ra nếp sống tu trì trong Giáo hội. Vào thế kỷ III-IV, một số Kitô hữu đã rút lui vào sa mạc đồng hoang để sống đời cô tịch, khởi sự cho nếp sống đan tu trong Giáo hội; những người đó được gọi là các “cha của sa mạc” (pères du désert). Trong khung cảnh đó mà ta thấy xuất hiện các “cha linh hướng”, tức là những đạo sĩ già dặn kinh nghiệm có khả năng hướng dẫn người khác trên đường tiến đức. Nên lưu ý là các “cha linh hướng” không nhất thiết là linh mục, và chúng ta có thể hình dung cả các phụ nữ trong số những người ấy nữa.

Như vậy thì cũng giống với các “sư phụ” ở bên Đông phương chứ gì?

 

Tôi nghĩ như vậy đó. Trên đây tôi đã nhắc tới sự kiện là tại các trường phái ngôn sứ ở Israel, vị lãnh đạo đã được gọi là “cha”, như trường hợp ông Êlisêu kêu ông Êlia. Vì thế chúng ta không lạ gì vị lãnh đạo của một đan viện được gọi là “cha” (abbas). Tiếc rằng từ “abbas” thường được dịch là “viện phụ”, nghe trang trọng quá, khiến chúng ta quên đi nguồn gốc của nó. Người đứng đầu một đan viện được gọi là cha theo nghĩa tinh thần, bởi vì ngài đã từng trải trên đường nhân đức, và có khả năng hướng dẫn anh em mình trên đường tiến đức. Ngoài trách nhiệm lãnh đạo tinh thần, ngài cũng lo lắng phần vật chất cho các đan sĩ giống như người cha (gia trưởng) lo cơm ăn áo mặc cho con cái. Một lần nữa, cần lưu ý là các “viện phụ” (abbas, cha của đan viện) không hẳn là linh mục. Nếu là nữ giới, thì người ta sẽ gọi là “mẹ”. Từ chỗ gọi người đứng đầu một đan viện là “cha”, sang tới chỗ gọi người sáng lập một Dòng tu là “tổ phụ” bước tiến không xa lắm. “Tổ phụ” chung quy cũng là “cha” thôi! Có điều là đôi khi từ “tổ phụ” được sử dụng hơi bừa bãi. Trước đây, vị lập dòng được tôn làm tổ phụ khi họ đã làm thánh, quen gọi là “cha thánh”. Còn ngày nay chỉ cần quy tụ được dăm ba môn đệ thì đã thành tổ phụ, khi mà chưa dám chắc là cái tổ chức này sẽ bền bỉ được bao lâu!

 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP. http://catechesis.net

Gần đây nghe nói có những Dòng tu được lập cho người đã kết hôn. Đó là tin thực hay tin bịa?

Trước khi trả lời câu hỏi về tính cách xác thực của tin đồn Dòng tu lập cho người đã kết bạn, thiết tưởng nên nhớ lại câu ví ở Việt Nam: “thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Nếu tôi không lầm thì câu ví đó muốn nói rằng tu ở gia đình còn khó hơn là tu ở chùa. Hậu nhiên, nếu muốn lập công đức thì tu ở nhà đủ rồi, cần gì phải tính chuyện vào chùa mới tu được. Lắm khi nghĩ tới cảnh đêm đêm nghe bọn tí nhau khóc oe oe, tôi cũng thấy rằng quả là tu ở nhà khó hơn tu ở chùa thật! Tuy nhiên, xin tạm gác chuyện công phúc ra một bên, để bàn về chuyện người có gia đình mà xin đi tu. Vấn đề cần được xét dưới nhiều khía cạnh. Chúng ta cần phải xác định rõ ràng ý nghĩa của đời tu trì dành cho người đã có hôn thú, cũng như những giới hạn mà giáo luật hiện hành đặt ra. Kế đó chúng ta sẽ xét tới những thử nghiệm còn thăm dò. Trước tiên chúng ta hãy xem những giới hạn của giáo luật hiện hành. Một điều có lẽ hiếm ở Việt Nam nhưng đã được giáo luật chấp nhận là những người góa đi tu. Phải nhận rằng có nhiều trường hợp của các ông góa vợ đi tu hơn là trường hợp của các bà goá chồng. Thêm vào đó chúng ta có thể hiểu việc đi tu vừa theo nghĩa là làm tu sĩ vừa theo nghĩa là làm linh mục. Và tôi đã thấy trường hợp người con linh mục đồng tế với bố vào ngày ông cụ chịu chức! Một hoàn cảnh khác là các người có gia đình xin gia nhập Dòng Ba. Dĩ nhiên đây là hiểu việc đi tu theo nghĩa rộng, khi mà người chồng hoặc người vợ hoặc cả hai vợ chồng hứa tuyên giữ kỷ luật Dòng Ba (thí dụ Dòng Ba Đaminh, Phanxicô, Carmêlô). Đôi khi họ cũng được lãnh tu phục (nhất là các bà), nhưng điều này không có nghĩa là họ trở thành tu sĩ. Hội Dòng Ba cũng tương tự như những hội đoàn tông đồ giáo dân khác nhằm mục đích giúp cho các giáo dân sống ơn gọi thánh thiện hoặc tham gia vào sinh hoạt tông đồ, chứ không phải là tu hội. Đó là hai hình thức cổ truyền theo giáo luật mà ta có thể nói tới chuyện đi tu của những người đã lập gia đình, tức là hoặc vì người bạn đã qua đời hay chỉ là hình thức Dòng Ba.

