Mục Tiêu Của Việc Loan Báo Tin Mừng Có Phải Chỉ Là Để Thắng Trong Các Cuộc Tranh Luận Không?
Nguồn: Aleteia.org
Chúng ta rất dễ bị cám dỗ nghĩ rằng sứ mạng chính yếu của người Công giáo là phải có lập luận hay hơn, để thuyết phục người khác rằng điều họ tin là sai.
Sống trong một thế giới bị phân cực bởi các bình luận trên mạng xã hội và những cuộc tranh luận trên YouTube, người ta có thể nghĩ rằng loan báo Tin Mừng là một hoạt động trong đó ta tranh cãi với người khác cho đến khi họ chịu nhận thua.
Chúng ta thường mặc nhiên cho rằng điều này là đúng, dựa trên số lượng lớn các “nhân vật có sức ảnh hưởng” trên mạng xã hội (trong đó có không ít linh mục Công giáo), những người "nói lên sự thật" bằng cách đánh gục những người lạc đạo bằng những lập luận "đầy sức thuyết phục" của họ. Đôi khi, việc trình bày sự thật và chỉ ra những sai lầm trong các quan điểm đối nghịch là điều tuyệt vời. Đó vốn là một phần công việc mà các thánh đã thực hiện kể từ thuở sơ khai của Giáo hội.
Nhưng trong thời đại ngày nay, đôi khi việc thóa mạ người khác lại trở nên bình thường, với suy nghĩ rằng đối phương cuối cùng sẽ nhận ra sự ngu ngốc và thấy được sai lầm của họ.
Liệu đó có phải là ý nghĩa thực sự của việc loan báo Tin Mừng không?
Chinh phục linh hồn, không phải chinh phục lý lẽ
Arthur Brooks, tác giả có sách bán chạy nhất của tờ New York Times và là giáo sư đại học Harvard, gần đây đã chỉ ra sai lầm trong định nghĩa này về truyền giáo trong bài diễn thuyết tại hội nghị SEEK26. Ông giải thích: "Bạn sẽ gặp những người tấn công bạn và những gì bạn cho là đúng... và khi điều đó xảy ra, sẽ có một sự cám dỗ, một sự cám dỗ muốn đánh trả, dùng lửa để trị lửa."
Tuy nhiên, Brooks tiếp tục: "Đó là cách tiếp cận sai lầm đối với một người truyền giáo, bởi vì nhiệm vụ của bạn không phải là thắng các cuộc tranh luận. Mà là chinh phục các linh hồn."
Điều mấu chốt cần nhớ, theo giải thích của Brooks, là: "Ngay cả khi bạn thắng một cuộc tranh luận bằng một lý lẽ tốt hơn, bạn vẫn chưa chinh phục được một linh hồn."
Loan báo Tin Mừng, tự bản chất, là dẫn đưa con người đến cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô. Công việc của chúng ta là cho người khác thấy tình yêu của Đức Kitô, chứ không phải chỉ ra những điểm thiếu nhất quán trong niềm tin của họ.
Thánh Gioan Phaolô II cũng đã tóm lược cách hiểu tương tự về việc loan báo Tin Mừng trong thông điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế):
Nước Thiên Chúa không phải là một khái niệm, một học thuyết hay một chương trình có thể được diễn giải tùy ý, nhưng trước hết và trên hết là một con người, với dung mạo và danh xưng là Đức Giêsu thành Nadarét, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Nếu Nước ấy bị tách khỏi Đức Giêsu, thì đó không còn là Nước Thiên Chúa mà Người đã mạc khải nữa. Hậu quả là ý nghĩa của Nước bị bóp méo, có nguy cơ bị biến thành một mục tiêu thuần túy nhân loại hay ý thức hệ; đồng thời căn tính của Đức Kitô cũng bị sai lệch, Người không còn xuất hiện như là Chúa, Đấng mà muôn loài phải quy phục.
Để trở thành một nhà truyền giáo thực thụ và hiệu quả, chúng ta cần phản chiếu tình yêu của Đức Kitô cho người khác, như Thánh Gioan Phaolô II giải thích:
Không thể làm chứng cho Đức Kitô nếu không phản chiếu hình ảnh của Người, hình ảnh được làm sống động trong chúng ta nhờ ân sủng và quyền năng của Thánh Thần. Sự ngoan ngùy ấy thúc đẩy chúng ta đón nhận các ân huệ của sức mạnh và sự phân định, là những yếu tố thiết yếu của linh đạo truyền giáo.
Chúng ta cần nhớ rằng, dù có vẻ như chúng ta cần một lý lẽ thuyết phục để hoán cải gia đình hay bạn bè, thì vũ khí mạnh mẽ nhất chính là yêu thương họ bằng tình yêu của Đức Kitô.
Sau đây là một suy tư của Đức Bênêđictô XVI về đối thoại:
Đúng là đối thoại không nhằm trực tiếp đến việc hoán cải, nhưng nhằm đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau tốt hơn – điều đó là chính xác. Tuy nhiên, việc tìm kiếm tri thức và sự hiểu biết luôn phải bao hàm việc tiến gần hơn tới chân lý. Vì thế, cả hai phía, trong tiến trình từng bước tiếp cận chân lý, đều đang bước đi trên con đường dẫn tới sự tiến triển và sự đồng thuận lớn hơn, được tạo nên bởi tính duy nhất của chân lý.
Về việc bảo toàn căn tính, đối với người Kitô hữu, sẽ là quá ít nếu chỉ khẳng định căn tính của mình theo cách khiến con đường dẫn tới chân lý bị chặn lại. Khi đó, Kitô giáo sẽ có vẻ như một điều gì đó tùy tiện, thuần túy là mệnh đề. Người Kitô hữu sẽ dường như không tính đến khả năng rằng tôn giáo gắn liền với chân lý.
Trái lại, tôi cho rằng người Kitô hữu có thể hoàn toàn vững tin, thậm chí xác tín tận căn rằng mình có thể tự do ra khơi trên đại dương mênh mông của chân lý, mà không phải sợ hãi cho căn tính Kitô giáo của mình. Quả thật, chúng ta không sở hữu chân lý; chính chân lý sở hữu chúng ta: Đức Kitô, Đấng là Chân Lý, đã nắm tay chúng ta, và chúng ta biết rằng tay Người đang giữ chúng ta vững vàng trên con đường tìm kiếm tri thức.
Được bàn tay của Đức Kitô nắm giữ trong lòng, chúng ta vừa tự do vừa an toàn: tự do – bởi vì khi được Người giữ lấy, chúng ta có thể bước vào bất kỳ cuộc đối thoại nào cách cởi mở và không sợ hãi; an toàn – bởi vì Người sẽ không buông tay chúng ta, trừ khi chính chúng ta tự tách mình khỏi Người. Hiệp nhất với Người, chúng ta đứng trong ánh sáng của chân lý.
Văn Phương – Ban Dịch thuật MFVN chuyển ngữ