Thế còn bây giờ người ta muốn tiến tới đâu nữa?

Người ta muốn tiến tới chỗ là những người tuy đã lập gia đình và người bạn mình còn sống, có thể được tận hiến theo nghĩa chặt chứ không phải chỉ như hội viên Dòng Ba.

Như vậy là họ muốn bắt cá hai tay, vừa muốn đi tu vừa muốn có gia đình. Tại sao không chọn lựa dứt khoát một đường cho xong mà lại muốn đứng chân trong chân ngoài như vậy?

Thiết tưởng chúng ta đừng vội phán đoán trước khi tìm hiểu tất cả những lý do và động lực của hình thức tu trì dành cho những người đã lập gia đình. Dĩ nhiên, không thể nào chấp nhận cho các tu sĩ đã khấn hứa khiết tịnh trọn đời và sau đó lại còn muốn kết hôn. Đây quả đúng là muốn bắt cá hai tay: nếu người tu sĩ nào cảm thấy không có khả năng sống lời cam kết độc thân thì họ sẽ xin tháo lời khấn để đi kết bạn, chứ không thể vừa mang danh là tu sĩ mà lại vừa là người có gia đình. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra cho những người đã lập gia đình mà muốn sống theo những yêu sách triệt để của Phúc âm. Vấn đề được gợi lên với một cái nhìn mới về giá trị hôn nhân. Trước đây, người ta cho rằng việc nên thánh được dành cho các tu sĩ, những người được ơn kêu gọi dâng mình cho Chúa. Còn những người tầm thường, không thể giữ mình khiết tịnh được thì đành an phận đi kết bạn sinh con đẻ cái. Với một quan niệm như vậy, các đôi vợ chồng khỏi cần phải nghĩ đến chuyện nên thánh làm gì. Họ ráng sao giữ trọn mười điều răn để rỗi linh hồn là đủ rồi. Thế nhưng công đồng Vaticanô II đã sửa đổi não trạng đó. Tất cả các tín hữu đều được kêu gọi nên thánh, bất kỳ là người độc thân hay đã lập gia đình. Hậu nhiên các tín hữu không nên dừng lại ở mức độ tầm thường (lo tránh tội trọng kẻo sa hỏa ngục), nhưng cần cố gắng tiến tới đức ái trọn hảo nữa.

Như vậy là công đồng khuyến khích các người có đôi bạn hãy đi tu, có phải không?

Không phải như vậy. Công đồng không có ý định bảo rằng nếu các tín hữu muốn nên trọn lành thì phải từ bỏ vợ con để đi tu! Việc nên thánh hệ tại thực hành đức ái, đặc biệt qua việc sống các mối phúc thật. Mặt khác, không thể chối cãi được rằng trải qua dòng lịch sử, sự thánh thiện Kitô giáo gắn liền với việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời. Từ đó chúng ta có thể hiểu được lý do vì sao có chuyện những người đã kết bạn mà còn muốn đi tu. Dĩ nhiên là họ không chủ ý bỏ bê chuyện gia đình để rút lui vào tu viện kín cổng cao tường, nhưng họ muốn tìm cách để sống các mối Phúc thật (cách riêng 3 lời khuyên Phúc âm) trong bậc hôn nhân.

Nhưng đó mới là dự án hay là đã có được áp dụng?

Đã có vài thí nghiệm rồi. Những cuộc thí nghiệm này cũng có đà tiến triển của nó. Những bước đầu tiên đã có vào thập niên 50, kể từ khi các Tu hội đời được Toà thánh châu phê. Như chị đã biết, các hội viên Tu hội đời sống lăn lộn giữa đời chứ không rút lui vào tu viện; họ làm nghề nghiệp như bao nhiêu người khác, chứ không có những cơ sở chung. Vài Tu hội đời đã dự trù hai loại hội viên: những hội viên theo nghĩa chặt, phải tuyên hứa giữ khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời; những hội viên theo nghĩa rộng thì bao gồm cả những người đã lập gia đình, lúc đầu thì được thâu nhận từng người một, về sau thì cả đôi đều xin được kết nạp. Sang bước thứ hai, các Tu hội đời ước ao cho những người đã kết bạn cũng được kết nạp như phần tử chính danh, với đầy đủ các nghĩa vụ và bổn phận. Bộ Tu sĩ đã phải can thiệp vào năm 1975, không chấp nhận giải pháp này. Bộ giáo luật ban hành năm 1983 cũng duy trì lập trường đó ở đ.721 $1, số 3. Thấy rằng lối này bị cụt, người ta xoay qua lối khác. Một vài Dòng tu đứng ra lập cộng đoàn trong đó có ba nhóm: các người độc thân nam và nữ, các người có đôi bạn cùng với con cái của họ. Dần dần, người ta tiến thêm một bước nữa là chỉ lập những cộng đoàn dành riêng cho những đôi vợ chồng (dù có con hay không). Dĩ nhiên ta có thể hình dung được rằng cách tổ chức những cộng đoàn như vậy không có tính cách chặt chẽ như là các tu viện. Dù sao thì những hình thức cộng đoàn này còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, và thường chỉ gồm trên dưới chừng 10 cặp hôn nhân.

Liệu trong tương lai các cộng đoàn này sẽ có cơ hội bành trướng hay không?

Tôi không phải là tiên tri nên không dám dự đoán tương lai. Chỉ xin ghi nhận những vấn nạn mà các nhà thần học và giáo luật đang tranh luận. Vấn nạn quan trọng nhất không phải là bắt cá hai tay (vừa muốn lập gia đình lại còn muốn đi tu). Nhưng vấn nạn quan trọng nhất là ý nghĩa của lời khấn khiết tịnh. Xưa nay, học thuyết cũng như quan niệm bình dân đặt sự độc thân như là yếu tố căn bản của lời khấn khiết tịnh tu trì. Thế thì làm sao áp dụng cho những người đã kết bạn và tiếp tục duy trì đời hôn nhân? Để giải quyết vấn nạn này, người ta đưa ra hai giả thuyết thế này: 1) Sự độc thân không phải là cốt yếu của lời khuyên khiết tịnh: có thứ khiết tịnh trong bậc độc thân cũng như có thứ khiết tịnh trong bậc vợ chồng. 2) Khi khấn khó nghèo, tu sĩ dâng cho Chúa khả năng chiếm hữu và sử dụng tài sản, nhưng điều này không có nghĩa là họ sẽ không bao giờ đụng tới tài sản. Họ vẫn có thể và cần phải sử dụng tài sản, tuy rằng không phải như là tư hữu của mình nữa nhưng như là của Chúa. Một cách tương tự như vậy, những người đã có đôi bạn có thể khấn khiết tịnh với Chúa, nghĩa là dâng hiến người bạn trăm năm cho Chúa, và rồi sau đó lại lãnh nhận không phải như là người yêu độc hữu của mình nữa, song như là món quà của Chúa, được ban như người bạn đường của mình.

Những ý kiến đó có được Giáo hội chấp nhận không?

Chắc chắn là nhà chức trách của Giáo hội vui mừng vì thấy có những đôi hôn nhân muốn dấn thân trên đường trọn lành và trên đường phụng sự Nước Chúa. Nhưng cho đến nay, Giáo hội không xếp họ vào hàng ngũ tận hiến. Lập trường của Giáo hội được bày tỏ trong tông thư của đức Gioan Phaolô II về đời sống tận hiến, ở số 62. Đức Thánh Cha cũng nhắc cho các đôi vợ chồng nhớ là bí tích hôn nhân cũng là một hình thức thánh hiến, do đó không nên trà trộn với sự thánh hiến qua việc tuân giữ sự khiết tịnh độc thân.

 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP. http://catechesis.net

LINH MỤC THÁNH THIỆN - NIỀM MONG ƯỚC LỚN NHẤT CỦA MỌI GIÁO DÂN

Aug. Trần Cao Khải

linh muc thanh thien niem mong uoc lon nhat cua moi giao dan

WHĐ (13.6.2021) – Ngày 6-6-2021 vừa qua, nhân dịp lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su, Đức TGM Saigon Giu-se Nguyễn Năng đã viết một thư gửi các linh mục trong Tổng Giáo phận với chủ đề “Linh mục nên thánh”. Mở đầu lá thư, Đức Tổng Giu-se nhắc lại sự kiện là Đức Thánh GH Gio-an Phao-lô II đã đặt lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su là ngày cầu xin ơn thánh hóa các linh mục và ngài đã nhấn mạnh: “Hơn ai hết và trước mọi người, các linh mục nên thánh để giúp Dân Chúa nên thánh.[1]

MỘT THẦN HỌC TRUYỀN GIÁO CHO HÔM NAY (PHẦN IV)

TRUYỀN GIÁO NHƯ ĐỐI THOẠI NGÔN SỨ

Tác giả: Stephen B. Bevans, SVD và Roger P. Schroder, SVD
Chuyển ngữ: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên

truyen giao nhu doi thoai ngon su

Mục lục

I. Chứng tá và rao giảng như là đối thoại ngôn sứ

       1. Chứng tá

       2. Rao giảng

II. Phụng vụ, cầu nguyện và chiêm niệm như là đối thoại ngôn sứ

       1. Phụng vụ

       2. Cầu nguyện và Chiêm niệm

III. Công lý, hoà bình và sự toàn vẹn của tạo thành như là đối thoại ngôn sứ

       1. Công lý

       2. Hoà bình

       3. Sự toàn vẹn của tạo thành

WHĐ (12.6.2021) – Ba phần trước đã trình bày một tổng quan về ba dòng thần học truyền giáo cơ sở trong phần tư cuối của thế kỷ XX: truyền giáo như là tham dự vào đời sống và sứ vụ của Ba Ngôi; truyền giáo như là tiếp nối sứ vụ của Đức Giêsu trong việc rao giảng, phục vụ và làm chứng về công lý của Nước Thiên Chúa “đã có” nhưng “vẫn chưa” [hoàn thành]; và truyền giáo như là rao giảng Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát. Chúng tôi tin rằng ba dòng thần học này cũng sẽ có giá trị như là những yếu tố của một tổng hợp thần học truyền giáo nổi bật cho những năm đầu của thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ 3 này. Chúng tôi đề nghị gọi tổng hợp này là đối thoại ngôn sứ.[1]

Giải Đáp Hôn Nhân & Gia Đình

Số 08 – Ngăn Trở Tiêu Hôn
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Đặc ân thánh Phêrô-Giải Đáp Hôn Nhân
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Thủ tục xin kết hôn-Giải Đáp Hôn Nhân
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Ly Thân Theo Giáo Luật-Giải Đáp Hôn
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Đặc ân thánh Phaolô - Giải Đáp Hôn Nhân
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Chuẩn hôn nhân khác đạo có phải học
Giải Đáp Hôn Nhân ...
Hôn nhân khác đạo có phải là Bí Tích
Giải Đáp Hôn Nhân ...

Hạt Giống Tâm Linh

Hạt Giống Tâm Linh 02
HẠT GIỐNG TÂM LINH 11
HẠT GIỐNG TÂM LINH 04
HẠT GIỐNG TÂM LINH 06
HẠT GIỐNG TÂM LINH 07
HẠT GIỐNG TÂM LINH 08
HẠT GIỐNG TÂM LINH 09
HẠT GIỐNG TÂM LINH 10
HẠT GIỐNG TÂM LINH 05
HẠT GIỐNG TÂM LINH 03
HẠT GIỐNG TÂM LINH 12

Đang Trực Tuyến

Đang Online

We have 124 guests and no members online

  • 311/14/9 đường 30/4, P.Phú Thọ,
    Tp Thủ Dầu Một, Bình Dương
  • This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
  • 0274 3822 586
  • mfvietnam.org